Tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy trong luật hình sự Việt Nam - Pdf 25


đại học quốc gia hà nội
khoa luật

nguyễn thu hồng tội c-ỡng bức, lôi kéo
ng-ời khác sử dụng trái phép chất ma túy
trong luật hình sự việt nam

luận văn thạc sĩ luật học

Hà nội - 2008

MỤC LỤC
Trang

MỞ ĐẦU
1

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ TỘI CƯỠNG BỨC, LÔI KÉO
NGƯỜI KHÁC SỬ DỤNG TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY
THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ
MỘT SỐ NƯỚC TRONG KHU VỰC
5
1.1.
Nhận thức chung về tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng
trái phép chất ma túy
5
1.1.1.
Khái niệm tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép
chất ma túy
5
1.1.2.
Dấu hiệu pháp lý đặc trưng của tội cưỡng bức, lôi kéo người
khác sử dụng trái phép chất ma túy
7
1.2.
Phân biệt tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép
chất ma túy với một số tội phạm khác (Điều 197, 198, 252)

KHÁC SỬ DỤNG TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY Ở VIỆT
NAM HIỆN NAY
21
2.1.
Tình hình sử dụng trái phép chất ma túy ở Việt Nam hiện nay
21
2.1.1.
Tình hình sử dụng trái phép chất ma túy qua một số vụ án lớn
21
2.1.2.
Tình hình người nghiện ma túy có hồ sơ quản lý trong toàn
quốc qua 10 năm từ năm 1998 đến năm 2007
24
2.2.
Diễn biến của tội phạm cưỡng bức, lôi kéo người khác sử
dụng trái phép chất ma túy
26
2.2.1.
Tổng các vụ án ma túy giai đoạn năm 2000 - 2007
26
2.2.2.
Tổng số các vụ án về tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử
dụng trái phép chất ma túy giai đoạn năm 2000 - 2007
27
2.2.3.
Các vụ án về tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái
phép chất ma túy trong tổng số các vụ án ma túy giai đoạn từ
năm 2000 - 2007
28
2.3.

Nguyên nhân của tội phạm cưỡng bức, lôi kéo người khác sử
dụng trái phép chất ma túy
49
2.5.2.
Điều kiện thực hiện tội phạm cưỡng bức, lôi kéo người khác
sử dụng trái phép chất ma túy
54
2.6.
Công tác đấu tranh phòng chống tội phạm về ma túy nói chung
và tội phạm cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép
chất ma túy ở Việt Nam trong thời gian qua
55
2.6.1.
Những thành công đã đạt được
56
2.6.2.
Những hạn chế còn tồn tại
62

Chương 3: một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng
chống tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép
chất ma túy
65
3.1.
Dự báo tình hình tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng
trái phép chất ma túy trong thời gian tới
65
3.2.
Một số giải pháp đấu tranh phòng chống tội cưỡng bức, lôi
kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy

Tổng số người nghiện ma tuý có hồ sơ quản lý giai đoạn
1998 - 2007
24
2.2
Tổng số các vụ án ma tuý từ năm 2000 - 2007
26
2.3
Các vụ án về tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng
trái phép chất ma tuý trong tổng số các vụ án ma tuý giai
đoạn từ năm 2000 - 2007
28
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ Số hiệu
biểu đồ
Tên biểu đồ
Trang
2.1
Tình hình số lượng người nghiện ma tuý có hồ sơ quản lý
giai đoạn năm 1998 - 2007
25
2.2
Tổng số các vụ án về ma túy từ năm 2000 - 2007
27
2.3
Tổng số các bị cáo về ma túy bị xét xử từ năm 2000 - 2007

