Một số vấn đề pháp lý về chào bán chứng khoán ra công chúng theo pháp luật Việt Nam và pháp luật một số nước - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

PHẠM THỊ THANH HƯƠNG MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ
VỀ CHÀO BÁN CHỨNG KHOÁN RA CÔNG CHÚNG
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ PHÁP LUẬT MỘT SỐ NƯỚC LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC HÀ NỘI – 2010

MỤC LỤC
Trang

Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục Danh mục các chữ viết tắt Danh mục các bảng MỞ ĐẦU
1

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHÀO BÁN CHỨNG
KHOÁN RA CÔNG CHÚNG
8
1.1.
Khái niệm chung
8

Các hình thức chào bán chứng khoán
31
1.3.
Tæ chøc quèc tÕ c¸c ñy ban chøng kho¸n (iosco)
32
1.3.1.
Sự hình thành, phát triển của IOSCO
32
1.3.2.
Các nguyên tắc của IOSCO
33
1.3.3.
Các nguyên tắc của IOSCO đối với hoạt động chào bán
chứng khoán ra công chúng
36
1.3.3.1.
Nguyên tắc về hoạt động công bố thông tin của tổ chức
phát hành
36
1.3.3.2.
Nguyên tắc đối xử công bằng
37
1.3.3.3.
Nguyên tắc kế toán, kiểm toán theo thông lệ quốc tế
38
1.3.4.
Việt Nam và IOSCO
38

Chương 2: PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ CHÀO BÁN CHỨNG

khoán ra công chúng
51
2.2.2.
Điều kiện chào bán chứng khoán ra công chúng
57
2.2.3.
Thủ tục thực hiện chào bán chứng khoán ra công chúng
65
2.2.3.1.
Cơ chế quản lý nhà n-ớc đối với hoạt động chào bán chứng
khoán ra công chúng
65
2.2.3.2.
H s ng ký cho bỏn chng khoỏn ra cụng chỳng
74
2.3.
Mt s nhn xột v phỏp lut cho bỏn chng khoỏn ra
cụng chỳng ca Vit Nam so sỏnh vi phỏp lut ca mt s
nc
78
2.3.1.
V h thng phỏp lut
78
2.3.2.
V mt s ni dung c bn ca phỏp lut cho bỏn chng
khoỏn ra cụng chỳng
80

Chng 3: THC TRNG THC THI PHP LUT V CHO
BN CHNG KHON RA CễNG CHNG TI VIT

108

DANH MC MT S CễNG TRèNH TC GI THAM GIA
110

DANH MC TI LIU THAM KHO
111

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

SGDCK
: Sở giao dịch chứng khoán
TTCK
: Thị trường chứng khoán
UBCKNN
: Ủy ban Chứng khoán Nhà nước

Danh môc c¸c b¶ng

Sè hiÖu
b¶ng
Tªn b¶ng
Trang
2.1

đầu tư nước ngoài chuyển đổi thành công ty cổ phần tạo ra sự thống nhất
trong quản lý nhà nước đối với hoạt động chào bán chứng khoán ra công
chúng. Lần đầu tiên tại Luật Chứng khoán đã quy định cho phép các doanh
nghiệp Việt Nam được chào bán chứng khoán huy động vốn trên TTCK quốc
tế. Với quy định này, một mặt mở ra kênh huy động vốn vô cùng quan trọng
cho doanh nghiệp Việt Nam; mặt khác, cũng tạo điều kiện cho các nhà đầu tư
nước ngoài được tham gia góp vốn đầu tư vào doanh nghiệp Việt Nam, phù
hợp với các cam kết của Việt Nam trong hội nhập thị trường vốn quốc tế.

