ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
PHẠM THỊ HẢI YẾN PHÁP LUẬT HẢI QUAN VIỆT NAM
TRƢỚC YÊU CẦU THỰC HIỆN "TỰ DO HÓA
THƢƠNG MẠI"
VÀ NGHĨA VỤ THÀNH VIÊN WTO
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
7
1.1.2.
Nguyên tắc và nội dung tự do hóa thương mại
9
1.2.
Thực hiện tự do hóa thương mại trong WTO - nhìn từ góc độ
hải quan
12
1.2.1.
Thuận lợi hóa thương mại
13
1.2.2.
Bảo đảm an ninh thương mại
15
1.2.3.
Hải quan Việt Nam thực hiện tự do hóa thương mại trong
WTO bằng cách giải quyết mối quan hệ giữa thuận lợi hóa
và bảo đảm an ninh thương mại
16
1.3.
Cơ sở thực tiễn và pháp lý để hải quan Việt Nam thực hiện
bảo đảm an ninh và tạo thuận lợi cho tự do hóa thương mại
trong WTO
18
1.4.
Vai trò điều chỉnh hoạt động Hải quan của pháp luật Hải
quan Việt Nam hướng tới tự do hóa thương mại và thực hiện
nghĩa vụ thành viên WTO
28
1.5
Thực trạng pháp luật hải quan Việt Nam về bảo đảm an ninh và
tạo thuận lợi cho tự do hóa thương mại sau khi gia nhập WTO
66
2.2.1.
Kết quả đem lại từ cải cách pháp luật sau khi gia nhập WTO
66
2.2.2.
Những sửa đổi cụ thể của pháp luật Hải quan Việt Nam, các
pháp luật khác có liên quan về bảo đảm an ninh, tạo thuận lợi
cho tự do hóa thương mại trong WTO
67
2.3.
Đánh giá tính tương thích của pháp luật hải quan Việt Nam
trong tương quan so sánh với các định chế pháp lý của WTO
97
2.3.1.
Pháp luật Hải quan Việt Nam trong tiến trình thực thi một số
Hiệp định điển hình về Tự do hóa thương mại hàng hóa
100
2.3.2.
Pháp luật Hải quan Việt Nam trong thực thi bảo hộ quyền sở
hữu trí tuệ
105
Chƣơng 3: GIẢI PHÁP ĐỀ XUẤT HOÀN THIỆN PHÁP
LUẬT HẢI QUAN VIỆT NAM NHẰM THỰC
HIỆN TỐT YÊU CẦU CỦA TỰ DO HÓA
THƢƠNG MẠI VÀ NGHĨA VỤ THÀNH VIÊN
WTO
109
Chương trình hành động của Chính phủ, Bộ Tài chính
122
3.2.3.
Kế hoạch hành động của ngành Hải quan Việt Nam
122
3.3.
Giải pháp đề xuất
125
3.3.1.
Cải cách pháp luật điều chỉnh một số vấn đề liên quan tới
quy trình, thủ tục hải quan
126
3.3.2.
Cải cách pháp luật về trị giá tính thuế, thuế và các biện pháp
phi thuế quan
131
3.3.3.
Cải cách pháp luật liên quan tới cơ chế kiểm soát an ninh
136
KẾT LUẬN
142
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
145 4
DANH MỤC CÁC BẢNG
25
2.1
Các vấn đề liên quan tới thuế quan và trị giá tính thuế
83
2.2
Các văn bản điều chỉnh thuế quan và trị giá tính thuế
83 5
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Số hiệu
biểu đồ
Tên biểu đồ
Trang
2.1
Tỷ lệ thuế suất so sánh giữa mức cam kết cắt giảm trong
WTO với mức thuế suất MFN
84 6
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Hoạt động hải quan là hoạt động quản lý nhà nước đối với hàng hóa
và phương tiện vận tải của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước được xuất
khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh vào/ ra/ trong lãnh thổ hải
quan. Đây là hoạt động mang nhiều nét đặc thù diễn ra ở các tuyến giao thông
hơn 200 phiên đàm phán đa phương và song phương kéo dài khoảng 11 năm
(01/1995 - 11/2006), thực sự nỗ lực và tăng tốc tối đa trong 03 năm về cuối
của tiến trình đàm phán (2004 - 2006), cuối cùng Việt Nam đã chính thức
được hưởng hiệu lực của Quy chế thành viên thứ 150 của WTO từ ngày
11/01/2007. Một trong những mục tiêu hoạt động chủ yếu của WTO và cũng
là một trong những mục tiêu hội nhập của Việt Nam trong chiến lược phát
triển kinh tế - xã hội bền vững, đó là bảo đảm an ninh và tạo thuận lợi cho tự
do hóa thương mại. Do vậy có thể thấy, yêu cầu của mục tiêu này về mặt
pháp lý đã và đang được đặt ra trực tiếp đối với pháp luật Hải quan.
