Tìm hiểu pháp luật quốc tế, pháp luật một số nước trên thế giới và liên hệ với pháp luật Việt Nam về hoạt động thăm dò, khai thác, sử dụng khoảng không vũ trụ - Pdf 25



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT PHẠM THỊ THU HƯƠNG
Tìm hiểu pháp luật quốc tế, pháp luật một số nước trên thế giới và liên
hệ với pháp luật Việt Nam về hoạt động thăm dò, khai thác, sử dụng
khoảng không vũ trụ
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. NGUYỄN BÁ DIẾN Hà Nội – 2009
Bảng viết tắt

BNS
C
The British National Space Centre - Trung tâm vũ trụ quốc gia
Anh
COP
OUS
The United Nation Committee on the Peaceful uses of outer
space - Uỷ ban sử dụng khoảng không vũ trụ vào các mục đích
hoà bình
ESA
European Space Agency - Cơ quan vũ trụ Châu Âu
ITU
International Telecommunication Union - Tổ chức viễn thông
quốc tế
MPE
G
The moving picture experts group – Hội phim ảnh thế giới
mSv

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu được trích dẫn theo những nguồn đã công bố. Kết quả
nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong
bất kỳ công trình nào khác.

Tác giả
Phạm Thị Thu Hương

1

Chương I. Những vấn đề lý luận về pháp luật khoảng
không vũ trụ
5
1.1.
Pháp luật về khoảng không vũ trụ
5

1.1.1. Khái niệm khoảng không vũ trụ
5

1.1.2. Nguồn tài nguyên vũ trụ
7
1.2.
Vai trò của sự chiếm lĩnh khoảng không vũ trụ
9
1.3.
Lịch sử hình thành, phát triển pháp luật vũ trụ
12

1.3.1. Lịch sử hình thành
12

1.3.2. Khái quát các cơ sở pháp luật về khoảng không vũ trụ
14

1.3.2.1. Năm điều ước quốc tế về khoảng không vũ trụ
15


2.1.4. Trách nhiệm quốc tế đối với các thiệt hại do vật thể vũ
trụ gây ra
42

2.1.5. Quyền của các quốc gia trong chế độ pháp lý của thể vũ trụ
43
2.2.
Quy chế pháp lý quốc tế đối với nhà du hành vũ trụ
45
2.3.
Quy chế pháp lý quốc tế về việc sử dụng vệ tinh nhân tạo của
các quốc gia trong việc phát sóng truyền hình quốc tế trực tiếp
47
2.4.
Quy chế pháp lý quốc tế đối với việc quan sát Trái đất từ
khoảng không vũ trụ
51
2.5.
Quy chế pháp lý quốc tế về việc sử dụng nguồn năng lượng hạt
nhân trong khoảng không vũ trụ
54
2.6.
Quy chế pháp lý quốc tế đối với việc khai thác và sử dụng Mặt
trăng và các thiên thể
62

2.6.1. Những việc được làm trên Mặt trăng và các thiên thể
63
khác trong hệ Mặt trời (ngoại trừ Trái đất)


không quốc gia năm 1958
81

2.9.1.2. Một số nội dung cơ bản của Luật thương mại vũ
trụ năm 1998
83

2.9.2. Luật khoảng không vũ trụ Vương quốc Anh
85

2.9.2.1. Cơ cấu và bố cục đạo luật khoảng không vũ trụ
năm 1986
86

2.9.2.2. Một số nội dung cơ bản của đạo luật khoảng
86
không vũ trụ năm 1986

Chương III: Vấn đề lý luận, thực tiễn của pháp luật Việt
Nam về vũ trụ và một số phương hướng xây dựng, phát
triển
92
3.1.
Cơ sở lý luận của pháp luật vũ trụ Việt Nam
92