chỉnh của luật pháp kịp thời và nghiêm minh trước hiện tượng cưỡng bức, lôi
kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy. 2
Trong những năm gần đây, hiện tượng cưỡng bức, lôi kéo người khác
sử dụng trái phép chất ma túy có xu hướng ngày càng tăng. Thể hiện qua việc
người nghiện ma túy tăng lên qua từng năm. Với thực tế là nghiện ma túy thì
dễ mà bỏ thì quá khó, cái lợi về vật chất của kẻ cưỡng bức lôi kéo quá nhỏ bé
so với cái hại mà bản thân người mắc nghiện ma túy do bị lôi kéo và gia đình
họ, xã hội phải gánh chịu là vô cùng nghiêm trọng. Vô số những người nghiện
ma túy bị truy tố xét xử về tội liên quan đến ma túy hoặc những tội phạm do
ma túy trực tiếp và gián tiếp gây ra, đứng trước Tòa khai rằng: Nghiện do bạn
bè rủ rê lôi kéo, hoặc bị người quen dẫn dắt vào con đường sử dụng trái
phép chất ma túy.
Vì nhiều mục đích, vì nhiều lý do nên có nhiều đối tượng có dã tâm
lôi kéo và cưỡng bức người không nghiện ma túy sử dụng ma túy và dần dần trở
thành con nghiện. Mục đích để những người này trở thành khách hàng, trở thành
bạn nghiện cung cấp thuốc hoặc đơn giản chỉ là để thỏa mãn ý thích làm hại
người khác.
Hiện tượng trên xảy ra rất nhiều trong thực tế nhưng kết quả điều tra,
truy tố, xét xử loại tội này trong những năm vừa qua chưa cao (từ năm 2000
đến năm 2007, các cấp Tòa án trong cả nước mới chỉ xét xử 33 vụ/ 58 bị cáo).
Vì vậy cần đặt ra một yêu cầu, cần thiết và cấp bách đòi hỏi phải nghiên cứu
sâu về lý luận và thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả đấu tranh chống loại tội
phạm này.
Với những lý do trên, tôi đã chọn đề tài "Tội cưỡng bức, lôi kéo
người khác sử dụng trái phép chất ma túy trong luật hình sự Việt Nam"
làm luận văn tốt nghiệp cho khóa học.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

sử dụng trái phép chất ma túy. 4
Phạm vi nghiên cứu của luận văn dưới góc độ pháp lý hình sự và tội
phạm học trong thời gian từ 1999 đến năm 2007.
5. Cơ sở khoa học của đề tài
- Cơ sở lý luận: Phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng.
- Cơ sở thực tiễn: Bản án, quyết định của Tòa về tội cưỡng bức, lôi
kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy, các số liệu, thống kê, báo cáo
của cơ quan tư pháp về loại tội phạm này, kết quả điều tra xã hội học.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu:
- Lịch sử;
- Tổng hợp, so sánh, phân tích số liệu, tài liệu;
- Thống kê hình sự;
- Điều tra xã hội học;
- Phương pháp chuyên gia;
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ
lục, nội dung của luận văn gồm ba chương:
Chương 1. Những vấn đề lý luận chung về tội cưỡng bức, lôi kéo
người khác sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định của pháp luật Việt
Nam và luật một số nước trong khu vực.
Chương 2. Thực trạng tình hình tội phạm cưỡng bức, lôi kéo người
khác sử dụng trái phép chất ma túy ở Việt Nam hiện nay.
Chương 3. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả, đấu tranh phòng
chống tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy.
1. Chất ma tuý là các chất gây nghiện, chất hướng thần được
quy định trong các danh mục do Chính phủ ban hành. 7
2. Chất gây nghiện là chất kích thích hoặc ức chế thần kinh,
để gây nghiện đối với người sử dụng.
3. Chất hướng thần là chất kích thích, ức chế thần kinh hoặc
gây ảo giác, nếu sử dụng nhiều lần có thể dẫn tới tình trạng nghiện
cho người sử dụng [4].
Theo Tiến sĩ Trần Văn Luyện thì "Ma tuý là các chất có nguồn gốc tự
nhiên hoặc tổng hợp, khi được đưa vào cơ thể con người, nó có tác dụng làm
thay đổi trạng thái ý thức và sinh lý của người đó. Nếu lạm dụng ma tuý con
người sẽ lệ thuộc vào nó, khi đó gây tổn thương và nguy hại cho người sử
dụng và cộng đồng" [25, tr. 14].
Cưỡng bức người khác sử dụng trái phép chất ma túy là hành vi dùng
vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực hoặc các thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần của
người khác buộc họ sử dụng trái phép chất ma tuý trái với ý muốn của họ. Lôi
kéo người khác sử dụng trái phép chất ma tuý là hành vi rủ rê, dụ dỗ, xúi giục
hoặc bằng các thủ đoạn khác nhằm khêu gợi sự ham muốn sử dụng ma tuý
của người khác để họ sử dụng trái phép chất ma tuý. Hai hành vi này rất phổ
biến và là một trong những nguyên nhân trực tiếp làm cho ma túy ngày càng
lan rộng, đối tượng nghiện ngày càng tăng [24, tr. 430].
Tại Điều 200 Bộ luật hình sự Việt Nam 1999 quy định:
1. Người nào cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái
phép chất ma túy thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị
phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:
a) Có tổ chức;
b) Phạm tội nhiều lần;


