ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT HOÀNG VĂN VƯƠNG
TỘI SỬ DỤNG TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY
THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM CHUYÊN NGÀNH: LUẬT HÌNH SỰ
MÃ SỐ: 60.38.40 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: GS. TS VÕ KHÁNH VINH
Hà Nội - 2006 1
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
1
1.2 Một số vấn đề lí luận cơ bản về hoạt động học và hoạt động tự học của sinh
viên Sƣ phạm
15
1.2.1 Sinh viên và sinh viên Sư phạm
15
1.2.2 Đặc điểm tâm lí nhân cách sinh viên
16
1.2.3. Hoạt động học tập và tự học của sinh viên Sư phạm
20
1.3. Lí luận về kĩ năng và kĩ năng tự học của sinh viên Sƣ phạm
27
1.3.1 Lí luận về kĩ năng và sự hình thành kĩ năng
27
1.3.2 Kĩ năng tự học (self- learned skill), các kĩ năng thành phần trong kĩ năng
tự học của sinh viên
32
1.3.3 Các mức độ, thứ bậc kĩ năng tự học của sinh viên
40
1.3.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến kĩ năng tự học của sinh viên
42
Chương 2:
TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
47
2.1 Cơ sơ phƣơng pháp luận nghiên cứu các kĩ năng tự học của sinh viên
47
2.2 Tiến trình nghiên cứu.
48
2.3.6 Phương pháp nghiên cứu trường hợp cụ thể (case study) ở một số sinh viên
có kĩ năng tự học tốt
55
2.3.7. Phương pháp thử nghiệm
56
2.3.8 Phương pháp thống kê toán học
59
CHƢƠNG 3:
KẾT QUẢ KHẢO SÁT THỰC TRẠNG BIỂU HIỆN CÁC KĨ NĂNG TỰ HỌC
CỦA SINH VIÊN TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI VÀ CAO ĐẲNG
SƢ PHẠM HÀ NỘI 61
3.1 Vài nét về khách thể nghiên cứu
61
3.1.1 Đặc điểm của sinh viên trường Đại học sư phạm và Cao đẳng sư phạm
61
3.1.2 Điều kiện môi trường sống ở trường ĐHSP và CĐSP Hà Nội có ảnh hưởng
đến kĩ năng tự học của bản thân sinh viên
62
3.2 Kết quả khảo sát thực trạng biểu hiện các nhóm kĩ năng tự học của
sinh viên trường ĐHSP và CĐSP Hà Nội
63
3.2.1 Nhận thức của sinh viên về kĩ năng tự học
63
3.2.2 Kết quả nghiên cứu mức độ nhận thức và mức độ thực hiện từng nhóm kĩ
năng tự học
25
S 2: S cỏc giai on hỡnh thnh k nng
31
Bng 3.1a: Quan nim ca sinh viờn núi chung v vai trũ ca k nng t hc
65
Bng 3.1b
1
: Nhn thc ca sinh viờn v vai trũ ca k nng t hc xột theo gii tớnh
68
Bng 3.1b
2
: Nhn thc ca sinh viờn v vai trũ ca k nng t hc xột theo gii tớnh
69
Bng 3.2: Nhn thc ca sinh viờn v cỏc k nng thnh phn trong k nng t hc ca
sinh viờn
71
Bng 3.3: Nhn thc ca sinh viờn v s cn thit ca cỏc k nng lp k hoch t hc
75
Bng 3.4: T ỏnh giỏ biu hin vic thc hin k nng lp k hoch t
hc ca bn thõn sinh viờn
78
Bng 3.5a
1
: Nhn thc ca sinh viờn v s cn thit ca mt s biu hin ca k nng
c sỏch v ti liu tham kho
95
Bng 3.5c
1
: Nhn thc ca sinh viờn v s cn thit ca cỏc k nng lm cng
Xờmina
98
Bảng 3.5c
2
: Tự đánh giá biểu hiện việc thực hiện các kĩ năng làm đề c-ơng Xêmina ở
sinh viên 101 5
Bảng 3.5d
1
: Nhận thức của sinh viên về sự cần thiết của kĩ năng ôn tập
103
Bảng 3.5d
2
: Tự đánh giá biểu hiện việc thực hiện các kĩ năng ôn tập của bản thân sinh
viên
106
Bng 3.6a: Vic t kim tra cỏc mc biu hin cỏc k nng t
hc ca sinh viờn
132
Biu 1: Quan nim ca sinh viờn v vai trũ ca k nng t hc trc v sau th
nghim
130
Biu 2: T ỏnh giỏ vic thc hin k nng lp k hoch t hc ca sinh viờn.
