hoạt động bảo đảm tiền vay bằng tài sản cầm cố, thế chấp tại Sở giao dịch I - Ngân hàng Công thương Việt Nam - Pdf 25

Website: Email : Tel : 0918.775.368
LỜI NÓI ĐẦU
Trong bất kỳ một nền kinh tế nào, ngành Ngân hàng luôn có một vị trí quan
trọng, và vai trò của nó càng vô cùng to lớn hơn trong một nền kinh tế thị trường
theo định hướng xã hội chủ nghĩa như ở nước ta hiện nay. Trong đó phải kể đến
hoạt động cho vay của ngân hàng. Bởi vì nước ta phải trải qua 2 cuộc kháng
chiến, sau khi giành được thắng lợi, đất nước được độc lập lúc đó ta mới có điều
kiện xây dựng kinh tế. Các doanh nghiệp phần lớn đều bước vào thương trường
với kiến thức kinh doanh ít ỏi, công nghệ nghèo nàn lạc hậu, hơn nữa đất nước
ta duy trì chế độ bao cấp quá lâu càng khiến cho các doanh nghiệp hoạt động trì
trệ kém hiệu quả. Điều đó đương nhiên cũng dẫn tới hiệu quả cho vay của ngân
hàng là kém, gây thất thoát cho ngân sách Nhà nước. Từ năm 1986 nước ta
chuyển sang nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp phải tự bươn chải làm ăn,
nền kinh tế phát triển hơn lên và hoạt động cho vay của ngân hàng thực sự phát
huy được hiệu quả. Hoạt động cho vay của ngân hàng góp phần phát triển kinh
tế đất nước, tạo ra những động lực mới cho cải cách kinh tế, dẫn đến sự hình
thành và phát triển đa dạng nhiều loại ngành nghề, hình thức kinh doanh. Đặc
biệt trong những năm gần đây theo chủ trương của Chính phủ, ngân hàng đã
mạnh dạn cho vay các thành phần kinh tế mới như Công ty cổ phần, Công ty
trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp tư nhân... tạo điều kiện cho họ phát triển,
giải quyết thêm nhiều công ăn việc làm cho người lao động. Các hình thức bảo
đảm tiền vay đã đa dạng hơn xưa: người vay có thể bảo đảm tiền vay bằng tài
sản cầm cố, thế chấp hoặc bảo đảm bằng tài sản hình thành từ vốn vay, bảo lãnh
bằng tài sản của bên thứ 3; kể cả bảo đảm tiền vay trong trường hợp cho vay
không có bảo đảm bằng tài sản. Về phía ngân hàng bao giờ vấn đề hiệu quả hoạt
động bảo đảm tiền vay cũng phải được đưa lên hàng đầu. Có như thế ngân hàng
mới thu hồi được vốn và có lãi, trang trải chi phí; rồi lại tiếp tục sử dụng vốn
Website: Email : Tel : 0918.775.368
quay vòng phát huy được hiệu quả. Nhưng trong thực tế không phải lúc nào tiền
vay cũng thu hồi lại được đầy đủ và có lãi, vì có rất nhiều nguyên nhân từ môi
trường kinh tế, môi trường pháp lý của Nhà nước, … và một phần không nhỏ về

hoạt động ổn định, các nghiệp vụ được xen kẽ lẫn nhau trong suốt quá trình hoạt
động, tạo thành một chỉnh thể thống nhất.