Đó là lý do tác giả xin chọn đề tài: "Pháp luật Hải quan Việt Nam
trƣớc yêu cầu thực hiện "tự do hóa thƣơng mại" và nghĩa vụ thành viên
WTO" làm luận văn thạc sĩ, chuyên ngành Luật quốc tế, theo đó các yêu cầu
cụ thể để pháp luật Hải quan có thể thực hiện "tự do hóa thương mại" trong
WTO chính là: bảo đảm an ninh và tạo thuận lợi.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trước khi Luật Hải quan sửa đổi, bổ sung năm 2005 được ban hành,
đã có một số ít công trình nghiên cứu khoa học ở cấp độ tiến sĩ, thạc sĩ nghiên
cứu về đề tài này với các giác độ liên quan tới kinh tế, quan hệ kinh tế quốc
tế, có thể kể tới như:
- Đặt trong tiến trình thực thi Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa
Kỳ (Luận văn thạc sĩ Luật học năm 2003 của Nguyễn Đức Lâm), trong thời kỳ
hội nhập (Luận văn thạc sĩ Luật học năm 2002 của Nguyễn Ngọc Sơn), v.v
8
- Nhiều bài viết đăng tải trên các Tạp chí Nghiên cứu Hải quan, trên
website của ngành hải quan, website Ủy ban Hợp tác Kinh tế quốc tế, v.v
Trước tình hình kết quả của các công trình nghiên cứu toàn diện, hệ
thống, mang tính học thuật đã trở nên lỗi thời, và các nghiên cứu riêng lẻ bị
tản mạn, chưa được hệ thống hóa một cách toàn diện, thì việc tác giả tiếp tục
nghiên cứu về pháp luật hải quan với góc nhìn cập nhật các diễn biến mới của
Nam liên quan đến Hải quan - tự do hóa thương mại, chủ yếu tập trung vào
các hiệp định bổ sung mới sau thời kỳ thành lập WTO, đồng thời là các hiệp
định có mối liên hệ mật thiết với lĩnh vực Hải quan; và các quy định của pháp
luật Hải quan Việt Nam điều chỉnh trực tiếp về thương mại hàng hóa, về các
khía cạnh liên quan tới thương mại của quyền sở hữu trí tuệ.
Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu đề tài này dưới góc độ của Luật quốc tế.
4. Cơ sở khoa học và thực tiễn, phƣơng pháp nghiên cứu
Cơ sở khoa học
- Xu thế tự do hóa thương mại đang diễn ra phổ biến trên thế giới, tính
tất yếu của chính sách tự do hóa thương mại trong chiến lược phát triển kinh
tế - xã hội của Việt Nam (cùng chiều với công cuộc cải cách, hiện đại hóa
kinh tế đất nước);
- Nguyên tắc tự do hóa thương mại với tính cách là một trong những
nguyên tắc cơ bản của quan hệ thương mại quốc tế; mối quan hệ gắn bó
không tách rời giữa tự do hóa thương mại và tạo thuận lợi cho giao lưu
thương mại (thuận lợi hóa Thương mại);
- Các hiệp định của WTO về tự do hóa thương mại được vận dụng vào
các quốc gia khác nhau với nội dung khác nhau nhưng vẫn bảo đảm tuân thủ
khung pháp lý của tổ chức này;
10
- Khung tiêu chuẩn an ninh và tạo thuận lợi cho thương mại do Tổ
chức Hải quan Thế giới (WCO) ban hành.
Cơ sở thực tiễn: Các báo cáo tổng kết, số liệu của ngành Hải quan,
các chương trình, kế hoạch hợp tác khu vực và quốc tế của Hải quan Việt
Nam trong ngắn hạn và dài hạn.
Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu như phân tích, trích
lọc, rà soát thống kê, tổng hợp, so sánh, trên cơ sở thấm nhuần, thấu suốt quan
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung.
Chương 2: Pháp luật Hải quan Việt Nam thực hiện các yêu cầu của tự
do hóa thương mại trong trong tương quan so sánh với các định chế liên quan
đến Hải quan của WTO.
