Tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy trong luật hình sự Việt Nam 2 - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ HỒNG MINH
TỘI CƯỠNG BỨC, LÔI KÉO NGƯỜI KHÁC SỬ
DỤNG TRÁI PHÉP CHẤT MA TUÝ TRONG
LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội – 2010
Hà Nội – 2010 2
LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các
kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào
khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác,
tin cậy và trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán
tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia
Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể
bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn! NGƢỜI CAM ĐOAN Nguyễn Thị Hồng Minh
3
MỤC LỤC



1.1.2.1.
Khách thể của tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử
dụng trái phép chất ma tuý
24

1.1.2.2.
Mặt khách quan của tội cưỡng bức, lôi kéo người khác
sử dụng trái phép chất ma tuý
32

1.1.2.3.
Mặt chủ quan của tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử
dụng trái phép chất ma tuý:
39

1.1.2.4.
Chủ thể của tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng
trái phép chất ma tuý
44

4

1.1.2.5.
Trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với tội cưỡng bức,
lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma tuý
50
1.2.
Phân biệt tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái
phép chất ma túy với một số tội phạm khác

2.1.2.
Đặc điểm tâm lý lứa tuổi
71

2.1.3.
Trình độ nhận thức và điều kiện kinh tế
72

2.1.4.
Công tác quản lý cai nghiện và sau cai nghiện chưa đạt
hiệu quả
74

2.1.5.
Môi trường văn hóa, giáo dục
76
2.2.
Thực trạng tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng
trái phép chất ma tuý
80

2.2.1.
Tình hình tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái
phép chất ma tuý trong thời gian từ năm 2000 - 2008
80

2.2.2.
Một số vướng mắc trong thực tiễn xét xử tội cưỡng bức,
87



.
3.1.4.
Mô hình lý luận của tội phạm cưỡng bức, lôi kéo người
khác sử dụng trái phép chất ma tuý trong pháp luật hình
sự Việt Nam
110

3.2.
Nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định pháp luật hình
sự đối với tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng
trái phép chất ma túy
113
KẾT LUẬN
120
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
122 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT CHXHCN: Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
BLHS: Bộ luật hình sự
LHS: Luật hình sự
PLHS: Pháp luật hình sự
TNHS: Trách nhiệm hình sự
TAND: Toà án nhân dân

2008)

87
8
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Xã hội loài người không ngừng vận động nhằm hướng tới những giá trị
văn minh mà ở đó con người được bảo vệ, phát triển toàn diện về thể chất và
trí tuệ. Tuy nhiên con đường để xây dựng một xã hội văn minh không hề đơn
giản. Tệ nạn ma tuý đã và đang là hiểm hoạ lớn cho toàn xã hội, gây tác hại
cho sức khoẻ, làm suy thoái nòi giống, phẩm giá con người, phá hoại hạnh
phúc gia đình, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự an toàn xã hội và an
ninh quốc gia. Trong bối cảnh toàn cầu hoá, ma tuý dường như không còn
ranh giới quốc gia. Cùng với sự lan tràn tệ nạn này là sự gia tăng của tội phạm
ma tuý. Vì vậy, pháp luật hình sự đã quy định các chế định tội phạm và hình
phạt là công cụ sắc bén để đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, góp phần
quan trọng vào việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, bảo vệ trật
tự xã hội và an ninh quốc gia.
Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam luôn thể hiện thái độ
kiên quyết đấu tranh đối với tội phạm ma tuý nói riêng và tội phạm nói chung.
Điều này được khẳng định ngay từ đạo luật cơ bản của nhà nước - Hiến pháp
năm 1992, quy định tại Điều 61. Cụ thể hoá Hiến pháp, Luật hình sự có nhiều
quy định nhằm ngăn chặn tệ nạn xã hội nguy hiểm này trong đó có quy định
tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma tuý được ghi
nhận tại Điều 200 Bộ luật Hình sự năm 1999.
Cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma tuý là một
hiện tượng phổ biến trong xã hội. Nghiên cứu trực tiếp số đối tượng sử dụng

quy phạm về tội phạm này trong giai đoạn hiện nay có ý nghĩa lý luận, thực
tiễn và pháp lý quan trọng. Đây cũng chính là lý do luận chứng để “Tội cưỡng