*Nghiệp vụ nợ (nghiệp vụ tạo lập vốn): Đây là nghiệp vụ khởi đầu tạo điều
kiện cho sự hoạt động của ngân hàng. Về sau khi NHTM đã ổn định các nghiệp
vụ của nó được xen kẽ lẫn nhau trong suốt quá trình hoạt động. Huy động các
nguồn vốn khác nhau (tài sản nợ) trong hoạt động là lẽ sống quan trọng nhất của
các NHTM. Một ngân hàng không thể hình thành, lớn mạnh và phát triển mà lại
không đặt vấn đề huy động vốn lên hàng đầu. NHTM là người đi vay, tài sản nợ
Website: Email : Tel : 0918.775.368
bao gồm những khoản mà nhân dân gửi vào (ký thác) cho ngân hàng, hay ngân
hàng đi vay các đối tượng trong nền kinh tế như ngân hàng trung ương(NHTW),
các ngân hàng hay tổ chức tài chính khác, chính quyền, nước ngoài, các doanh
nghiệp …
- Tài sản nợ của NHTM tập trung vào 5 nhóm phổ biến: 1) Vốn pháp định
hay vốn điều lệ, 2) Tiền gửi không kỳ hạn, 3) Tiền gửi có kỳ hạn và tiết kiệm, 4)
Các khoản vay trên thị trường tiền tệ, 5) Các khoản vay của các ngân hàng khác
hoặc NHTW. Vốn pháp định là điều kiện bắt buộc ban đầu trước khi ngân hàng
được phép khai trương (hay còn gọi là vốn điều lệ) và được ghi rõ trong điều lệ
hoạt động của NHTM. Vốn điều lệ ít nhất phải bằng mức vốn pháp định do ngân
hàng Nhà nước công bố vào đầu mỗi năm tài chính. Vốn điều lệ quy định cho
một ngân hàng nhiều hay ít tuỳ thuộc vào quy mô và phạm vi hoạt động. Vốn
điều lệ sẽ được bổ sung và tăng dần dưới các hình thức: huy động thêm vốn từ
các cổ đông, ngân sách cấp lợi nhuận bổ sung … Vốn này chủ yếu được dùng để
mua sắm bất động sản, động sản, trang thiết bị … cho hoạt động ngân hàng,
ngoài ra còn được dùng để góp vốn liên doanh, cho vay, mua cổ phần của các
Công ty khác. Không được dùng vốn điều lệ để chia lợi tức, lập quỹ phúc lợi
khen thưởng. Như vậy đến khi hoạt động, vốn điều lệ của ngân hàng có thể đã
nằm dưới dạng trụ sở, văn phòng, kho bãi, xe cộ, trang thiết bị, dự trữ hay ký
quỹ tại NHTW, hoặc đã đầu tư vào một thương vụ nào đó.
ở Việt Nam để thành lập một NHTM trước hết phải có đủ vốn pháp định

tiền hơn. Vốn tự có có 3 chức năng: Chức năng bảo vệ (sự bảo đảm thanh toán
cho người ký thác khi vỡ nợ, góp phần duy trì khả năng trả nợ, bằng cách cung
cấp một khoản tài sản dự trữ để ngân hàng khỏi bị đe dọa bởi sự thua lỗ để có
thể tiếp tục hoạt động); chức năng hoạt động (xây dựng trụ sở, trang thiết bị
Website: Email : Tel : 0918.775.368
phục vụ cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng); chức năng điều chỉnh (thoả
mãn các cơ quan quản lý ngân hàng: xem xét cấp giấy phép hoạt động, thiết lập
các chi nhánh, giới hạn tín dụng đầu tư và mua sắm tài sản của ngân hàng).
- Nghiệp vụ ký thác: Do khách hàng gửi vào và để lại trong tài khoản của họ
tại ngân hàng; theo 2 mục đích: hưởng các lợi ích của các phương tiện mà ngân
hàng có thể cung cấp cho họ, thứ hai là lấy lãi suất như các số tiền gửi vào sổ
tiết kiệm hay vào các tài khoản định kỳ (trong trường hợp này thì khách hàng
không còn quyền sử dụng các dịch vụ của ngân hàng như dùng séc để thanh toán
chẳng hạn).
Ký thác của ngân hàng chủ yếu từ 2 nguồn: Từ doanh nhân và từ dân cư.
Luật pháp quy định rõ trách nhiệm và quyền lợi của ngân hàng khi nhận ký thác
và chính nghiệp vụ ký thác còn cung cấp một tiêu chuẩn để phân biệt giữa ngân
hàng và các tổ chức tài chính trung gian khác. Về phương diện pháp lý, NHTM
trở thành người bảo quản các số tiền gửi dưới bất kỳ hình thức nào và được
quyền sử dụng các số tiền đó trong các nhu cầu hoạt động chuyên môn của
mình, nhưng đồng thời cũng có trách nhiệm hoàn lại vốn trong các điều kiện đã
được quy định.
Các khoản tiền ký thác được phân loại thành: Tiền gửi có kỳ hạn và tiết
kiệm, tiền gửi không kỳ hạn.