3.1.1. Sự ra đời và phát triển của ngành công nghệ vũ trụ
92

3.1.2. ứng dụng của ngành công nghệ vũ trụ tại Việt Nam

kiện Liên Xô phóng thành công vệ tinh nhân tạo vào khoảng không vũ trụ
tháng 10 năm 1957 và tiếp đó là các sự kiện con tàu vũ trụ đầu tiên do phi
công người Nga Y.Gagarin điều khiển bay quanh trái đất tháng 4 năm 1961
và nhà du hành vũ trụ người Mỹ Neil Armstrong đặt chân lên vũ trụ tháng 7
năm 1969. Sau hơn nửa thế kỷ, việc thăm dò, khai thác, sử dụng khoảng
không vũ trụ đã đem lại những lợi ích to lớn cho các quốc gia trong quá trình
phát triển kinh tế – xã hội, văn hóa, giáo dục, y tế, an ninh, quốc phòng…một
số nước trên thế giới còn đặt ra mục tiêu xây dựng căn cứ trên mặt trăng để
khai thác và trung chuyển người lên sao Hoả … những điều mà trước đây chỉ
có trong các câu chuyện khoa học viễn tưởng thì nay cùng với sự phát triển
của khoa học công nghệ vũ trụ đang dần trở thành hiện thực.
Khi quan hệ xã hội mới phát sinh thì việc xây dựng một hệ thống quy
phạm pháp luật để điều chỉnh là tất yếu nhằm thiết lập một trật tự pháp lý đối
với các quan hệ này. Hiện nay, pháp luật vũ trụ quốc tế và pháp luật vũ trụ
của một số nước trên thế giới đã được xây dựng và ngày càng hoàn thiện, bao
gồm các thoả thuận, điều ước quốc tế, hiệp ước, các quy tắc, các quy định của
tổ chức quốc tế, luật pháp quốc gia, các quy định về điều hành, quản lý, các
quyết định… Mục tiêu của pháp luật vũ trụ là đảm bảo một cách hợp lý về
việc chịu trách nhiệm cho các phương pháp tiếp cận, thăm dò, sử dụng không
gian vũ trụ vì lợi ích quốc gia và vì lợi ích chung của nhân loại. Pháp luật vũ
trụ điều chỉnh các hoạt động: quân sự bên ngoài khoảng không vũ trụ, bảo tồn
không gian, môi trường chung của Trái đất, trách nhiệm pháp lý do các thiệt

2
hại gây ra bởi các đối tượng không gian, giải quyết tranh chấp, bảo vệ lợi ích
của quốc gia, cứu hộ phi hành gia, chia sẻ thông tin về tiềm năng nguy hiểm
trong không gian bên ngoài, sử dụng không gian liên quan đến công nghệ vũ
trụ và vấn đề hợp tác quốc tế. Để từng bước bắt nhịp với sự phát triển vượt
bậc của khoa học công nghệ vũ trụ trên thế giới và nhu cầu thực tiễn trong
quá trình xây dựng, phát triển kinh tế, xã hội, bảo vệ an ninh, quốc phòng của

một số quốc gia trên thế giới hiện nay được xây dựng và phát triển thành một
hệ thống quy phạm pháp luật tương đối đầy đủ, hoàn thiện.
Toàn bộ hệ thống quy phạm pháp luật vũ trụ quốc tế hiện nay khá đồ sộ
và còn rất nhiều vấn đề đang được thảo luận trong quá trình tiếp tục hoàn
thiện hệ thống quy phạm pháp luật về lĩnh vực này, nhưng luận văn giới hạn
phạm vi nghiên cứu trong việc tìm hiểu một số quy chế pháp lý cơ bản của hệ
thống quy phạm pháp luật vũ trụ trên cơ sở các quy định tại năm bộ nguyên
tắc và năm điều ước quốc tế về khoảng không vũ trụ như: chế độ pháp lý đối
với vật thể vũ trụ, vấn đề đăng ký phóng vật thể vũ trụ, việc sử dụng nguồn
năng lượng hạt nhân trong khoảng không vũ trụ, trách nhiệm bồi thường thiệt
hại do vật thể vũ trụ gây ra và một số vấn đề liên quan khác. Đối với pháp luật
một số quốc gia trên thế giới, luận văn cũng giới hạn phạm vi nghiên cứu
trong việc tìm hiểu một số quy chế pháp lý cơ bản trong Luật vũ trụ và hàng
không quốc gia 1958, Luật thương mại vũ trụ 1998 của Hợp chủng quốc Hoa
Kỳ và Luật khoảng không vũ trụ năm 1986 của Vương quốc Anh.
Với tính chất của đề tài, luận văn chỉ tập trung vào việc tìm hiểu, phân
tích các vấn đề pháp lý cơ bản thuộc lĩnh vực khoảng không vũ trụ, từ đó liên
hệ với các hoạt động trong lĩnh vực khoảng không vũ trụ của Việt Nam và
hướng đến việc xây dựng các quy phạm pháp luật vũ trụ của Việt Nam.
4. Phương pháp nghiên cứu