10
bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma tuý trong luật hình sự Việt
Nam” được chọn làm đề tài luận văn thạc sĩ luật học.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong khoa học pháp lý hình sự Việt Nam chưa có một công trình khoa
học nào nghiên cứu một cách cụ thể, khoa học và có hệ thống về tội cưỡng
bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy dưới góc độ là một đề
tài riêng biệt, tách rời các nhóm tội phạm ma túy. Mục đích và phạm vi đề tài
này đã được tiếp cận ở những mức độ khác nhau. Có thể kể đến các bài viết
đăng trên các tạp chí chuyên ngành như “Những quy định BLHS đối với các
tội phạm ma túy” và “Một số bất cập, kiến nghị đối với các quy định của
BLHS về tội phạm ma túy” của T.S Phạm Minh Tuyên đăng trên Tạp chí
TAND số 17, số 18 năm 2005. Các bài viết này có đề cập đến một số khía
cạnh về kỹ thuật lập pháp của các tội phạm ma túy trong đó có tội cưỡng bức,
lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy.
Bên cạnh đó, một số công trình khoa học cũng ít nhiều đề cập đến tội
cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy. Đó là: Luận án
tiến sĩ Luật học của tác giả Phạm Minh Tuyên – Viện Nhà nước và pháp luật
năm 2006 về “Trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về ma túy trong Luật
hình sự Việt Nam”; Luận án tiến sĩ Luật học của tác giả Vũ Quang Vinh -
Trường Học viện cảnh sát nhân dân năm 2002 về “Hoạt động phòng ngừa
các tội phạm về ma túy của lực lượng cảnh sát nhân dân”. Một số công trình
nghiên cứu được xuất bản thành sách chuyên khảo như: “TNHS đối với tội
phạm về ma túy” của tác giả Trần Văn Luyện, NXB Chính trị quốc gia, năm
1998, “Các tội phạm về ma túy” của tác giả Nguyễn Phong Hòa, NXB Công
an nhân dân, năm 1998 Tuy nhiên, hầu hết các công trình kể trên nghiên
cứu nhóm các tội phạm ma túy nói chung và chủ yếu được nghiên cứu dưới


12
tỏ bản chất pháp lý và những nội dung cơ bản của tội phạm này theo quy định
luật hình sự Việt Nam.
Về mặt thực tiễn: Trên cơ sở nghiên cứu, đánh giá việc xét xử trong thực
tiễn những vấn đề liên quan đến tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng
trái phép chất ma túy: Định tội danh, hình phạt đồng thời phân tích những
tồn tại xung quanh việc quy định trên phương diện lý luận với thực tiễn áp
dụng nhằm luận chứng sự cần thiết phải hoàn thiện và đưa ra các giải pháp
hoàn thiện quy định của pháp luật hình sự về tội cưỡng bức, lôi kéo người
khác sử dụng trái phép chất ma túy, nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định
pháp luật hình sự đối với tội phạm này trong giai đoạn hiện nay.
3.3. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về tội cưỡng bức,
lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy trong Bộ luật hình sự Việt
Nam năm 1999 dưới góc độ của luật hình sự. Cụ thể là: Nội dung, ý nghĩa,
điều kiện áp dụng các quy định của pháp luật hình sự về tội cưỡng bức, lôi
kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy theo pháp luật hình sự Việt
Nam trong giai đoạn hiện nay.
4. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa Mác
– Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và những quan điểm của Đảng Cộng sản Việt
Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về tội phạm ma túy nói
chung hay tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy
nói riêng theo quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999.
Trong quá trình thực hiện luận văn, tác giả đã sử dụng các phương pháp
nghiên cứu cụ thể như: thống kê, phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu

13
5. Những đóng góp mới về mặt khoa học của luận văn

luận văn gồm có 3 chương và được chia thành mục với cơ cấu như sau:
Chương 1: Một số vấn đề chung về tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử
dụng trái phép chất ma túy
Chương 2: Thực trạng tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái
phép chất ma túy
Chương 3: Một số đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật hình sự nhằm
nâng cao hiệu quả phòng, chống tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng
trái phép chất ma túy

15
CHƢƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI CƢỠNG BỨC, LÔI
KÉO NGƢỜI KHÁC SỬ DỤNG TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY THEO BỘ
LUẬT HÌNH SỰ NĂM 1999

1.1. Khái niệm và các dấu hiệu pháp lý của tội cƣỡng bức, lôi kéo
ngƣời khác sử dụng trái phép chất ma túy
1.1.1. Khái niệm tội cƣỡng bức, lôi kéo ngƣời khác sử dụng trái phép
chất ma tuý
Cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma tuý là hiện
tượng tiêu cực trong xã hội, một trong những nguyên nhân làm lan tràn tệ nạn
ma tuý, đe doạ quyền tự do, quyền được bảo vệ sức khoẻ của con người.
Quyền con người là một trong những quyền cơ bản luôn được coi trọng, đảm
bảo cho con người được phát triển toàn diện về thể chất và trí tuệ, đẩy lùi và
xoá bỏ tệ nạn xã hội trong đó có tệ nạn ma tuý là mục tiêu hàng đầu trong mọi
giai đoạn phát triển của nhà nước ta. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định nhiệm vụ của toàn đảng, toàn dân:
“Phòng chống, đẩy lùi các tệ nạn xã hội đặc biệt là ma tuý (…). Xử lý nghiêm
theo pháp luật những hành động gây tệ nạn xã hội”. Vì vậy, quy định tội
cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma tuý trong BLHS
Việt Nam có ý nghĩa quan trọng, là công cụ sắc bén của nhà nước để thực

theo tội buôn bán hàng cấm (Điều 166). Hành vi cưỡng bức, lôi kéo người
khác sử dụng trái phép chất ma tuý đã có trên thực tế nhưng chưa được chính
thức quy định là một tội phạm độc lập. Đây chỉ là một mắt xích, một dạng
hành vi trong chuỗi các hành vi khách quan của tội tổ chức dùng chất ma tuý
quy định tại Điều 203 BLHS năm 1985. Qua thực tiễn xét xử cho thấy, việc
quy định có tính chất khái quát chung cho nhiều loại hành vi như vậy sẽ

17
không làm rõ được những tình tiết cụ thể cũng như mức độ nguy hiểm của
từng loại hành vi. Trên thực tế, xuất phát từ những lý do khác nhau, người
phạm tội không chỉ dừng lại ở chỗ tổ chức dùng chất ma tuý đơn thuần mà
còn dùng nhiều thủ đoạn khác nhau để có thể lôi kéo, cưỡng bức người khác
dùng chất ma tuý. Về mặt khách quan, hành vi này khác hành vi tổ chức
dùng chất ma tuý quy định tại Điều 203 BLHS năm 1985. Do vậy, để đáp ứng
yêu cầu điều tra, truy tố, xét xử tội phạm ma tuý, Luật sửa đổi, bổ sung một số
điều của BLHS năm 1985 được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam thông
qua ngày 10/5/1997 đã sửa đổi, cá thể hoá hành vi, tạo cơ sở để cá thể hóa
TNHS và hình phạt. Tại Chương VII
A
“Các tội phạm về ma tuý” của Luật sửa
đổi, bổ sung gồm 14 điều, trong đó có 13 điều quy định tội phạm (từ Điều
185a đến Điều 185n) và một điều quy định hình phạt bổ sung (Điều 185o).
Luật sửa đổi tách Điều 96a thành bốn tội riêng biệt: Tội sản xuất trái phép
chất ma tuý (Điều 185b), tội tàng trữ trái phép chất ma tuý (Điều 185c), tội
sản xuất trái phép chất ma tuý (Điều 185d), tội mua bán trái phép chất ma tuý
(Điều 185đ); Có tám hành vi mới được quy định là tội phạm ma tuý, trong đó
có hành vi cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma tuý được
chính thức quy định thành một tội danh riêng với hình phạt tù từ 2 năm đến 7
năm.
Trong lần thứ hai pháp điển hóa LHS Việt Nam, tội cưỡng bức, lôi kéo