- Nghiệp vụ đi vay: Sau khi đã sử dụng hết vốn nhưng vẫn chưa đáp ứng nhu
cầu vay vốn của khách hàng hoặc phải đáp ứng nhu cầu thanh toán và chi của
khách hàng, các NHTM có thể vay ở NHTW, ở các NHTM khác, vay ở thị
trường tiền tệ, vay các tổ chức nước ngoài … Vốn đi vay chỉ chiếm một tỷ trọng
có thể chấp nhận được trong kết cấu nguồn vốn, nhưng nó rất cần thiết và có vị
trí quan trọng để bảo đảm cho ngân hàng hoạt động kinh doanh một cách bình

Nghiệp vụ trung gian gồm rất nhiều loại dịch vụ ngân hàng khác nhau, chủ
yếu là các công cụ thanh toán không dùng tiền mặt như sau:
- Dịch vụ chuyển khoản từ tài khoản này sang tài khoản khác cùng ở một
ngân hàng hay ở 2 ngân hàng khác nhau, thông qua các công cụ như séc, lệnh
chi, thẻ chi trả.
- Dịch vụ thu hộ và chi hộ cho khách hàng có tài khoản tiền gửi thanh toán
tại ngân hàng. Việc chi hộ ngân hàng chỉ tiến hành khi có lệnh của chủ tài
khoản.
- Dịch vụ trả lương cho các doanh nghiệp có nhu cầu. Đến tháng doanh
nghiệp chỉ cần gửi bảng lương qua ngân hàng, theo đó ngân hàng sẽ ghi nợ vào
tài khoản doanh nghiệp đó và tiến hành chi lương cho những người có tên trong
danh sách tiền lương.
- Dịch vụ chuyển tiền tự địa phương này sang địa phương khác.
- Dịch vụ khấu trừ tự động cũng là dịch vụ với khách hàng là cá nhân. Theo
đó nếu khách hàng cho phép, ngân hàng sẽ tự động ghi nợ tài khoản của khách
hàng để thanh toán các hoá đơn đòi tiền do các đơn vị dịch vụ gửi đến như: trả
tiền điện, nước, điện thoại, thuê nhà … Đây là những khoản chi thường xuyên
trong tháng, nếu không có dịch vụ này khách hàng sẽ tốn nhiều thời gian và
phiền toái khi đi thanh toán các khoản này.
1.1.3 Hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại:
Là hoạt động kinh doanh chủ chốt của NHTM để tạo ra lợi nhuận. Chỉ có
lãi suất thu được từ cho vay mới bù nổi chi phí tiền gửi, chi phí dự trữ, chi phí
kinh doanh và quản lý, chi phí thuế các loại và chi phí rủi ro đầu tư. Kinh tế
càng phát triển, lượng cho vay của các NHTM càng tăng nhanh và loại hình cho
Website: Email : Tel : 0918.775.368
vay cũng trở nên vô cùng đa dạng. ở các nước đang phát triển (cả Việt Nam) khi
cho vay ngắn hạn chiếm bộ phận lớn hơn cho vay dài hạn.
Cho vay của NHTM, nói rộng ra là tín dụng của NHTM xét về mặt pháp lý
có thể phân thành 3 loại: Cho vay ứng trước, Cho vay dựa trên việc chuyển
nhượng trái quyền, và cho vay qua chữ ký (cho vay qua việc cam kết bằng chữ

ngân hàng thẩm định. Nếu phát hiện khách hàng vi phạm nguyên tắc này, ngân
hàng có quyền thu hồi nợ trước hạn, nếu khách hàng không có tiền thì chuyển
nợ quá hạn.
- Vốn vay phải có tài sản tương đương làm đảm bảo: Tài sản này có thể là
hình thành từ vốn vay ngân hàng, là tài sản của người đi vay hoặc còn có thể là
tín chấp hoặc bảo lãnh của người thứ 3.
Có các loại đảm bảo tín dụng:
* Đảm bảo đối nhân: Là sự cam kết của một hay nhiều người về việc phải
trả nợ thay cho ngân hàng thay cho một khách hàng khi khách hàng này không
hoàn trả được nợ cho ngân hàng. Người đứng ra bảo lãnh phải thoả mãn các
điều kiện sau: có đủ năng lực pháp lý, đủ năng lực tài chính lành mạnh, có khả
năng trả nợ thay cho người vay vốn, phải có tài sản thế chấp, cầm cố.