131
6
CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Đ Điều
K Khoản
BLHS Bộ luật hình sự
CHXHCN Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
NXB Nhà xuất bản
PC Phòng chống
quốc gia nhưng ngày nay, ngay cả những quốc gia chưa bị hại bởi tệ nạn
hút, hít ma túy cũng đã không còn đứng ngoài cuộc. Ma túy lan tràn nguy
hại khắp toàn cầu, làn sóng hút hít ma túy ngày càng lan rộng, càng kịch
liệt, sản xuất ma túy phổ biến khắp nơi trên thế giới. Hoạt động buôn lậu
ma túy hoành hành khắp nơi, ma túy không chỉ hủy hoại sức khỏe của nhân
loại mà còn ảnh hưởng đến ổn định xã hội quốc tế. Vấn đề ma túy đã cấu
thành sự uy hiếp rất lớn đối với sự sinh tồn của loài người và phát triển của
xã hội”. Theo báo cáo của cơ quan phòng chống ma tuý và tội phạm của
Liên Hợp Quốc (UNODC), hoạt động buôn lậu ma tuý mỗi năm đem lại
khoản lợi nhuận khoảng 500 tỷ USD chỉ đứng thứ hai sau hoạt động buôn
bán vũ khí [2].
Việt Nam cũng không ngoại lệ, tính đến hết ngày 30/11/2008 ở Việt
Nam có khoảng 173.603 người nghiện ma túy, trong đó đáng chú ý là cán
bộ, công nhân, viên chức là 4.837 người và 288 người là học sinh, sinh viên
[3]. Điều đáng lo ngại hơn là người nghiện ma túy có độ tuổi ngày càng trẻ 8
(dưới 18 tuổi chiếm 4,5%, dưới 30 tuổi là 68,3% và 80% đang ở độ tuổi lao
động, tỉ lệ nghiện ở nam giới là 95,47%, ở nữ giới chiếm 4,53% và vấn đề
quan trọng là tỷ lệ tái nghiện sau khi cai (theo báo cáo là hơn 80% tỉ lệ rất
cao). Đây là vấn đề nghiêm trọng hiện nay, đối tượng không chỉ tập trung ở
nhóm người có trình độ dân trí thấp, không nghề nghiệp, có tiền án tiền
sự… mà còn lan sang cả những đối tượng có trình độ học vấn cao, công việc
ổn định và kinh tế khá giả. Hiện tượng này đã gây nên nhiều hậu quả
nghiêm trọng cho bản thân, gia đình và xã hội, hủy hoại sức khỏe, nhân
cách của bản thân, phá vỡ hạnh phúc gia đình, thiệt hại về kinh tế, rối loạn
trật tự an toàn xã hội, ảnh hưởng tới sự phát triển của giống nòi.
Trước tình hình đó, việc giảm thiểu tối đa số người nghiện ma túy, các
luật hình sự cho thấy điều luật này còn nhiều bất cập, sự tác động của quy
phạm pháp luật hình sự vào loại quan hệ này không đạt được hiệu quả cao
mà một phần nguyên nhân là do quy định của Điều 199 BLHS có chỗ chưa
phù hợp với thực tế.
Vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu sâu hơn nữa để làm sáng tỏ về mặt
khoa học những vấn đề trong điều luật, đồng thời đưa ra những giải pháp
nhằm góp phần nâng cao hiệu quả của công tác đấu tranh phòng, chống tội
phạm nói chung và tội phạm ma túy nói riêng là việc làm cần thiết. Do đó,
việc có một công trình khoa học nghiên cứu và luận giải vấn đề “Tội sử
dụng trái phép chất ma túy” là một yêu cầu cấp bách, thiết thực. Đây chính
là lý do luận chứng cho việc tôi quyết định lựa chọn đề tài này làm Luận
văn thạc sĩ luật học của mình.
2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Việc nghiên cứu Tội sử dụng trái phép chất ma túy là một vấn đề rất
phức tạp, liên quan đến cả lý luận và thực tiễn, có thể nghiên cứu dưới nhiều
góc độ khác nhau nhất là trong tình hình thực tế hết sức đa dạng và phức tạp
của các loại tội phạm hiện nay. Trong phạm vi nhỏ bé của Luận văn này, tôi
chỉ xin đặt ra mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu một số vấn đề sau: 10
- Lịch sử các quy định của pháp luật hình sự đối với tội sử dụng trái
phép chất ma túy
- Chính sách hình sự của nhà nước ta về Tội sử dụng trái phép chất ma
túy
- Tìm hiểu thực trạng của tình hình sử dụng trái phép chất ma túy ở
Việt Nam.