Chương 3: Giải pháp đề xuất hoàn thiện pháp luật Hải quan Việt
Nam nhằm thực hiện tốt yêu cầu của tự do hóa thương mại và nghĩa vụ thành
viên WTO.
12
Chƣơng 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG
1.1. TỰ DO HÓA THƢƠNG MẠI VỪA LÀ MỤC TIÊU ĐẦU TIÊN VÀ CHÍNH
YẾU, VỪA LÀ MỘT TRONG NHỮNG NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CỦA KHUNG PHÁP
LUẬT WTO
Tự do hóa thương mại là nội dung chính trị xuyên suốt toàn bộ định
chế và thể chế pháp lý của hệ thống thương mại đa phương WTO hiện đang
chiếm tới trên 98% giao dịch thương mại quốc tế từ mục tiêu cho tới các
nguyên tắc cơ bản quan trọng nhất, cũng như các quy định cụ thể trong các
hiệp định, tuyên bố, quyết định được ban hành bởi tổ chức này.
WTO đặt ra mục tiêu hoạt động là thúc đẩy tự do hóa thương mại
quốc tế thông qua việc loại bỏ các rào cản trong thương mại, với một trong
những nguyên tắc quan trọng là "mở cửa thị trường" thể hiện nội dung chính
trị "tự do hóa thương mại" hướng tới viễn cảnh tạo lập và phát triển một hệ
thống thương mại toàn cầu được hoàn toàn mở cửa.
"Thương mại quốc tế" (International Trade) được định nghĩa là việc
trao đổi qua biên giới quốc gia (hoặc lãnh thổ hải quan) hàng hóa, dịch vụ,
yếu tố sản xuất (lao động và vốn). Theo WTO, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ
đã biểu lộ tình trạng không đủ sức giải quyết các tranh chấp trong các quan hệ
kinh tế quốc tế phát sinh đối với nhiều vấn đề mới vượt xa khuôn khổ của
GATT. Cuối cùng, tại vòng đàm phán thương mại đa phương thứ 8 - vòng
Urugoay, các bên tham gia thương lượng đã đạt được một loạt các thỏa thuận
quan trọng liên quan tới các lĩnh vực khác nhau (trong thương mại như nông
nghiệp, dệt may; liên quan tới thương mại như: sở hữu trí tuệ, đầu tư nước
ngoài và khu vực dịch vụ), đi tới ký kết Hiệp ước Marrakesh tại Marrakesh
(Ma-rốc) - Hiến chương của WTO vào ngày 15/4/1994 với sự tham gia kết
ước của 124 Chính phủ và Cộng đồng Châu Âu, chính thức thành lập WTO,
thiết chế mới tiếp tục và thay thế GATT từ ngày 01/01/1995.
14
Mục tiêu chính của luật WTO vẫn là thúc đẩy tự do hóa thương mại
quốc tế. Các công cụ được lựa chọn thuộc hệ thống GATT/WTO để đạt được
mục tiêu tự do hóa thương mại gồm: (1) Nguyên tắc MFN (Most favoured nation,
quốc gia được ưu tiên nhất); (2) đối xử cấp quốc gia (NT, National Treatment);
(3) Nhân nhượng lẫn nhau; và (4) Không phân biệt đối xử (Điều III, Hiệp ước
Marrakesh thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới, 1994; Điều I, II và III của
GATT 1947).
1.1.2. Nguyên tắc và nội dung tự do hóa thƣơng mại
Nguyên tắc "Thương mại ngày càng tự do hơn thông qua đàm phán"
Cùng với các nguyên tắc khác như: Không phân biệt đối xử thông qua
Quy chế tối huệ quốc (MFN) và Quy chế đối xử quốc gia (NT); minh bạch
chính sách, dễ dự báo, dự đoán; khuyến khích cạnh tranh công bằng; khuyến
khích cải cách kinh tế và phát triển, thì thương mại ngày càng tự do hơn thông
qua đàm phán là một trong năm nguyên tắc cơ bản được ghi nhận xuyên suốt
trong hệ thống các hiệp định của WTO. Tuy tồn tại dưới dạng nhiều tên gọi
khác nhau, phạm vi nội hàm qua mỗi thời kỳ lịch sử có những nội dung khác
nhau, nhưng nguyên tắc này vẫn hướng tới một mục tiêu thống nhất là tự do
hóa nền thương mại quốc tế hiện đại.