4
Với mục đích và yêu cầu được đặt ra của đề tài, luận văn sử dụng các
phương pháp nghiên cứu khoa học như: phân tích, so sánh luật học, đánh giá
thực tiễn, thống kê…
5. ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Với mục đích nghiên cứu như đã trình bày trên, luận văn này mong
muốn đưa đến cái nhìn tổng quát về pháp luật quốc tế và luật vũ trụ của một
số quốc gia trong hoạt động thăm dò, khai thác, sử dụng khoảng không vũ trụ.
Đồng thời hướng tới việc đề xuất xây dựng, phát triển khung pháp lý đối với

quốc gia đó [211,1]. Vùng trời của mỗi quốc gia bị giới hạn bởi biên giới
xung quanh và biên giới trên cao, tuy nhiên cho đến nay Luật quốc tế vẫn
chưa quy định cụ thể về độ cao của biên giới trên cao.
Việc xác định ranh giới giữa khoảng không thuộc quyền tài phán quốc
gia và khoảng không vũ trụ trong pháp luật quốc tế cũng như trong pháp luật
quốc gia vẫn chưa có quy định cụ thể. Như đã nói ở trên, biên giới trên cao
của vùng trời thuộc quyền tài phán quốc gia chưa được xác định, đồng thời
biên giới bên trong của khoảng không vũ trụ cũng chưa được xác định, vì vậy
về mặt pháp lý chưa xác định được giới hạn giữa vùng trời thuộc quyền tài
phán quốc gia và khoảng không vũ trụ – chịu sự điều chỉnh của pháp luật
quốc tế về khoảng không vũ trụ. Xuất phát từ thực tiễn hoạt động vũ trụ, một
số quốc gia đề xuất ranh giới này nằm ở độ cao 100 km có thể chênh lệch trên
dưới 10 km. Tuy nhiên, quan điểm về đường ranh giới này không được nhiều
quốc gia trên thế giới ủng hộ và đến nay giới hạn giữa vùng trời thuộc quyền
tài phán quốc gia và khoảng không vũ trụ vẫn bỏ ngỏ.

6
Khoảng không vũ trụ theo Giáo trình Luật Quốc tế của Trường Đại học
Luật Hà Nội là “khoảng không nằm ngoài khoảng không khí quyển (môi
trường hoạt động của phương tiện bay hàng không) và các hành tinh”

[226,1].
Định nghĩa trên về khoảng không vũ trụ đã đưa ra được cách hiểu về
khoảng không vũ trụ, tuy nhiên chưa xác định ranh giới của khoảng không vũ
trụ. Nhưng có thể hiểu khoảng không vũ trụ là khoảng không nằm bên trên và
liền kề với vùng trời thuộc quyền tài phán của quốc gia. Hai vùng này có chế
độ pháp lý rất khác nhau nên việc xác định ranh giới khoảng không vũ trụ là
một yêu cầu rất cần thiết nhằm xác định cơ sở pháp lý để giải quyết các vấn
đề liên quan đến chủ quyền quốc gia đối với vùng trời và giảm bớt những
tranh chấp giữa các quốc gia khi thăm dò, sử dụng khoảng không vũ trụ.