- Làm rõ thêm quy định của Luật hình sự Việt Nam về loại tội này.
- Tìm hiểu thực tiễn áp dụng quy phạm của Điều 199 BLHS trong thực
tế. Đồng thời, xem xét chỉ ra một số vướng mắc trong thực tiễn áp dụng, qua
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm 3 chương với kết cấu như sau:
- Chương 1. Những vấn đề chung về Tội sử dụng trái phép chất ma túy
- Chương 2. Các dấu hiệu pháp lý hình sự của Tội sử dụng trái phép
chất ma túy trong Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 1999
- Chương 3. Thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự về Tội sử dụng trái
phép chất ma túy ở nước ta trong thời gian qua và việc hoàn thiện các quy
định của pháp luật hình sự về Tội sử dụng trái phép chất ma túy
Bằng vốn kiến thức đã được trang bị ở nhà trường, nỗ lực của bản thân,
kinh nghiệm thực tiễn và sự chỉ dẫn tận tình của thầy giáo hướng dẫn GS.TS
Võ Khánh Vinh và tổ bộ môn tư pháp hình sự, tôi không có tham vọng đưa
ra được những giải pháp và phương hướng tối ưu cho cuộc đấu tranh phòng,
chống và kiểm soát Tội phạm sử dụng trái phép chất ma túy hiện nay nhưng
tôi mong muốn góp phần công sức của mình làm cơ sở, phương hướng cho
cuộc đấu tranh phòng, chống tội này trong thời gian tới. Ngoài ra, những
nghiên cứu công phu của người viết ở một chừng mực nhất định có thể
khẳng định rằng đây là nghiên cứu chuyên khảo đồng bộ đầu tiên ở cấp độ
một luận văn thạc sĩ đề cập đến tội phạm này trong khoa học luật hình sự
Việt Nam. Do đó, nó còn có ý nghĩa làm tài liệu tham khảo cần thiết cho các
cán bộ nghiên cứu khoa học, cán bộ giảng dạy, học viên cao học và sinh
viên thuộc chuyên ngành. 12
CHƢƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI SỬ DỤNG TRÁI PHÉP
CHẤT MA TÚY
1.1. Chính sách hình sự của Nhà nƣớc ta về tội sử dụng trái phép chất
ma túy
Luật hình sự nói riêng và pháp luật nói chung là công cụ sắc bén trong
điểm của Đảng và Nhà nước đối với Tội sử dụng trái phép chất ma túy, các
nguyên tắc xử lý đối với các hành vi phạm tội sử dụng trái phép chất ma túy
thể hiện tính nhân đạo, công bằng của pháp luật xã hội chủ nghĩa.
Do tính nguy hiểm cao của hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và
trước những tác hại to lớn do hành vi này gây ra trong thời gian qua, cùng
với sự gia tăng của tệ nạn nghiện hút nên chính sách hình sự đối với hành vi
của tội này luôn thể hiện tính nghiêm khắc.
Quan điểm nhất quán của Đảng và Nhà nước ta là kiên quyết đấu tranh
tiến tới loại trừ tệ nạn ma túy ra khỏi xã hội. Do vậy, các hành vi sử dụng
trái phép chất ma túy đều bị xem xét khả năng xử lý bằng biện pháp hình sự.
1.1.1. Chính sách hình sự đối với Tội sử dụng trái phép chất ma túy
theo Bộ luật Hình sự 1985 sửa đổi, bổ sung năm 1997
Vào những năm 1980, tình hình sản xuất, lưu thông và sử dụng trái
phép ma túy có chiều hướng gia tăng, đặc biệt là buôn bán qua biên giới.
Trước tình hình đó, Bộ luật Hình sự đầu tiên của Nhà nước ta được Quốc
hội thông qua ngày 26/6/1985 đã quy định trách nhiệm hình sự đối với các
hành vi phạm tội liên quan đến ma túy tại 3 điều: Điều 97 Tội buôn bán
hoặc vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới; Điều 166 Tội
buôn bán hàng cấm và Điều 203 Tội tổ chức dùng chất ma túy [6].