Tại vòng đàm phán cuối cùng của GATT là vòng đám phán Urugoay
1993, nhiều vấn đề của tự do hóa thương mại đã được mở rộng hơn nhiều so
với GATT như phần tự do hóa dịch vụ, sở hữu trí tuệ và cơ chế giải quyết
tranh chấp bảo đảm cho tự do hóa thương mại được thực thi linh hoạt hơn.
Đây chính là bước ngoặt để từ đây GATT hoàn tất vai trò lịch sử của mình,
mở ra một thời kỳ hoàn toàn mới của nền thương mại quốc tế.
Thời kỳ bắt đầu từ khi WTO đƣợc thành lập: Chỉ sau khi vòng đàm
phán Urugoay 1986 - 1994 kết thúc ít lâu, vào ngày 01/01/1995, WTO đã
thực sự thay thế GATT, hình thành nên một thể chế thương mại quốc tế và
khung pháp lý đồ sộ bao gồm hệ thống 16 hiệp định đa phương và 02 hiệp
định nhiều bên (điều chỉnh các đối tượng, các hoạt động trong các lĩnh vực:
16
Thương mại hàng hóa; thương mại dịch vụ; đầu tư liên quan đến thương mại;
bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại; cơ chế giải quyết tranh
chấp; rà soát chính sách thương mại). Khung pháp lý này đã vận dụng các
nguyên tắc cơ bản của WTO để điều chỉnh nền thương mại quốc tế theo mục
tiêu trước tiên là "tự do hóa". "Thương mại ngày càng tự do hơn thông qua
đàm phán" là một trong năm nguyên tắc cơ bản của WTO (04 nguyên tắc còn
lại là: (1) Không phân biệt đối xử thông qua Quy chế tối huệ quốc (MFN) và
Quy chế đối xử quốc gia (NT); (2) Minh bạch chính sách, dễ dự báo, dự
đoán; (3) Khuyến khích cạnh tranh công bằng; và (4) Khuyến khích cải cách
kinh tế và phát triển).
* Nội dung của nguyên tắc "Thương mại ngày càng tự do hơn thông
qua đàm phán" thời kỳ này đặt trọng tâm hiệu quả mục tiêu vào đàm phán
song phương và đa phương của các thành viên WTO để giảm dần tiến tới dỡ
bỏ các rào cản thương mại (thuế, rào cản phi thuế quan như hạn ngạch, định
lượng nhập khẩu, giấy phép ) ngoại trừ những "rào cản kỹ thuật" ở mức phù
hợp liên quan đến bảo vệ sức khỏe, môi trường, động thực vật, bảo đảm an
ninh. Những quy định vốn là những rào cản đối với lĩnh vực đầu tư như cân
triển: liên quan tới an ninh quốc gia, vệ sinh, an toàn và môi trường, là các
quy tắc về các biện pháp tự vệ, chống bán phá giá, đánh thuế đối kháng, v.v
1.2. THỰC HIỆN TỰ DO HÓA THƢƠNG MẠI TRONG WTO - NHÌN TỪ
GÓC ĐỘ HẢI QUAN
Phần trình bày tại 1.1 đưa tới nhận định: thực hiện tự do hóa thương
mại trong WTO chính là thực hiện mục tiêu và nguyên tắc nền tảng của
khung pháp luật WTO được thể hiện xuyên suốt toàn bộ các hiệp định của hệ
thống thương mại đa phương toàn cầu này. Gia nhập WTO, Việt Nam có
nghĩa vụ thực thi đầy đủ các nội dung cam kết về tự do hóa thương mại được
nêu trong nghị định thư về việc gia nhập và biểu cam kết thương mại hàng
hóa. Trong đó, Hải quan thực thi các cam kết về tự do hóa thương mại trên
hai phương diện: thuận lợi hóa và bảo đảm an ninh thương mại.
18
Nội hàm của hai khái niệm "thuận lợi hóa thương mại" và "bảo đảm
an ninh thương mại" được trình bày dưới đây không theo thứ tự ưu tiên mức
độ quan trọng. Nhìn từ góc độ quản lý nhà nước, thì "bảo đảm an ninh" sẽ là
khái niệm cần phải tính tới trước tiên, song nếu nhìn từ góc độ phát triển
thương mại, hay nhằm tự do hóa thương mại, thì khái niệm "thuận lợi hóa" lại
nhận được sự ưu tiên.