Mặc dù có nhiều định nghĩa khác nhau về luật khoảng không vũ trụ,
nhưng có thể hiểu một cách khái quát pháp luật khoảng không vũ trụ là tổng
thể các quy phạm pháp luật điều các mối quan hệ xã hội phát sinh trong quá
trình thăm dò, khai thác và sử dụng khoảng không vũ trụ, các thiên thể.
1.1.2. Nguồn tài nguyên vũ trụ
Khi con người khai phá được khoảng không vũ trụ cũng đồng thời khai
thác sử dụng nó, dưới bàn tay khối óc của nhân loại, khoảng không vũ trụ nơi
mà trước đó vẫn còn mang tính huyền bí, thần thánh đã dần được con người
chinh phục và sử dụng để phục vụ lại chính mình. Những lợi ích mà con
người khai thác được từ khoảng không vũ trụ có thể gọi là các nguồn tài
nguyên vũ trụ là rất lớn. Các nguồn tài nguyền vũ trụ được khai thác, sử dụng
trên thực tế hiện nay và khá thông dụng trên thế giới là các dải tần số và các
vị trí quỹ đạo.
Các dải tần số và các vị trí quỹ đạo là nguồn tài nguyên vũ trụ rất quý
hiếm, được coi là tài sản chung của nhân loại, được các tổ chức quốc tế của
Liên hợp quốc quản lý một cách chặt chẽ, công bằng.

8
Các dải tần số vô tuyến điện là nguồn tài nguyên vũ trụ không bao giờ
bị cạn kiệt, không bị tác động bởi bất kỳ điều kiện nào và không bị thoái hoá
hay suy kiệt do việc sử dụng thường xuyên liên tục. Các dải tần số vô tuyến
điện trải rộng trên phạm vi nhiều quốc gia và không thể truyền nhiều tín hiệu
trên cùng một tần số, vì vậy vấn đề hợp tác quốc tế trong tổ chức sử dụng các
dải tần số vô tuyến điện được đánh giá cao.
Các vị trí quỹ đạo trong quỹ đạo địa tĩnh và quỹ đạo thấp cũng là
nguồn tài nguyên vũ trụ quý hiếm và hạn chế về mặt số lượng. Các vệ tinh
nhân tạo được đưa vào các vị trí qũy đạo riêng để khai thác, sử dụng vào
nhiều mục đích khác nhau như: thông tin viễn thông, phát sóng truyền hình,
quan sát Trái đất để dự báo các thay đổi về môi trường, biến đổi khí hậu….

Chiếm lĩnh khoảng không vũ trụ khẳng định quyền lợi và chủ quyền
của mỗi quốc gia đối với khoảng không vũ trụ. Như đã trình bày ở mục 1.1.2.
vị trí quỹ đạo địa tĩnh cho vệ tinh là hữu hạn nên việc “chiếm lĩnh” khoảng
không vũ trụ thông qua việc sử dụng vệ tinh khẳng định quyền lợi và chủ
quyền của mỗi quốc gia đối với việc sử dụng khoảng không vũ trụ.
Chiếm lĩnh khoảng không vũ trụ còn có vai trò to lớn trong quá trình
phát triển kinh tế – xã hội, bảo vệ an ninh – quốc phòng.
Nhờ có vệ tinh mà hàng tỷ cá nhân trên khắp các châu lục có thể liên
lạc với nhau một cách thuận tiện, nhanh chóng, họ có thể cùng theo dõi một
trận bóng đá, một bản nhạc, một cuộc hội nghị quan trọng…thông qua truyền
hình, phát thanh và điều này đã tiết kiệm rất nhiều chi phí cho con người, đáp
ứng nhu cầu cho con người một cách tốt nhất. Nhờ có vệ tinh mà nhiều doanh
nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thông tin, truyền thông đã thu về những
khoản lợi nhuận khổng lồ. Ngoài ra, trong hoạt động bảo vệ an ninh, quốc