Để tỏ rõ thái độ kiên quyết đấu tranh với tệ nạn ma túy và các tội phạm
về ma túy của Đảng và Nhà nước ta, Hiến pháp năm 1992 tại Điều 61 đã
quy định “… nghiêm cấm, sản xuất, vận chuyển, buôn bán, tàng trữ, sử
dụng trái phép thuốc phiện và các chất ma túy khác, Nhà nước quy định chế 14
độ bắt buộc cai nghiện và chữa các bệnh nguy hiểm…”[7]. Để tạo sức mạnh
tổng hợp cho cuộc đấu tranh phòng, chống ma túy, Chính phủ đã ban hành
Nghị quyết số 06/CP ngày 29/01/1993 về tăng cường chỉ đạo công tác
phòng, chống và kiểm soát ma túy.
túy được quy định lần đầu tiên trong lần sửa đổi bổ sung BLHS năm 1997,
đến BLHS 1999 được quy định tại Điều 199 với nội dung không thay đổi.
Điều này đã thể hiện chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước ta trong
việc kiên quyết đấu tranh với các tội phạm về ma túy nói chung và đối với
Tội sử dụng trái phép chất ma túy nói riêng.
Chính sách hình sự cũng như các quy phạm pháp luật của Nhà nước ta
đối với các tội phạm về ma túy từ năm 1945 đến nay luôn được xây dựng và
bổ sung theo hướng ngày càng toàn diện hơn, bao quát hơn trong đó các
hành vi sử dụng trái phép chất ma túy được xử lý bằng biện pháp hình sự.
Tội sử dụng trái phép chất ma túy ra đời thể hiện công tác đấu tranh phòng,
chống các tội phạm về ma túy, thể hiện quyết tâm ngăn chặn và xóa bỏ tệ
nạn ma túy, đấu tranh phòng, chống triệt để nhằm loại bỏ dần tội phạm này
ra khỏi đời sống xã hội.
1.2. Khái niệm về Tội sử dụng trái phép chất ma túy
Xuất phát từ lập trường và nghề nghiệp khác nhau, con người có sự
giải thích khác nhau. Về khái niệm “ma túy”. Từ góc độ y học, ma túy là
một loại dược phẩm, là một trong những chất dùng để phòng bệnh, duy trì
sức khỏe, chữa bệnh và làm giảm đau. Nó có thể làm cho người bệnh khôi
phục và bảo vệ công năng sinh lý ở mức độ nhất định, có thể làm giảm mức
độ trầm trọng thêm của một số bệnh nào đó, có thể kéo dài sinh mệnh hoặc
làm cho người ta yên vui hoặc có thể có tác dụng trợ sản, tiết dục. Trong
định nghĩa này ma túy cũng là dược phẩm, vấn đề là phải sản xuất, quản lý
hợp lý và sử dụng chính đáng. Nếu sử dụng không chính đáng hoặc lạm
dụng thì các chất được gọi là “dược phẩm” đó sẽ mất đi hàm ý, mất đi tác
dụng về mặt y học, dần người ta coi là chất độc. Đứng trên quan điểm pháp 16
luật mà xét, ma túy được lý giải là một chất đặc biệt, có hại nghiêm trọng
đến con người và xã hội, thuộc chất bị cấm, là loại hàng hóa bị pháp luật
trái phép chất ma túy như sau: “Tội sử dụng trái phép chất ma túy là hành
vi nguy hiểm cho xã hội được quy định tại Điều 199 BLHS năm 1999, do
người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý xâm phạm
đến chế độ độc quyền quản lý của nhà nước ta về chất ma túy”.
Từ khái niệm cơ bản trên ta có thể phân tích vấn đề nghiện ma túy ở
Việt Nam hiện nay và hậu quả của vấn đề này gây ra cho xã hội như thế
nào.