Việc bảo lãnh phải được lập thành văn bản pháp lý gọi là hợp đồng bảo lãnh.
Hợp đồng đó phải có chứng nhận của cơ quan công chứng hoặc chứng thực của
Uỷ ban nhân dân quận, thị xã thuộc tỉnh, thành phố.
* Đảm bảo đối vật: Có 2 hình thức là thế chấp tài sản và cầm cố tài sản. Thế
chấp tài sản là việc bên vay dùng tài sản là bất động sản thuộc sở hữu của mình
để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ đối với bên cho vay. Bên đi vay vẫn tiếp
Website: Email : Tel : 0918.775.368
tục sử dụng tài sản thế chấp và chỉ giao cho bên cho vay giấy chủ quyền của tài
sản đó. Còn cầm cố tài sản là việc bên đi vay có nghĩa vụ giao tài sản là động
sản thuộc quyền sở hữu cuả mình cho bên cho vay để đảm bảo thực hiện nghĩa
vụ trả nợ.
+ Cho vay dựa trên việc chuyển nhượng trái quyền: Chủ yếu dựa trên cơ sở
mua bán các công cụ tài chính (hối phiếu, lệnh phiếu, ký hoá phiếu …) tạo ra
nghiệp vụ chiết khấu thương phiếu của ngân hàng, tức là mua nợ tính trên
khoảng thời gian còn lại cho đến lúc đáo hạn của thương phiếu. Ngân hàng
không phải cho vay mà là được mua một trái phiếu về phương diện pháp lý, việc
thu nợ có cơ sở vững chắc.
Chiết khấu thương phiếu đem lại lợi nhuận cao mà tương đối ít rủi ro so với

sản, cho vay không có bảo đảm, chịu trách nhiệm về quyết định của mình.
Trường hợp TCTD Nhà nước cho vay không có bảo đảm bằng tài sản theo chỉ
định của Chính phủ thì tổn thất do nguyên nhân khách quan của các khoản cho
vay này được chính phủ xử lý.
+ Khách hàng vay được TCTD lựa chọn cho vay không có bảo đảm bằng tài
sản, nếu trong quá trình sử dụng vốn vay TCTD phát hiện khách hàng vay vi
phạm cam kết trong hợp đồng tín dụng thì TCTD có quyền áp dụng các biện
pháp bảo đảm bằng tài sản hoặc thu hồi nợ trước hạn.
+ TCTD có quyền xử lý tài sản bảo đảm tiền vay để thu hồi nợ khi khách
hàng vay hoặc bên bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa
vụ trả nợ đã cam kết.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
+ Sau khi xử lý tài sản bảo đảm tiền vay nếu khách hàng vay hoặc bên bảo
lãnh vẫn chưa thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ, thì khách hàng vay hoặc bên bảo
lãnh có trách nhiệm tiếp tục thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ đã cam kết.
1.2.2 Hình thức đảm bảo tiền vay bằng tài sản:
Là việc TCTD áp dụng các biện pháp nhằm phòng ngừa rủi ro, tạo cơ sở
kinh tế và pháp lý để thu hồi được các khoản nợ đã cho khách hàng vay.
+ Cầm cố, thế chấp bằng tài sản của khách hàng vay:
Các tài sản cầm cố, thế chấp phải hội tụ đủ các điều kiện sau:
-Thuộc sở hữu của khách hàng vay. Trường hợp tài sản mà pháp luật quy
định phải đăng ký quyền sở hữu thì khách hàng vay phải có giấy chứng nhận
quyền sở hữu tài sản. Đối với quyền sử dụng đất khách hàng vay phải có giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất và được thế chấp theo quy định của pháp luật về
đất đai. Đối với tài sản mà Nhà nước giao cho doanh nghiệp Nhà nước quản lý,
sử dụng, doanh nghiệp được cầm cố, thế chấp theo quy định của pháp luật về
doanh nghiệp Nhà nước và pháp luật khác có liên quan .