1985 (sửa đổi năm 1997), BLHS năm 1999 và các văn bản hướng dẫn thi
hành cho thấy:
Thứ nhất, tội phạm ma tuý nói chung và tội cưỡng bức, lôi kéo người
khác sử dụng trái phép chất ma tuý nói riêng được quy định trong chương
“Các tội phạm về ma tuý” chứ không được quy định rải rác như trong BLHS
năm 1985. Điều này là hợp lý. Bởi lẽ, việc phân ra các chương về các tội
phạm cụ thể dựa trên sự phân loại các khách thể loại xâm phạm của tội phạm.
Tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma tuý là một tội

19
phạm ma tuý cụ thể, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý và sử dụng chất
ma túy của nhà nước, quyền tự do, sức khoẻ của con người, xâm phạm đến
trật tự, an toàn xã hội và làm lan tràn tệ nạn nghiện hút. Đây cũng chính là
khách thể của tội phạm này- những quan hệ xã hội được Luật hình sự bảo vệ.
Thứ hai, tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma
tuý là hành vi nguy hiểm cho xã hội. BLHS năm 1999 đã xoá bỏ hình phạt tử
hình đối với tội phạm này, đồng thời áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ
sung. Điều đó không có nghĩa là thái độ xử lý nghiêm khắc của nhà nước
không còn hay việc đánh giá mức độ, tính chất nguy hiểm cho xã hội của loại
tội phạm này giảm đi mà vấn đề ở đây thuộc chính sách hình sự, chính sách
nhân đạo của nhà nước. Mặt khác, quy định trên xuất phát từ một trong những
đặc điểm của tội phạm ma tuý: Động cơ phạm tội là vì lợi nhuận cao. (Vì lợi
nhuận siêu ngạch của ma tuý, người phạm tội bất chấp tất cả để thực hiện tội
phạm hay nói cách khác tội phạm luôn được thực hiện với lỗi cố ý).
Thứ ba, tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma
túy được quy định tại Điều 200 BLHS năm 1999, đây là điều luật quy định
đối với nhiều hành vi phạm tội mà mỗi hành vi lại có đủ yếu tố cấu thành một
tội phạm (Điều 200 BLHS quy định hai tội phạm cụ thể: Tội cưỡng bức người
khác sử dụng trái phép chất ma túy và Tội lôi kéo người khác sử dụng trái
phép chất ma túy). Trong trường hợp các hành vi này có liên quan chặt chẽ

với tệ nạn nghiện hút trong xã hội. Nghiên cứu khái niệm tội phạm này có
nhiều quan điểm khác nhau được nhìn nhận từ nhiều khía cạnh.
Xét từ khía cạnh đạo đức, tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái
phép chất ma túy là một hành động phi đạo đức. Bản thân hành vi sử dụng
trái phép chất ma túy đã là một hành vi nguy hiểm cho xã hội, bị pháp luật