1.2.1. Thuận lợi hóa thƣơng mại
Tạo thuận lợi cho thương mại (Trade facilitation) là một vấn đề mới
nổi trong hệ thống thương mại đa phương, là việc dỡ bỏ những trở ngại đối
với việc giao lưu hàng hóa qua biên giới để thúc đẩy thương mại phát triển.
Hiểu theo khái niệm đã được chấp nhận rộng rãi của WTO thì "thuận lợi hóa
thương mại" là "đơn giản hóa và hài hòa hóa các quy trình thương mại quốc
tế" trong đó các quy trình thương mại là "các hoạt động, thực tiễn và các thủ
tục liên quan đến việc thu thập, xuất trình, liên lạc và xử lý dữ liệu cần thiết
cho việc di chuyển hàng hóa trong thương mại quốc tế" [61, tr. 308].
Cụ thể tạo thuận lợi cho thương mại trong lĩnh vực hải quan được
chuyển hóa vào các quy định của WCO tại: Công ước Kyoto và Nghị định thư
sửa đổi Công ước Kyoto; Công ước về hệ thống hài hòa về mô tả và mã hóa
hàng hóa (Harmonized System) 6/1983, sửa đổi bổ sung vào các năm 1996,
2002, 2007 - được ví như một ngôn ngữ chung toàn cầu về hàng hóa, có hiệu
lực áp dụng đối với Việt Nam vào 01/01/2000.
Các biện pháp thuận lợi hóa thương mại do cơ quan Hải quan trực tiếp
thực hiện đã tạo điều kiện thông thoáng hơn cho hoạt động xuất nhập khẩu hàng
hóa, thúc đẩy sự phát triển của thương mại quốc tế. Tổ chức Hải quan thế giới
WCO đã xây dựng khung tiêu chuẩn về bảo đảm an ninh và tạo thuận lợi cho
thương mại toàn cầu (Framework of standards to secure and facilitate global
trade, sau đây gọi tắt là SAFE), trong đó quan hệ giữa Hải quan - doanh nghiệp
là một trụ cột được thiết lập trên quan điểm doanh nghiệp không đơn thuần là
đối tượng quản lý, mà là "người bạn đường" của Hải quan. Tuyên bố thực hiện
SAFE, Hải quan Việt Nam đã thay đổi phương thức quản lý chuyển dần sang
20
tinh thần "phục vụ" với thái độ tích cực hợp tác đem lại lợi ích tối đa cho doanh
nghiệp, tạo nên sự thông suốt cho luồng lưu chuyển các giá trị thương mại.
Hiện tại, Việt Nam đang vận hành song song hai phương thức quản lý
hải quan: phương thức truyền thống (kiểm tra thủ công) và phương thức hiện
đại (quản lý rủi ro, hải quan điện tử). Trong đó, phương thức quản lý hải quan
hiện đại dựa trên nền tảng của kỹ thuật quản lý rủi ro, hay thủ tục hải quan
điện tử đã và đang được áp dụng phổ biến tại các lãnh thổ hải quan của các
nước trong khu vực và trên thế giới được Hải quan Việt Nam đánh giá sẽ là
phương tiện hữu hiệu, tạo nên bước đột phá căn bản tăng cường tính thuận lợi
cho tự do hóa thương mại quốc tế.
1.2.2. Bảo đảm an ninh thƣơng mại
Các phương diện của an ninh được bảo đảm cho tự do hóa thương mại
Xuất phát từ khái niệm "hàng hóa" là đối tượng quản lý của cơ quan
hải quan, được quy định trong Điều 4.1 Luật Hải quan số 29/2001/QH10 ngày
Trong số 154 thành viên đã tuyên bố thực thi SAFE kể trên, thì Hải quan Việt
Nam là một trong những thành viên đầu tiên gửi thư đề nghị tham gia vào
tháng 8/2005 [117], qua đó tạo mối quan hệ hợp tác tích cực với Hải quan các
nước, tăng cường các biện pháp quản lý, chống khủng bố trên phạm vi toàn
cầu Việc thực hiện SAFE/WCO được Nhà nước Việt Nam xác định là một
trong những biện pháp cụ thể trong hệ thống các biện pháp của ngành Hải
quan để thực hiện các cam kết quốc tế đối với WTO.