-Được phép giao dịch: nghĩa là pháp luật cho phép hoặc không cấm mua,
bán, tặng, cho, chuyển nhượng, chuyển đổi, cầm cố, thế chấp và các giao dịch
khác.

tư của dự án
-Đối với tài sản :
Website: Email : Tel : 0918.775.368
• Phải xác định được quyền sở hữu hoặc được giao quyền sử dụng; giá
trị, số lượng và được phép giao dịch. Nếu tài sản là bất động sản gắn
liền với đất thì phải có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với
khu đất mà trên đó tài sản sẽ được hình thành và phải hoàn thành các
thủ tục về đầu tư, xây dựng theo quy định của pháp luật .
• Đối với tài sản mà pháp luật có quy định phải mua bảo hiểm thì khách
hàng vay phải cam kết mua bảo hiểm trong suốt thời hạn vay vốn khi
tài sản đã được hình thành, đưa vào sử dụng .
1.2.3 Hình thức đảm bảo tiền vay trong trường hợp cho vay không có bảo
đảm bằng tài sản:
+ TCTD chủ động lựa chọn khách hàng vay không có bảo đảm bằng tài sản:
-Điều kiện đối với khách hàng vay không có bảo đảm bằng tài sản :
• Có tín nhiệm đối với TCTD cho vay trong việc sử dụng vốn vay và trả
nợ đầy đủ, đúng hạn cả gốc và lãi
• Có dự án đầu tư hoặc phương án sản xuất kinh doanh, dịch vụ khả
thi, có khả năng hoàn trả nợ; hoặc có dự án phục vụ đời sống khả thi,
phù hợp với quy định của pháp luật
• Có khả năng tài chính để thực hiện nghĩa vụ trả nợ
• Cam kết thực hiện biện pháp bảo đảm bằng tài sản theo yêu cầu của
TCTD nếu sử dụng vốn vay không đúng cam kết trong hợp đồng tín
dụng; cam kết trả nợ trước hạn nếu không thực hiện được các biện
pháp bảo đảm bằng tài sản quy định tại điểm này
-Đối với khách hàng vay là doanh nghiệp, ngoài các điều kiện trên còn phải
có kết quả sản xuất kinh doanh có lãi trong 2 năm liền kề với thời điểm xem xét
cho vay
Website: Email : Tel : 0918.775.368
+ TCTD Nhà nước được cho vay không có bảo đảm theo chỉ định của Chính

thực hiện bảo lãnh bằng tín chấp cho cá nhân, hộ gia đình nghèo vay vốn tại
các TCTD
-Người được bảo lãnh là cá nhân, hộ gia đình nghèo là thành viên của một
trong các tổ chức đoàn thể chính trị, xã hội quy định tại điểm trên khi vay
một khoản tiền nhỏ tại TCTD để sản xuất kinh doanh, làm dịch vụ
-Mức vay tối đa do ngân hàng Nhà nước Việt nam quy định trong từng thời
kỳ
-Việc bảo lãnh này phải được lập thành văn bản, trong đó ghi rõ các nội
dung: số tiền vay, mục đích vay, nghĩa vụ của người vay, TCTD cho vay và
tổ chức bảo lãnh.