9
a) Khách thể của tội phạm
Cưỡng bức người khác sử dụng trái phép chất ma túy là hành vi dùng
vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực hoặc các thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần của
người khác buộc họ sử dụng trái phép chất ma tuy trái với ý muốn của họ. Lôi
kéo người khác sử dụng trái phép chất ma tuý là hành vi rủ rê, dụ dỗ, xúi giục
hoặc bằng các thủ đoạn khác nhằm khêu gợi sự ham muốn sử dụng ma túy
của người khác để họ sử dụng trái phép chất ma túy.
Tội phạm xâm phạm quyền tự do và sức khỏe của con người, ảnh
hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội và lan truyền tệ nạn nghiện hút ma túy.
b) Mặt khách quan của tội phạm
Mặt khách quan của tội phạm thể hiện ở hành vi cưỡng bức hoặc hành
vi lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy. Cưỡng bức là hành vi
dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực bắt ép người khác sử dụng ma túy. Hành
vi này thể hiện như dùng vũ lực, đe dọa, khống chế, ép buộc, giữ tay chân để
cho ma túy vào miệng, mũi, tiên chích chất ma túy vào cơ thể v.v trái với ý
muốn của nạn nhân. Lôi kéo có thể các hành vi như: Rủ rê, mồi chài, dụ dỗ
thuyết phục làm cho người khác không muốn sử dụng trái phép chất ma túy
cũng phải đồng ý sử dụng. Các thủ đoạn khác khêu gợi sự ham muốn sử dụng
ma túy, tuyên truyền bịa đặt những cảm giác hấp dẫn khi sử dụng ma túy
v.v để họ tò mò, ham muốn sử dụng ma túy. Ngoài ra, hành vi đánh lừa như
cho vào thuốc lá, kẹo, cà phê v.v để người khác không biết mà sử dụng ma
túy dẫn đến nghiện, thì người có hành vi đó phạm tội cưỡng bức, lôi kéo
người khác sử dụng trái phép chất ma túy. Tội phạm được coi là hoàn thành
khi người khác có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
c) Chủ thể của tội phạm
Chủ thể của tội phạm là người từ đủ 16 tuổi trở lên (khoản 1) hoặc từ
đủ 14 tuổi trở lên (khoản 2, 3, 4), có năng lực trách nhiệm hình sự.


- Đối với phụ nữ mà biết có thai: Căn cứ vào kết luận của bác sĩ chuyên
khoa.
- Đối với nhiều người là từ hai người trở lên.
- Đối với người đang cai nghiện: Người đang cai nghiện có thể tại
trung tâm, tại cộng đồng dân cư hoặc gia đình.
- Gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỉ lệ thương tật từ 31%
đến 60%. Căn cứ để đánh giá mức độ thương tật là bản giám định pháp y và
Bản quy định tiêu chuẩn thương tật kèm theo Thông tư liên bộ Y tế, Lao động
thương binh và xã hội số 12/TT-LB ngày 26/7/1995 quy định về tiêu chuẩn
thương tật và tiêu chuẩn bệnh tật mới.
- Gây bệnh nguy hiểm cho người khác: Một số bệnh nguy hiểm được
truyền qua đường máu, đường hô hấp, việc hút, hít, tiêm chích ma túy dễ lây
truyền các bệnh nguy hiểm như HIV/AIDS, viêm gan vi rút B, lao v.v
- Tái phạm nguy hiểm là trường hợp người phạm tội trước đây đã bị
kết án về tội rất nghiêm trong, tội đặc biệt nghiêm trọng do lỗi cố ý, chưa
được xóa án tích mà lại phạm tội sử dụng trái phép chất ma túy. Hoặc trường
hợp đã tái phạm chưa được xóa án tích mà lại phạm tội này.
+ Khung 3: Quy định hình phạt tù từ mười lăm năm đến hai mươi năm
áp dụng đối với người phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau:
- Gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỉ lệ thương tật từ 61%
trở lên hoặc gây chết người.
- Gây bệnh nguy hiểm cho nhiều người là gây bệnh nguy hiểm cho từ
hai người trở lên.
- Đối với trẻ em dưới 13 tuổi: Căn cứ vào giấy khai sinh của nạn nhân. 12
+ Khung 4: Quy định hình phạt tù hai mươi năm hoặc tù chung thân
áp dụng trong trường hợp gây chết nhiều người hoặc gây hậu quả đặc biệt
nghiêm trọng khác. Gây chết nhiều người là từ hai người trở lên. Gây hậu quả