2
Tuy nhiên, thực tế thi hành pháp luật về chứng khoán và TTCK trong
thời gian qua cho thấy pháp luật về chào bán chứng khoán ra công chúng đã
bộc lộ nhiều điểm hạn chế, vướng mắc, gây khó khăn cho các doanh nghiệp
trong quá trình chào bán chứng khoán huy động vốn, cụ thể như: Luật Chứng
khoán mới chỉ giới hạn điều chỉnh về hoạt động chào bán chứng khoán ra
công chúng, chưa quy định thế nào là hoạt động phát hành riêng lẻ. Các quy
định về khái niệm, về điều kiện, thủ tục chào bán chứng khoán ra công chúng
hiện nay chưa rõ ràng và chưa phù hợp với thông lệ quốc tế. Mặc dù pháp luật
đã bước đầu điều chỉnh về hoạt động chào bán chứng khoán ra nước ngoài
song mới chỉ dừng lại ở các quy định mang tính nguyên tắc đòi hỏi phải có
những quy định hướng dẫn cụ thể về điều kiện, về tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư
nước ngoài và ngay cả việc giải quyết xung đột pháp luật khi doanh nghiệp
Việt Nam tiến hành chào bán chứng khoán ra nước ngoài hay doanh nghiệp
nước ngoài chào bán chứng khoán tại Việt Nam.
Việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật về chào bán chứng khoán ra công
chúng phải được tiến hành trên cơ sở tổng hợp, đúc kết kinh nghiệm thực tiễn
hoạt động của TTCK Việt Nam và dựa trên cơ sở ứng dụng một cách khoa
học của quá trình nghiên cứu kinh nghiệm về mặt lý thuyết cũng như thực tiễn
của thế giới vào hoàn cảnh và điều kiện cụ thể của Việt Nam.
Trước những yêu cầu của lý luận và thực tiễn nêu trên, việc nghiên

pháp luật Việt Nam về chào bán chứng khoán ra công chúng để từ đó đề xuất
một số giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật nhằm khuyến khích phát
triển hoạt động này trong thời gian tới.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đề tài được giới hạn trong khuôn khổ nghiên cứu, so sánh một số nội
dung cơ bản của pháp luật Việt Nam và pháp luật một số nước như Hoa Kỳ,
Nhật Bản, Trung Quốc, Thái Lan… về hoạt động chào bán chứng khoán ra

4
công chúng (về phương thức quản lý đối với hoạt động chào bán chứng khoán
ra công chúng, về điều kiện, thủ tục chào bán chứng khoán ra công chúng);
đánh giá tính tương thích của pháp luật Việt Nam với pháp luật các nước nêu
trên và với các nguyên tắc của Tổ chức quốc tế các Ủy ban Chứng khoán
(IOSCO) trong hoạt động chào bán chứng khoán ra công chúng; tìm hiểu và
phân tích thực trạng thực thi pháp luật về chào bán chứng khoán ra công
chúng tại Việt Nam, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định
pháp luật của Việt Nam về hoạt động chào bán chứng khoán ra công chúng.
5. Cơ sở pháp lý và thực tiễn của đề tài
* Cơ sở pháp lý
- Tổng thể các quy phạm pháp luật của Việt Nam về chào bán chứng
khoán ra công chúng: Luật Chứng khoán năm 2006 và Nghị định số
14/2007/NĐ-CP của Chính phủ hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của
Luật Chứng khoán đặt trong mối quan hệ hài hòa tổng thể với hệ thống pháp
luật có liên quan của Việt Nam, đặc biệt là Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư,
- Pháp luật về chứng khoán và TTCK của một nước trên thế giới gồm:
Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc, Thái Lan…
- Các nguyên tắc của IOSCO trong hoạt động chào bán chứng khoán
ra công chúng.
* Cơ sở thực tiễn
- Các báo cáo thường niên về hoạt động của TTCK; các báo cáo tổng

soát thống kê, trích lọc, so sánh, phân tích và tổng hợp. Việc kết hợp các
phương pháp nghiên cứu này tại Chương 3I, một chương có thể nói là quan
trọng nhất của luận văn này, đã đem lại một số kết quả chính cho luận văn này
đó là: đánh giá được thực trạng thực thi pháp luật về chào bán chứng khoán ra
công chúng tại Việt Nam, nêu bật những điểm vướng mắc, hạn chế của hệ
thống pháp luật này tại Việt Nam, từ đó luận văn đưa ra một số đề xuất nhằm
hoàn thiện pháp luật về chào bán chứng khoán ra công chúng của Việt Nam.