10
phòng các chủng loại vệ tinh do thám hình ảnh, vệ tinh do thám tín hiệu, vệ
tinh thông tin liên lạc, vệ tinh định vị dẫn đường, các vệ tinh hỗ trợ phòng thủ
… được ứng dụng rộng rãi và trở thành nhân tố quan trọng của hoạt động này.
Các vệ tinh viễn thám có độ phân giải tối ưu phục vụ cho các hoạt động
nghiên cứu vật lý thiên văn, vật lý khí quyển, vật lý địa cầu, quan trắc trọng
trường Trái đất, các tham số khí tượng, quan trắc độ cao mực nước biển, nhiệt
độ hoặc độ mặn của các vùng biển đã phục vụ các hoạt động nghiên cứu
khoa học trái đất, nghiên cứu biến đổi khí hậu toàn cầu.
Sự tích hợp của công nghệ viễn thám, công nghệ định vị nhờ vệ tinh đã
cho phép số hoá công tác đo đạc bản đồ phục vụ cho việc xây dựng các hệ
thống quan trắc môi trường, cảnh báo sớm các thảm hoạ thiên nhiên như bão,
lũ lụt, nắng nóng, sóng thần đồng thời còn là công cụ hữu hiệu giúp con
người sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Vệ tinh ngày càng
trở thành công cụ đắc lực phục vụ các nhu cầu thiết yếu của con người, đáp

những quốc gia có trình độ phát triển kinh tế – xã hội thấp nên việc tham gia
vào các hoạt động thăm dò, khai thác, sử dụng khoảng không vũ trụ là một

12
vấn đề mới và còn hạn chế. Khi tham gia vào hoạt động này, Việt Nam phải
tôn trọng và thực hiện các cam kết quốc tế về khoảng không vũ trụ.
1.3. Lịch sử hình thành, phát triển pháp luật vũ trụ
1.3.1. Lịch sử hình thành
Hoạt động thăm dò, khai thác và sử dụng khoảng không vũ trụ của loài
người đã được bắt đầu từ những năm 50 của thế kỷ trước, đánh dấu bằng sự
kiện Liên Xô phóng thành công vệ tinh nhân tạo Spoutnik vào khoảng không
vũ trụ ngày 04/10/1957, tiếp đó là các sự kiện như: con tàu vũ trụ đầu tiên -
Voxtoc do phi công người Nga Youri Gagarin điều khiển bay quanh Trái đất
ngày 12/4/1961, sau đó vào tháng 2/1962 nhà du hành vũ trụ người Mỹ John
Glenn đã thực hiện chuyến thám hiểm vũ trụ trên con tàu Mercury và ngày
20/07/1969 con tàu Apollo 11 đưa Neil Armstrong và Edwin ldrin lên Mặt
trăng [60,4]. Chính sự chạy đua giữa Liên Xô - Hoa Kỳ, Đông – Tây trong
cuộc chiến tranh lạnh sau thế chiến thế giới thứ II đã thúc đẩy công nghệ vũ
trụ và hoạt động thăm dò, khai thác sử dụng khoảng không vũ trụ có những
bước tiến vượt bậc như trên. Tuy nhiên, sau hơn nửa thế kỷ, việc phát triển
công nghệ vũ trụ và hoạt động thăm dò, khai thác, sử dụng khoảng không vũ
trụ vì mục đích dân sự đã thay thế cho mục đích chính trị trước đó, chính sự
chuyển hướng này đã đem lại những lợi ích to lớn cho các quốc gia trong quá
trình phát triển kinh tế – xã hội, văn hóa, giáo dục, y tế, an ninh, quốc phòng,
đặc biệt là ngành công nghiệp viễn thông qua vệ tinh vì mục đích thương
mại…, ngoài ra, một số nước trên thế giới còn đặt ra mục tiêu xây dựng căn
cứ trên mặt trăng để khai thác, trung chuyển người lên sao Hoả hay các nhà
khoa học Mỹ hiện đang nghiên cứu về việc trồng cây trên Mặt trăng…
Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực mà thành quả của công nghệ
vũ trụ và hoạt động thăm dò, khai thác, sử dụng khoảng không vũ trụ đạt được