1.3 Quan niệm về hiệu quả bảo đảm tiền vay:
NHTM là một doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ, mục tiêu hoạt động thì nhiều
và hiệu quả bảo đảm tiền vay là một trong những mục tiêu quan trọng ngân hàng
luôn hướng tới. Có thu hồi được nợ cho vay, có lãi; ngân hàng mới tiếp tục có
vốn để tái sản xuất, không ngừng nâng cao uy tín và chất lượng của mình trên
thương trường, tìm tòi ra những hình thức dịch vụ mới phục vụ khách hàng được
tốt hơn; từ đó thúc đẩy nền kinh tế phát triển chính là mục tiêu hoạt động ngay
từ khi NHTM mới thành lập. Nhưng dù cho ngân hàng có thẩm định dự án vay
vốn của khách hàng, đánh giá phương án sản xuất kinh doanh, phân tích tài
chính khách hàng tốt đến đâu đi chăng nữa vẫn không thể nói là có sự hoàn hảo,
ngoài ra còn kể đến những sự biến đổi thị hiếu, nhu cầu đột ngột của người tiêu
dùng, ảnh hưởng thời tiết, những biến động kinh tế trong và ngoài nước chưa thể
Website: Email : Tel : 0918.775.368
lường hết được. Bản thân khách hàng khi vay vốn ngân hàng họ không hề có ý
định trốn tránh trách nhiệm trả nợ vay của mình đối với ngân hàng nhưng họ bị
lâm vào những tình huống bất ngờ, mất khả năng trả nợ cho ngân hàng từ đó
trốn tránh trách nhiệm trả nợ. Hiệu quả bảo đảm tiền vay tốt biểu hiện ngân hàng
cẩn thận, có trách nhiệm cao trong hoạt động của mình, tất cả các khâu từ thẩm
định, đánh giá, phân tích tài chính cho đến ước lượng trước được những biến
động trong tương lai (chỉ là tương đối). Điều này cũng biểu hiện là ngân hàng

được sự biến động này,dẫn đến phần lớn khi phát mại ngân hàng phải chấp nhận
thu hồi chỉ được một phần nhỏ giá ngân hàng đưa ra ban đầu ; đó là chưa kể đến
hàng loạt các chi phí khác ngân hàng phải bỏ ra như chi phí cưỡng chế thu hồi
nhà đất trong trường hợp người vay liều lĩnh bất chấp không giao nhà cho ngân
hàng, chi phí cho việc cung cấp tạm nơi cư trú cho họ, chi phí cho công
chứng,toà án ....
Còn đối với thiết bị máy móc dây chuyền sản xuất là tài sản cầm cố, thế
chấp; giá trị của những tài sản này cứ bị hao mòn đi một cách vô hình theo sự
phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ .Máy móc sau hiện đại hơn, tinh
vi và hiệu quả hơn so với máy móc cũ và vô hình chung đẩy giá trị của máy cũ
ngày càng giảm đi. Để đối phó lại các chủ doanh nghiệp phải tận dụng được
máy móc từng ngày từng giờ, phát huy hết hiệu quả công suất của máy; đến khi
ngân hàng nhận tài sản cầm cố thế chấp để phát mại thì ngay bản thân máy móc
đó cũng đã quá sập xệ, hao mòn hữu hình rồi.
Đảm bảo tiền vay bằng tài sản cầm cố, thể chấp không phải chỉ có những
khó khăn trên mà ngay trong thực tế còn nhiều vấn đề phát sinh nữa ngay từ
trong những văn bản về hoạt động này .Các văn bản chồng chéo lên nhau giữa
các Bộ, ngành, Chính phủ và cả Ngân hàng Nhà Nước; thậm chí có nơi xử ký
Website: Email : Tel : 0918.775.368
theo kiêủ này, nơi kia xử ký theo kiểu khác vì sự hiểu và vận dụng khác nhau.
Nhưng chung quy lại cái thiệt nhìn thấy rõ nhất vẫn là về phía ngân hàng .
Nâng cao hiệu quả đảm bảo tiền vay bằng tài sản cầm cố, thế chấp chính là
việc tìm ra giải pháp để tháo gỡ khó khăn cho các hoạt động này, tìm giải pháp
bình ổn thị trường giá cả, tăng thêm quyền tự chủ hơn nữa cho các NHTM, hoàn
thiện hệ thống văn bản pháp qui trong hoạt động ngân hàng .Điều này càng thiết
thực hơn trong giai đoạn hiện nay khi ngành ngân hàng đang nỗ lực để có một
sự biến đổi vượt bậc, một bước cải cách trong toàn hệ thống nhằm nhanh chóng
đưa nền kinh tế nước ta phát triển đi lên, hội nhập với khu vực và thế giới .
chương ii
Thực trạng đảm bảo tiền vay bằng tài sản cầm cố, thế chấp tại Sở giao

quỹ tiết kiệm theo đúng chế độ hiện hành của Tổng giám đốc NHCTVN.
- Lập kế hoạch kinh doanh (hàng quý kết hợp với phòng kinh doanh, theo
các chỉ tiêu của NHCTVN giao)
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Tổng hợp phân tích báo cáo mọi tình hình hoạt động của Sở theo yêu cầu
của giám đốc Sở, giám đốc Ngân hàng Nhà nước trên địa bàn, Tổng giám đốc
NHCTVN.