6
7. Những đóng góp mới của luận văn
Với việc tập trung nghiên cứu một lĩnh vực mới, chưa được nghiên
cứu sâu tại Việt Nam, đó là một số vấn đề pháp lý về chào bán chứng khoán
ra công chúng theo pháp luật Việt Nam và pháp luật một số nước, luận văn đã
có một số đóng góp nhất định, cụ thể như sau:
Thứ nhất, từ việc phân tích về các khái niệm, định nghĩa về chứng khoán
và TTCK cũng như các đặc điểm cơ bản của TTCK, tác giả đã chỉ rõ một số
điểm khác biệt giữa TTCK thời kỳ sơ khai và TTCK trong nền kinh tế hiện
đại, đồng thời đưa ra định nghĩa về chứng khoán và TTCK xuất phát từ bản
chất và các đặc điểm của TTCK.
Thứ hai, luận văn đã khái quát hóa một số vấn đề lý luận về chào bán
chứng khoán ra công chúng, phân tích, làm rõ các đặc điểm của hoạt động
chào bán chứng khoán ra công chúng thông qua việc so sánh những điểm
giống và khác nhau cơ bản giữa hoạt động chào bán chứng khoán ra công
chúng và hoạt động chào bán chứng khoán riêng lẻ.
Thứ ba, luận văn đã nghiên cứu đúc kết được một số đặc điểm cơ bản
của khung pháp lý điều chỉnh hoạt động chào bán chứng khoán ra công chúng
của Việt Nam và một số nước trên thế giới; chỉ rõ những điểm giống và khác
nhau cơ bản giữa quy định pháp luật của Việt Nam và của một số nước về
chào bán chứng khoán ra công chúng để từ đó, đánh giá tính tương thích, sự
phù hợp của pháp luật Việt Nam với pháp luật các nước cũng như với thông


8
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
VỀ CHÀO BÁN CHỨNG KHOÁN RA CÔNG CHÚNG

1.1. KHÁI NIỆM CHUNG
1.1.1. Khái niệm về chứng khoán và thị trƣờng chứng khoán
Hiện nay có rất nhiều cuốn sách cũng như công trình khoa học nghiên
cứu về lịch sử hình thành và phát triển của TTCK. Theo Từ điển Bách khoa
toàn thư Việt Nam, TTCK ra đời từ thế kỷ 17 và vai trò của nó ngày càng được
nâng cao cùng với sự phát triển của chủ nghĩa tư bản [44]. Tuy nhiên, có nhiều
tài liệu nghiên cứu cho rằng, TTCK ban đầu xuất hiện vào giữa thế kỷ 15 ở
Phương Tây một cách rất tự phát và sơ khai. Lúc đầu chỉ là một nhóm nhỏ các
thương gia thường tụ tập lại tại các quán cà phê để trao đổi mua bán các vật
phẩm hàng hóa, sau đó tăng dần và hình thành một khu chợ riêng. Cuối thế kỷ
15, khu chợ trở thành "thị trường" và hình thành nên các quy tắc có giá trị bắt
buộc chung cho mọi thành viên tham gia "thị trường". Phiên chợ riêng đầu
tiên được diễn ra năm 1453 tại gia đình Vanber ở Bruges (Bỉ) để trao đổi,
mua bán kỳ phiếu nước ngoài hay các loại giấy tờ có giá khác. Tại đây, người
ta treo một bảng hiệu hình ba túi da với một từ tiếng Pháp là "Bourse", có
nghĩa là "Mậu dịch thị trường" hay "Sở giao dịch" [15, tr. 25].
Thị trường thời kỳ sơ khai này có một số đặc điểm cơ bản đó là:
- Thị trường được hình thành một cách tự phát với sự tham gia của các
nhà đầu cơ, chưa có sự tham gia của công chúng đầu tư.
- Hoạt động của thị trường chưa có sự quản lý bởi cơ quan nhà nước
cũng như chưa có sự điều chỉnh bởi hệ thống pháp lý nào. Trong quá trình
giao dịch mua bán, các thành viên thống nhất với nhau các quy ước và dần
dần những quy ước này trở thành những nguyên tắc chung có tính bắt buộc
đối với các thành viên tham gia thị trường.