phi hành gia, chia sẻ thông tin về tiềm năng nguy hiểm trong không gian bên
ngoài, sử dụng không gian liên quan đến công nghệ vũ trụ và vấn đề hợp tác
quốc tế… Chính hệ thống các quy phạm pháp luật này đã thiết lập một trật tự
pháp lý chung cho hoạt động thăm dò, khai thác, sử dụng khoảng không vũ
trụ của nhân loại trong giai đoạn hiện nay, đồng thời phân chia rõ ràng quyền,
nghĩa vụ đối với các chủ thể trong hoạt động này.
1.3.2. Khái quát cơ sở pháp luật về khoảng không vũ trụ
Luật khoảng không vũ trụ là một ngành luật mới nhưng đến nay các
quy phạm pháp luật về khoảng không vũ trụ đã được hình thành và trở thành
một hệ thống quy phạm pháp luật khá hoàn chỉnh. Cũng như các ngành luật
khác, hệ thống các quy phạm pháp luật về khoảng không vũ trụ gồm các điều
ước quốc tế; các hiệp định khoa học – kỹ thuật quốc tế liên quan đến hoạt
động của các quốc gia trong vũ trụ; tập quán vũ trụ quốc tế; pháp luật quốc
gia…
Trong hệ thống quy phạm pháp luật về khoảng không vũ trụ 5 bộ
nguyên tắc được ghi nhận trong các Nghị quyết của Đại hội đồng Liên hợp
quốc và 5 điều ước quốc tế về vũ trụ được coi là các nguyên tắc và quy phạm
pháp lý cơ bản:

15
1.3.2.1. Năm điều ước quốc tế về khoảng không vũ trụ [40] gồm:
a. The Treaty on Principles Governing the Activities of State in the
exploration and use of outer space, including the Moon and other celestial
bodies (the outer space treaty, adopted by the General Assembly in its
resolution 2222 (XXI), opened for signature on 27 January 1967, entered into
force on 10 October 1967.
Hiệp ước về các nguyên tắc hoạt động của quốc gia trong nghiên cứu
và sử dụng khoảng không vũ trụ kể cả Mặt trăng và các thiên thể khác. Hiệp
ước về khoảng không vũ trụ này được thông qua trong Nghị quyết 2222
(XXI) năm 1967 của Đại hội đồng Liên hợp quốc. Hiệp ước được ký vào

thông qua bởi Nghị quyết 3235 (XXIX) của Đại hội đồng Liên hợp quốc, ký
kết ngày 14/01/1975, có hiệu lực ngày 15/9/1976.
Tính đến ngày 01/01/2008, Công ước có 4 quốc gia ký kết, 51 quốc gia
phê chuẩn và 2 quốc gia cam kết thực hiện quyền và nghĩa vụ.
e. The Agreement governing the activities of States on the Moon and
other celestial bodies (the “Moon agreement”, adopted by the General
assembly in its resolution 34/68), opened for signature on 18 December 1979,
entered into forced on 11 July 1984.
Công ước về hoạt động của các quốc gia trên Mặt trăng và các thiên thể
khác. Công ước được thông qua bởi Nghị quyết 34/68 của Đại hội đồng Liên
hợp quốc, ký kết ngày 18/12/1979, có hiệu lực từ ngày 11/7/1984.
Tính đến ngày 01/01/2008, Công ước có 4 quốc gia ký kết và 13 quốc
gia phê chuẩn.
Có thể khái quát các nguyên tắc chung mà 5 công ước trên bao gồm
nguyên tắc bất kỳ một quốc gia nào cũng không được chiếm dụng riêng
khoảng không vũ trụ cho quốc gia mình; nguyên tắc kiểm soát vũ khí; tự do

Trích đoạn Quy chế pháp lý quốc tế đối với việc quan sát Trái đất từ khoảng không vũ trụ Quy chế pháp lý quốc tế về việc sử dụng nguồn năng lượng hạt nhân trong khoảng không vũ trụ Quy chế pháp lý quốc tế đối với việc khai thác và sử dụng Mặt trăng và các thiên thể Các quy định về việc nghiên cứu, sử dụng Mặt trăng Trách nhiệm bồi thường thiệt hạ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status