1.3. Thực trạng nghiện ma túy ở Việt Nam và hậu quả của tệ nạn
nghiện ma túy
1.3.1. Thực trạng nghiện ma túy ở Việt Nam
Ở Việt Nam, tệ nạn ma tuý nói chung và tệ nạn nghịên ma tuý nói riêng
cũng đã và đang được coi là vấn nạn của toàn xã hội, đến hết ngày
30/11/2008 số người nghiện là 173.603 người chiếm 0,21% dân số. Theo
thống kê hiện nay có hơn 7.840 xã, phường, thị trấn trong toàn quốc của lực
lượng công an các cấp thì có 4.154 xã, phường, thị trấn có tệ nạn ma tuý
(chiếm tỷ lệ 52,98%); 431 xã, phường, thị trấn trọng điểm về tệ nạn ma tuý
(chiếm tỷ lệ 5,49%). Tỷ lệ xã, phường, thị trấn có tệ nạn ma tuý tập trung
cao ở các tỉnh thành phố: Hà nội (545/577 - chiếm 99,4%); Điện Biên
(102/106 = 96,22%), Cần Thơ (67/76 = 88,15%); Lai Châu (85/98 =
86,7%); Thái Bình (242/286 = 84,61%) Bà Rịa - Vũng Tàu (68/82 =
82,92%); Sơn La (116/206 = 80,5%) [8]. Số người nghiện có sự diễn biến
phức tạp theo từng năm, có năm tăng, năm giảm nhưng với sự cố gắng, nỗ
lực của Đảng và Nhà nước, bằng nhiều hình thức khác nhau như tuyên
truyền, giáo dục cũng như các biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc, nên chỉ
sau 8 năm thực hiện Chương trình hành động phòng, chống ma tuý, tốc độ
gia tăng người nghiện ma tuý đã có kiềm chế đáng kể (lần lượt từ 2001 đến
2008 là 12,7%; 24,67%; 13,14%; 6,06%; -7,03%; 0,63%; 11,82; -2,63%). 18
19
thành phố có người nghiện tăng nhiều điển hình là: Thành phố Hồ Chí Minh
(67,3%); Hà Nội (79,9%); Hà Tây (143,6%); Thái Bình (89,9%); An Giang
(106,4%); Quảng Nam (242,7%)… Trong đó số người nghiện mới là 59.700
người so với năm 2001. Ta có thể thấy rõ hơn tình trạng nghiện ma túy ở
Việt Nam qua biểu đồ dưới đây:
Biểu đồ 1: Số người nghiện ma tuý ở Việt Nam (2001 – 2008)
113.903
142.001
160.67
170.407
158.428
159.426
178.305
173.603
0
50
100
150
200
2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008
N¨m
Sèng-êi nghiÖn
(Nguồn: Uỷ ban PC AIDS, PCTN ma tuý, mại dâm)
Thành phần người nghiện ma tuý rất đa dạng, ở khắp các địa bàn
thành thị, nông thôn, song tập trung chủ yếu ở nhóm có trình độ văn hóa
thấp, đối tượng có tiền án, tiền sự, gái mại dâm, người không có nghề
nghiệp và không có thu nhập ổn định, người trở về từ các khu đãi vàng.
Người nghiện còn là lao động trong các hầm mỏ, công nhân cầu đường,
để cùng hút và cùng chia vui trong làn khói nâu mờ ảo của thuốc phiện. Một
người thân chết đi, những người còn lại lại tiếp tục hút thuốc phiện để xoa
dịu nỗi đau trong lòng của mỗi người ở lại… người mẹ đau đớn sinh nở sẽ
sử dụng ma tuý để làm nhẹ cơn đau. Và rồi đến khi một đứa trẻ khóc, chúng
cũng được người lớn cho dùng ma tuý để dỗ dành… Tóm lại, từ lâu đời,
việc sử dụng ma tuý đã trở thành thói quen của những người dân miền núi
phía Bắc. Nguyên nhân của thực trạng này là do sự nghèo đói, đường xá đi
lại khó khăn, cơ sở hạ tầng thiếu thốn, không có bệnh viện hay trạm xá để 21
chữa trị kịp thời khi người dân mắc bệnh… dần dần thói quen sử dụng chất
ma tuý đã trở nên không thể thiếu đối với những người dân ở đây.
Hiện nay, nghiện ma tuý không còn tràn ngập các bản làng ở vùng núi
phía Bắc như trước nữa, do công tác tuyên truyền, phổ biến của Đảng và
Nhà nước cộng với sự đầu tư thoả đáng của Nhà nước vào cơ sở hạ tầng kỹ
thuật cũng như công tác xoá đói giảm nghèo đã đem lại những hiệu quả
bước đầu. Tuy nhiên, do tập quán lâu đời khó bỏ và ở một số nơi sự đầu tư
của Nhà nước không đem lại hiệu quả đáng kể đã dẫn đến tình trạng một bộ
phận bà con dân tộc lại tiếp tục quay trở lại với lối sống cũ, số người nghiện
lại tiếp tục tăng lên, kéo theo tình trạng phức tạp của tệ nạn ma tuý. Nghiện
ma tuý vẫn là vấn đề nhức nhối không chỉ của riêng những địa phương có
bộ phận đồng bào đó mà còn là của toàn xã hội.