10
trường chứng khoán là nơi diễn ra các hoạt động giao dịch mua bán các loại
chứng khoán. Việc mua bán được tiến hành ở hai thị trường sơ cấp và thứ
cấp, do vậy thị trường chứng khoán là nơi chứng khoán được phát hành và
trao đổi" [45]. Giáo trình Những vấn đề cơ bản về chứng khoán và TTCK do
Trung tâm Nghiên cứu khoa học và Đào tạo chứng khoán - UBCKNN biên
soạn mặc dù qua nhiều lần chỉnh sửa nhưng TTCK vẫn được định nghĩa là
"nơi diễn ra các hoạt động trao đổi, mua bán, chuyển nhượng các loại chứng
khoán, qua đó thay đổi các chủ thể nắm giữ chứng khoán" [15, tr. 33].
Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật và công nghệ tin học, các
phương thức giao dịch trên TTCK đã được cải tiến ngày càng hiện đại, chuyển
dần từ giao dịch thủ công kết hợp với máy vi tính sang sử dụng hoàn toàn hệ
thống giao dịch điện tử. Do vậy, TTCK không còn chỉ là một nơi, một địa điểm
nhất định mà tại đó chứng khoán được giao dịch, mua đi bán lại từ người này
sang người khác. TTCK còn có thể là bất cứ hình thức nào tập hợp người mua
và người bán chứng khoán và chuyển giao quyền sở hữu chứng khoán.
Theo Luật Chứng khoán Việt Nam, khái niệm về TTCK đã được
mở rộng, theo đó,"thị trường giao dịch chứng khoán là địa điểm hoặc hình
thức trao đổi thông tin để tập hợp lệnh mua, bán và giao dịch chứng
khoán" [20, khoản 18 Điều 6].
Mặc dù vậy, các định nghĩa mới chỉ ra được mặt hình thức của TTCK
mà chưa chỉ ra được bản chất của TTCK. Xét về mặt bản chất, TTCK là nơi
tập trung và phân phối các nguồn vốn tiết kiệm. Để huy động vốn cho đầu tư,
những người thiếu vốn phát hành ra các công cụ tài chính như cổ phiếu, trái
phiếu. Những người có vốn nhàn rỗi thay vì đầu tư vào máy móc thiết bị, nhà
xưởng để sản xuất hàng hóa hay cung cấp dịch vụ thì sẽ đầu tư vào các chứng
khoán được phát hành bởi những người cần huy động vốn. Như vậy, thông
qua TTCK, nguồn vốn được dẫn trực tiếp từ người cung vốn sang người cầu
vốn mà không phải qua bất kỳ tổ chức trung gian nào. Thông qua TTCK,

quy tắc nhất định do pháp luật từng nước quy định và phải phù hợp với quy
luật khách quan của nền kinh tế thị trường cũng như thông lệ quốc tế.

12
Về khái niệm "chứng khoán", cùng với sự phát triển của TTCK, khái
niệm "chứng khoán" cũng ngày càng mở rộng. Trước đây, Luật Chứng khoán
của nhiều nước, đặc biệt là các nước theo hệ thống luật lục địa/luật La mã,
đưa ra khái niệm "chứng khoán" theo nghĩa hẹp với một danh mục cụ thể các
công cụ. Những danh mục này giới hạn một cách rõ ràng quy mô của Luật,
nhưng cũng tạo ra khả năng linh hoạt nhất định để đáp ứng sự phát triển, thay
đổi của thị trường tài chính. Theo đó, một loạt các công cụ tài chính, bao gồm
cả các công cụ có độ rủi ro cao, không được điều chỉnh.
Mức độ và tốc độ thay đổi của thị trường tài chính trong vòng hai thập
kỷ qua đã gia tăng đáng kể yêu cầu phải có một định nghĩa linh hoạt hơn về
chứng khoán. Điều này được thể hiện trong công cuộc cải cách thị trường tài
chính ở nhiều quốc gia trong 10 năm vừa qua. Công cụ chứng khoán luôn
được thay đổi và có xu hướng ngày càng phát triển, đa dạng các loại sản
phẩm, đặc biệt là sản phẩm phái sinh. Do vậy, pháp luật của nhiều nước,
ngoài việc quy định các chứng khoán mang tính phổ biến, dễ xác định (như cổ
phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ…) còn quy định các nguyên tắc, bản chất của
chứng khoán để trên cơ sở đó cơ quan quản lý có căn cứ điều chỉnh linh hoạt
đối với các loại sản phẩm mới.
Ví dụ như tại Đạo Luật chứng khoán năm 1933 của Hoa Kỳ, tại
phần 2(a) đưa ra khái niệm về chứng khoán theo cách thức liệt kê, theo đó
"Thuật ngữ "chứng khoán" có nghĩa là bất cứ giấy tờ, cổ phiếu, cổ phiếu quỹ,
công cụ chứng khoán tương lai, trái phiếu, giấy nợ, bằng chứng về công nợ,
chứng nhận về lợi ích hay tham gia bất cứ thỏa thuận chia sẻ lợi nhuận nào,
chứng chỉ tín thác - cầm cố, chứng nhận hay đăng ký tham gia thành lập tổ
chức, cổ phiếu chuyển đổi, hợp đồng đầu tư, chứng nhận bỏ phiếu, chứng
nhận đặt cọc về chứng khoán, lợi ích không thể phân chia liên quan đến dầu,