hội, ảnh hưởng đến sức khỏe của con người và lan tràn tệ nạn nghiện hút ma
túy.
Chính vì vậy, tại Điều 197 của Bộ luật hình sự 1999 quy định: Tội tổ
chức sử dụng trái phép chất ma túy.
1. Người nào tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất
kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị
phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:
a) Phạm tội nhiều lần;
b) Đối với nhiều người;
c) Đối với người chưa thành niên từ đủ 13 tuổi trở lên;
d) Đối với phụ nữ mà biết là đang có thai;
đ) Đối với người đang cai nghiện;
e) Gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương
tật từ 31% đến 61%;
g) Gây bệnh nguy hiểm cho người khác;
h) Tái phạm nguy hiểm.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị
phạt tù từ mười lăm năm đến hai mươi năm:
a) Gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương
tật từ 61% trở lên hoặc gây chết người; 14
b) Gây tổn hại cho sức khỏe của nhiều người mà tỷ lệ
thương tật từ 31% đến 60%;
c) Gây bệnh nguy hiểm cho nhiều người;
d) Đối với trẻ em dưới 13 tuổi.
4. Phạm tội thuộc một trong những trường hợp sau đây, thì
bị phạt tù hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

Điều 198 Bộ luật hình sự 1999 quy định: Tội chứa chấp việc sử dụng
trái phép chất ma túy:
1. Người nào cho thuê, cho mượn địa điểm hoặc có bất kì
hành vi nào khác chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy thì
bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị
phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:
a) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
b) Phạm tội nhiều lần;
c) Đối với trẻ em;
d) Đối với nhiều người;
đ) Tái phạm nguy hiểm;
3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm mươi triệu
đồng đến hai trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản
[3].
Điểm giống nhau cơ bản giữa hai tội chứa chấp sử dụng trái phép chất
ma túy và tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy là
đều được thực hiện do lỗi cố ý. 16
Điểm khác nhau cơ bản giữa hai tội chứa chấp sử dụng trái phép chất
ma túy và tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy là:
Thứ nhất: Ở tội chứa chấp sử dụng trái phép chất ma túy thì người sử
dụng chất ma túy có tính tự nguyện, chủ động sử dụng ma túy còn ở tội cưỡng
bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy thì người sử dụng bị
động, bị cưỡng bức hoặc lôi kéo sử dụng.
Thứ hai: Ở tội chứa chấp sử dụng trái phép chất ma túy thì người có
hành vi phải có địa điểm thuộc quyền chiếm hữu, quản lý của mình.
Thứ ba: Ở tội chứa chấp sử dụng trái phép chất ma túy thì người thực

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị
phạt tù từ ba năm đến mười hai năm:
a) Có tổ chức;
b) Dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp lôi kéo nhiều người;
c) Đối với trẻ em dưới 13 tuổi;
d) Gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc
biệt nghiêm trọng;
đ) Tái phạm nguy hiểm.
3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ ba triệu đồng
đến ba mươi triệu đồng.
Người phạm tội thuộc trường hợp quy định tại điểm (đ) khoản
2 điều này thì còn có thể bị phạt quản chế từ một đến năm năm [3].
Điểm giống nhau giữa hành vi cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng
trái phép chất ma túy và hành vi dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người chưa
thành niên phạm pháp ở mặt khách quan của tội phạm là đều có hành vi dụ
dỗ, ép buộc người khác phạm pháp và mặt chủ quan đều là lỗi cố ý trực tiếp. 18
Điểm khác nhau ở mặt khách thể là ở Điều 200 Bộ luật hình sự xâm
phạm quyền tự do sức khỏe con người, xâm phạm chế độ thống nhất quản lý
ma túy của nhà nước về ma túy làm lan tràn tệ nạn nghiện hút ma túy còn ở
Điều 252 Bộ luật hình sự xâm hại đến trật tự công cộng, gia tăng các tội phạm
khác. Về nạn nhân thì ở Điều 200 Bộ luật hình sự là các lứa tuổi còn ở Điều 252
chỉ là người chưa thành niên.
1.3. TỘI CƢỠNG BỨC, LÔI KÉO NGƢỜI KHÁC SỬ DỤNG TRÁI PHÉP
CHẤT MA TÚY TRONG LUẬT PHÁP MỘT SỐ NƢỚC TRONG KHU VỰC
1.3.1. Luật hình sự Thái Lan
Tội phạm về ma túy được quy định trong "Luật về các chất ma túy" ban
hành ngày 22 tháng 4 năm 1979. Luật gồm 11 chương, trong đó Chương XI.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status