Ngày nay, ma tuý và nghiện ma tuý không chỉ còn là vấn đề của các
bản làng, của các dân tộc ít người, ở những nơi núi cao hẻo lánh nữa. Ma
tuý đã có mặt trên tất cả 63 tỉnh thành của nước ta với tốc độ gia tăng khủng
khiếp về số người nghiện. Nếu lấy năm 2001 làm mốc tính, khi đó cả nước
chỉ có khoảng 113.903 người nghiện thì đến năm 2002, số người nghiện đã
tăng thêm 24,67%. Đến năm 2003 con số này là 41,05%. Năm 2004, chỉ sau
ba năm, số người nghiện đã tăng lên gần gấp rưỡi, 170.407 người nghiện,
năm 2008 cao gấp 3 lần so với năm 2001 chứng tỏ đối tượng phạm tội ngày
càng tinh vi liều lĩnh hơn, tập trung buôn bán vào mặt hàng có lợi nhuận cao
và vận chuyển dễ dàng như hêrôin, viên ma túy tổng hợp ….
Tình hình tội phạm ẩn của Tội sử dụng trái phép chất ma túy
Tình hình tội phạm ẩn có thể hiểu một cách khái quát là tổng thể những
hành vi phạm tội đã xảy ra trong thực tế, cùng các chủ thể của những hành
vi đó. Trong một khoảng thời gian và không gian xác định mà chưa bị các
cơ quan chức năng phát hiện, chưa bị xử lý bằng hình sự hoặc không có
trong thống kê hình sự (GS. TSKH Đào Trí Úc chủ biên Tội phạm học, luật
hình sự và tố tụng hình sự. Nxb Chính trị quốc gia, 1994). Việc xác định 23
tình hình tội phạm ẩn của Tội sử dụng trái phép chất ma túy không chỉ dựa
vào các số liệu của các cơ quan quản lý nhà nước, mà còn phải dựa vào kết
quả của phương pháp điều tra xã hội học, bằng sự phân tích suy luận khoa
học… Thông qua số liệu thống kê hình sự trong khoảng thời gian 8 năm trở
lại đây (từ 2001 đến 2008) cho thấy số các vụ án được đưa ra xét xử về Tội
sử dụng trái phép chất ma túy ít hơn nhiều so với các vụ án thực tế xảy ra
mà do nhiều lý do khác nhau điều đó thể hiện như sau:
Tính đến 30/11/2008 cả nước có 173.603 người nghiện trong đó năm
2008 cả nước cai nghiện cho 45.261 lượt người nghiện [11] chỉ làm phép
tính đơn giản ta thấy còn khoảng gần 130.000 người nghiện đang sinh sống
tại cộng đồng. Hàng ngày, các đối tượng này có nhu cầu cần thuốc để sử
dụng là một điều tất yếu, các đối tượng nghiện hút này không phải lúc nào
cũng có thuốc hoặc có tiền để thỏa mãn cơn nghiện bất cứ lúc nào. Do vậy,
muốn có thuốc để sử dụng thì đương nhiên họ phải có các hành vi mua bán,
sử dụng trái phép… các chất ma túy và theo quy định của pháp luật thì hành
vi sử dụng trái phép chất ma túy bị coi là tội phạm. Với gần 130.000 người
nghiện đang sinh sống tại cộng đồng chỉ cần 1/3 số này có hành vi sử dụng
những năm tới, chúng ta có cơ sở để nhận định về tình hình phạm tội trong
thời gian tới như sau:
Ở Việt Nam sẽ xuất hiện các cơ sở sản xuất ma túy trái phép từ các tiền
chất ma túy. Nhiều loại ma túy và các chất gây nghiện bằng nhiều cách sẽ
được móc nối để tuồn ra thị trường tự do từ các cơ sở dược phẩm, các cơ sở
chữa bệnh, công nghiệp hóa chất, sẽ có nhiều chủng loại ma túy, đặc biệt là
các loại ma túy tổng hợp đang phổ biến ở các nước châu Âu và châu Mỹ sẽ
xuất hiện tại Việt Nam. Giá các loại ma túy sẽ có chiều hướng tăng mạnh
trong những năm tới, ma túy từ nước ngoài tiếp tục được đưa vào Việt Nam
với số lượng lớn bằng nhiều con đường, đặc biệt là từ khu vực “Tam giác
vàng”, một phần tiêu thụ ở Việt Nam, một phần vận chuyển đi nước khác.