Nghị định (Presidential Decree) trên cơ sở chứng chỉ/công cụ gốc do doanh
nghiệp nước ngoài phát hành…, và Các chứng chỉ/công cụ khác được quy
định trong Nghị định (Presidential Decree) có tính chất tương tự hay liên quan
đến các công cụ liệt kê từ khoản 1 đến khoản 8 Điều này.

14
Ở Việt Nam, trước năm 1998, chưa có khái niệm "chứng khoán" mà
chỉ có các khái niệm về "cổ phiếu" và "trái phiếu". Các khái niệm này ra đời
năm 1993 cùng với sự ra đời của Luật Công ty cho phép doanh nghiệp được
phép phát hành cổ phiếu và trái phiếu để huy động vốn. Nhằm khuyến khích
việc huy động các nguồn vốn trung và dài hạn trong nước và nước ngoài,
ngày 11/7/1998, Chính phủ đã ban hành Nghị định 48/1998/NĐ-CP về chứng
khoán và TTCK. Tại văn bản này, khái niệm "chứng khoán" lần đầu tiên được
xuất hiện và được định nghĩa "là chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ, xác nhận
các quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu chứng khoán đối với tài sản
hoặc vốn của tổ chức phát hành. Chứng khoán bao gồm: cổ phiếu; trái phiếu;
chứng chỉ quỹ đầu tư và các loại chứng khoán khác".
Chứng khoán, theo định nghĩa tại Luật Chứng khoán Việt Nam năm
2006, là:
Bằng chứng xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người
sở hữu đối với tài sản hoặc phần vốn của tổ chức phát hành. Chứng
khoán được thể hiện dưới hình thức chứng chỉ, bút toán ghi sổ hoặc
dữ liệu điện tử, bao gồm các loại: (1) cổ phiếu; (2) trái phiếu; (3)
chứng chỉ quỹ; (4) quyền mua cổ phần; (5) chứng quyền; (6) quyền
chọn mua, quyền chọn bán; (7) hợp đồng tương lai; (8) nhóm
chứng khoán hoặc chỉ số chứng khoán [20, khoản 1 Điều 6].
Luật Chứng khoán Việt Nam năm 2006 đưa ra định nghĩa về 7 loại
chứng khoán trong số 8 loại chứng khoán nêu trên, cụ thể như sau:
- Cổ phiếu: Cổ phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích
hợp pháp của người sở hữu đối với một phần vốn cổ phần của tổ chức phát

mức giá nhất định vào ngày xác định tr-ớc trong t-ơng lai (khoản 8 Điều 6).
Mc dự mi nc u a ra cỏc nh ngha khỏc nhau v chng
khoỏn, tựy thuc vo trỡnh phỏt trin ca th trng cng nh nng lc
qun lý ca mi nc nhng v bn cht chng khoỏn l cỏc loi giy t cú