21
hình sự nghiêm cấm được quy định tại Điều 199 BLHS năm 1999 Tội sử
dụng trái phép chất ma túy. Việc sử dụng chất ma túy được coi là trái phép
khi một người sử dụng thuốc phiện, hêroin, cocain hoặc các chất ma túy khác
kể cả một số loại thuốc tân dược có chứa chất ma túy như Morphine,
Dolargan nhằm mục đích kích thích cảm giác khoái lạc. Trường hợp này
khác với trường hợp vì yêu cầu chữa bệnh và theo chỉ định của bác sĩ một
người có thể phải dùng một số loại tân dược có chứa hàm lượng ma túy như
Morphine, Dolargan, trường hợp này không bị coi là sử dụng trái phép chất
ma túy [16, tr 83]. Nhà nước nghiêm cấm mọi hành vi sử dụng trái phép chất
ma túy. Chủ thể nào cố tình vi phạm sẽ bị áp dụng biện pháp cưỡng chế của
nhà nước. Các đối tượng cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép
chất ma túy tức là cưỡng bức, lôi kéo người khác thực hiện hành vi vi phạm
pháp luật hình sự, trái với luân thường đạo lý, trái các nguyên tắc đạo đức con
người và xã hội.
Xét từ khía cạnh kinh tế, cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái
phép chất ma túy là hành vi nhằm mục đích trục lợi cá nhân. Nghiên cứu thực
tế số người có hành vi rủ rê, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy
(bao gồm cả những đối tượng chưa đến mức bị xử lý về hình sự) phần lớn là
các đối tượng nghiện hút rủ rê người khác sử dụng ma túy để được thưởng ma
túy, mua rẻ ma túy, và các đối tượng mua bán ma túy lôi kéo các đối tượng
mua ma túy để sử dụng. Bởi tính chất siêu lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh
ma túy nên loại tội phạm này không ngừng gia tăng.
Xét từ khía cạnh xã hội, đây là một trong những nguyên nhân chủ yếu

phạm tội. Người nào phạm tội quy định tại Điều 200 BLHS tùy theo mức độ
phạm tội sẽ phải chịu TNHS, bị áp dụng hình phạt hoặc có thể bị áp dụng các

23
biện pháp cưỡng chế về hình sự khác (các biện pháp tư pháp chung và các biện
pháp tư pháp được áp dụng riêng đối với người chưa thành niên bị kết án).
Thứ ba, tội phạm cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất
ma túy có thể được thực hiện bởi bất cứ chủ thể nào, trong không gian, thời
gian nào. Đó có thể là người phạm tội mua bán trái phép chất ma túy hoặc
cũng có thể là con nghiện nhưng chủ thể của tội phạm bao giờ cũng phải là
người có năng lực trách nhiệm hình sự (TNHS). Theo Luật Hình sự Việt
Nam, người có năng lực TNHS là người đạt độ tuổi chịu TNHS (Điều 12
BLHS) và không thuộc trường hợp trong tình trạng không có năng lực TNHS
(Điều 13 BLHS). Với việc quy định như vậy LHS Việt Nam mặc nhiên thừa
nhận người có năng lực TNHS là người ở một độ tuổi nhất định và là người
có khả năng nhận thức được đầy đủ tính nguy hiểm cho xã hội và tính chất
trái pháp luật của hành vi do mình thực hiện (về lý trí) cũng như điều khiển
được hành vi đó (về ý chí).
Thứ tư, người thực hiện hành vi là người có lỗi. Tội phạm cưỡng bức, lôi
kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy được thực hiện dưới hình thức
lỗi cố ý.
Như vậy, từ những phân tích trên đây có thể rút ra khái niệm tội cưỡng
bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy như sau:
(Tội) cưỡng bức người khác sử dụng trái phép chất ma tuý là hành vi
dùng vũ lực hoặc đe doạ dùng vũ lực hoặc các thủ đoạn khác uy hiếp tinh
thần người khác buộc họ tuy không muốn nhưng vẫn phải sử dụng trái phép
chất ma tuý.
(Tội) lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma tuý là hành vi rủ rê,
dụ dỗ, xúi giục hoặc dùng các thủ đoạn khác nhằm khêu gợi sự ham muốn
của người khác để họ sử dụng trái phép chất ma tuý.

Trích đoạn Môi trƣờng văn hóa, giáo dục Tình hình tội cƣỡng bức, lôi kéo ngƣời khác sử dụng trái phép chất ma tuý trong thời gian từ năm 2000 Một số vƣớng mắc trong thực tiễn xét xử tội cƣỡng bức, lôi kéo ngƣời khác sử dụng trái phép chất ma tuý Những vƣớng mắc về quy định của luật .Những vƣớng mắc về nhận thức của ngƣời áp dụng pháp luật
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status