- Tổng hợp báo cáo các vấn đề liên quan đến thi đua khen thưởng tại Sở theo
đúng cơ chế hiện hành của Tổng giám đốc NHCTVN.
- Làm các việc khác do Giám đốc Sở giao.
*Phòng kinh doanh:
- Thực hiện cho vay, thu nợ ngắn hạn, trung dài hạn bằng VNĐ hoặc ngoại
tệ, đối với các tổ chức kinh tế, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế theo đúng
cơ chế tín dụng của ngân hàng Nhà nước và hướng dẫn của Tổng giám đốc
NHCTVN.
- Thực hiện bảo lãnh cho các doanh nghiệp để tham gia dự thầu, thực hiện
hợp đồng thanh toán mua hàng trả chậm theo đúng hướng dẫn của NHCTVN.
- Chiết khấu thương phiếu, kỳ phiếu, trái phiếu và các chứng từ có giá theo
quy định của Thống đốc ngân hàng Nhà nước và Tổng giám đốc NHCTVN.
- Nghiên cứu đề xuất biện pháp giải quyết vướng mắc trong hoạt động kinh
doanh tại Sở, phản ánh kịp thời những vấn đề mới phát sinh để báo cáo Tổng
giám đốc NHCTVN xem xét, giải quyết.
- Phân tích hoạt động kinh doanh của khách hàng vay vốn tại Sở, cung cấp
kịp thời có chất lượng các báo cáo, thông tin về công tác tín dụng cho lãnh đạo
Sở và các cơ quan hữu quan theo đúng quy định của Tổng giám đốc NHCTVN.
- Làm một số công việc khác do giám đốc Sở giao.
*Phòng kế toán - tài chính:
- Thực hiện mở tài khoản và giao dịch với khách hàng theo đúng quy định
của Thống đốc ngân hàng Nhà nước và Tổng giám đốc NHCTVN; hạch toán kịp
Website: Email : Tel : 0918.775.368

Đến nay tại Sở đã có hơn 5880 khách hàng đến mở tài khoản giao dịch và
53000 khách hàng tin tưởng đến gửi tiền tiết kiệm VND và ngoại tệ. Điều này
chứng tỏ Sở đã thực sự trở thành địa chỉ tin cậy của mọi doanh nghiệp và mọi
khách hàng dân cư. Mặt khác, phát huy lợi thế có trụ sở đóng tại trung tâm thủ
đô, Sở luôn quan tâm nắm bắt thị trường, mở thêm điểm giao dịch nhằm duy trì
mở rộng thị phần huy động và cho vay vốn.
Biểu 1. Tình hình huy động vốn của Sở GD I-NHCTVN
Đơn vị: tỷ đồng
Chỉ tiêu 1999 2000 2001
Số
tiền
Tỷ
trọng
(%)
Số
tiền
Tỷ
trọng
(%)
Số tiền Tỷ
trọng
(%)
Tổng nguồn vốn huy động 7.779 100% 9.263 100% 11.588 100%
I. Phân loại theo đối tượng
- Tiền gửi của doanh nghiệp 5.216 67 6.286 68 8.113 71
- Tiền gửi của dân cư 2.563 33 2.997 32 3.409 29
II. Phân loại theo kỳ hạn
- Không kỳ hạn 4.137 53 5.236 56 6.903 60
- Có kỳ hạn 3.642 47 4.027 44 4.685 40
III. Phân loại theo đvị tiền tệ

ngày 31/12/2001, tổng dư nợ cho vay và đầu tư vốn của Sở đạt 2.089 tỷ đồng,
riêng dư nợ cho vay nền kinh tế đạt 1.497 tỷ đồng, tăng 251 tỷ đồng so với năm
2000. Gần đây Sở đã mở rộng cho vay đối với mọi đối tượng khách hàng cho tất
cả các thành phần kinh tế, không có sự phân biệt. Song chúng ta có thể thấy dư
nợ tăng lên chủ yếu là tăng dư nợ trung dài hạn, đặc biệt đáng chú ý là trong khi
nguồn vốn tăng nhanh từ 20-25%/năm nhưng dư nợ cho vay tại Sở lại tăng chậm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status