WCO là tổ chức liên chính phủ duy nhất có chức năng giám sát hoạt
động trao đổi thƣơng mại, thực hiện vai trò điều phối hoạt động quản lý hải
quan quốc tế. WTO là tổ chức thương mại thế giới có chức năng giám sát quá
trình thực hiện các Hiệp định hướng tới tự do hóa thương mại giữa các nước
thành viên với nhau. Như vậy, cả hai tổ chức này đều giữ vai trò mật thiết liên
quan tới chuỗi cung ứng, dịch chuyển hàng hóa toàn cầu, vì đây là nội dung
thực sự của hoạt động thương mại. Để thực hiện thành công các mục tiêu mà
WTO đeo đuổi, không thể nếu thiếu đi sự hợp tác chặt chẽ và sự điều phối với
22
vai trò đầu tàu của WCO. Do đó, không cần thiết phải vay mượn hay chuyển hóa
khái niệm "bảo đảm an ninh", "tạo thuận lợi" của WCO vào WTO, bởi đây chính
là hai mục tiêu trọng yếu, hai mặt đối lập cần phải được dung hòa, nhượng bộ
lẫn nhau ở mức độ cho phép nhằm đạt được Tự do hóa thương mại bền vững.
Mối quan hệ giữa "bảo đảm an ninh" và "tạo thuận lợi (hay "thuận lợi
hóa") theo những nội hàm như trên là mối quan hệ gắn kết mật thiết, là hai đòi
hỏi của quá trình phát triển tự do hóa thương mại quốc tế và không phải là
yêu cầu đặt ra đối với quốc gia nào riêng rẽ cũng như không phân biệt trình
độ phát triển kinh tế. Hơn nữa, đòi hỏi này còn đi cùng chiều với chiến lược
cải cách, hiện đại hóa kinh tế của Việt Nam theo yêu cầu phát triển bền vững.
Nói cách khác, giải quyết tốt mối quan hệ giữa bảo đảm an ninh và tạo thuận
lợi sẽ tạo nên sự cân bằng giữa kiểm soát tuân thủ pháp luật và tạo thuận lợi
cho thương mại quốc tế. Mối quan hệ này luôn được hệ thống các hiệp định
SAFE/WCO và một số Công ước quốc tế của tổ chức này.
1.3. CƠ SỞ THỰC TIỄN VÀ PHÁP LÝ ĐỂ HẢI QUAN VIỆT NAM THỰC
HIỆN BẢO ĐẢM AN NINH VÀ TẠO THUẬN LỢI CHO TỰ DO HÓA THƢƠNG MẠI
TRONG WTO
Việt Nam là thành viên đầy đủ của WCO vào cuối năm 1998, cùng
thời điểm với Nga và Peru. Tính tới thời điểm gần đây nhất - 07/2008, con số
thành viên của WCO là 174 lãnh thổ hải quan thành viên và Cộng đồng Châu
Âu (174 Customs Administration + the European Communities từ tháng
7/2007), chiếm tới 98% thương mại toàn cầu và như đã nêu ở phần trên, là
nước đầu tiên bày tỏ ý định thực hiện SAFE/WCO vào năm 2005 [115], [117].
Cũng trong khoảng thời gian này, vào tháng 01/1995, Việt Nam đã gửi
thư xin gia nhập WTO, khởi động các vòng đám phán đa phương và song
phương với một loạt nỗ lực nhượng bộ các đối tác trong giới hạn vẫn bảo đảm
được lợi ích quốc gia của một nước đang phát triển. Song song với quá trình
đàm phán đó, là việc xúc tiến công tác rà soát, sửa đổi pháp luật trong nước,
tạo ra sự tương thích giữa hệ thống pháp luật quốc gia của Việt Nam với các
24
thiết chế pháp luật của WTO để làm tiền đề thuyết phục các đối tác đàm phán.
Kết quả, sau 11 năm cùng với hơn 200 phiên đàm phán cả đa phương và song
phương, Việt Nam đã chính thức chịu ràng buộc thực thi các cam kết đồng
thời hưởng sự bảo vệ của WTO vào ngày 11/01/2007.
Hai sự kiện nêu trên có liên quan trực tiếp tới phần cơ sở thực tiễn và
cơ sở pháp lý sẽ được trình bày dưới đây.
1.3.1. Cơ sở thực tiễn
Ngành Hải quan Việt Nam ra đời từ khá sớm, ngay sau khi nước Việt
Nam dân chủ cộng hòa được thành lập năm 1945. Là một nước có vị trí địa lý
thuận lợi, nằm ở ngã tư của các mối quan hệ quốc tế năng động, đa dạng, vừa
gắn liền với lục địa Á - Âu, vừa tiếp giáp với Thái Bình Dương, có đường
biên giới quốc gia trên đất liền trải dài 4.610 km giáp với ba nước (Trung