16
giá hoặc là bằng chứng xác nhận quyền lợi ích hợp của người nắm giữ đối với
một loại tài sản nhất định mà để trở thành chứng khoán phải đáp ứng các điều
kiện sau: (1) Là bằng chứng xác nhận quyền sở hữu đối với tài sản đó; (2) Có
khả năng giao dịch và (3) Được pháp luật thừa nhận.
Chứng khoán bao gồm 5 nhóm chính là cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ
quỹ đầu tư, các công cụ chuyển đổi và các công cụ phái sinh. Căn cứ vào tính
chất các chứng khoán được giao dịch, TTCK có thể được chia thành thị
trường cổ phiếu, trái phiếu và thị trường các công cụ phái sinh.
- Thị trường cổ phiếu là thị trường nơi các cổ phiếu được phát hành và
giao dịch. Thị trường cổ phiếu gồm có thị trường cổ phiếu sơ cấp và thị
trường cổ phiếu thứ cấp.
- Thị trường trái phiếu là thị trường nơi các trái phiếu được phát hành
và giao dịch, thị trường trái phiếu cũng gồm có thị trường trái phiếu sơ cấp và
thị trường trái phiếu thứ cấp.
- Thị trường các công cụ phái sinh bao gồm thị trường các hợp đồng
tương lai, chứng quyền, các quyền chọn mua, chọn bán…
Căn cứ vào sự luân chuyển các nguồn vốn, TTCK được chia thành hai
thị trường: thị trường phát hành (thị trường sơ cấp) và thị trường giao dịch
(thị trường thứ cấp).
- Thị trường chứng khoán sơ cấp là nơi các chứng khoán lần đầu tiên
được phát hành. Việc phát hành chứng khoán trên thị trường sơ cấp nhằm huy
động vốn cho tổ chức phát hành, qua thị trường này những nguồn vốn nhàn
rỗi trong công chúng và các tổ chức kinh tế xã hội có thể chuyển thành vốn
đầu tư dài hạn cho tổ chức phát hành chứng khoán.

diễn ra các hoạt động mua và bán chứng khoán hoặc là bất cứ một hình thức
nào tập hợp những người mua và bán để giao dịch chứng khoán theo các
nguyên tắc của thị trường nhằm mục đích kiếm lời.

18
1.1.2. Khái niệm về chào bán chứng khoán ra công chúng
Khái niệm về chào bán chứng khoán ra công chúng là vấn đề vô cùng
quan trọng, nó xác định phạm vi quản lý của nhà nước, xác định ranh giới
giữa một bên là được coi là chào bán chứng khoán ra công chúng và một bên
được coi là chào bán chứng khoán riêng lẻ.
Chào bán chứng khoán riêng lẻ là việc chủ thể phát hành chào bán
chứng khoán của mình trong phạm vi một số người nhất định (thông thường
là cho các nhà đầu tư có tổ chức, các nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp
(các ngân hàng thương mại, công ty cho thuê tài chính, các tổ chức kinh
doanh bảo hiểm, tổ chức kinh doanh chứng khoán…) có ý định nắm giữ
chứng khoán một cách lâu dài chứ không phát hành rộng rãi ra công chúng
đầu tư như đối với hình thức chào bán chứng khoán ra công chúng. Còn chào
bán chứng khoán ra công chúng là việc chào bán trong đó chứng khoán có thể
chuyển nhượng được bán rộng rãi ra công chúng cho một số lượng lớn người
đầu tư nhất định (trong đó phải dành một tỷ lệ cho các nhà đầu tư nhỏ) và
khối lượng phát hành phải đạt một mức nhất định.
Việc phân biệt chào bán chứng khoán riêng lẻ và chào bán chứng
khoán ra công chúng là để xác định những người phát hành rộng rãi ra công
chúng phải là những công ty có chất lượng cao, hoạt động sản xuất kinh
doanh tốt, nhằm bảo vệ cho công chúng đầu tư nói chung, nhất là những nhà
đầu tư nhỏ thiếu hiểu biết. Đồng thời, đây cũng là điều kiện để xây dựng một
TTCK an toàn, công khai và có hiệu quả.
Dưới góc độ kinh tế thì hoạt động chào bán chứng khoán bao gồm các
hoạt động chính là chào mời, bán và phát hành chứng khoán cho công chúng.
Các chủ thể muốn huy động vốn trên TTCK thì phải tiến hành các hoạt động


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status