Cải cách thủ tục hành chính tại Ủy ban Nhân dân tỉnh Ninh Bình - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

DƯƠNG THỊ TƯƠI CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH
TẠI ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2010
MỤC LỤC
Trang

Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt MỞ ĐẦU
1

Chƣơng 1: TỔNG QUAN VỀ THỦ TỤC HÀNH CHÍNH VÀ CẢI
CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH
10
1.1.
1.1.1.

nhà nước giai đoạn 2001 – 2010
Yêu cầu cải cách thủ tục hành chính
Cải cách thủ tục hành chính theo Đề án 30
Mục tiêu Đề án 30
Kế hoạch thực hiện Đề án 30
Vai trò của công dân và doanh nghiệp trong việc thực hiện
Đề án 30
10
10
10
14

16

18
18
20
22
22
22

25
27
27
29
31
2.1.

Kết quả cải cách thủ tục hành chính giai đoạn I
Kết quả cải cách thủ tục hành chính giai đoạn II
Tình hình và kết quả triển khai cải cách thủ tục hành chính
giai đoạn III
Đánh giá chung về thực trạng cải cách thủ tục hành chính tại
Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Bình
Đánh giá chung về cải cách thủ tục hành chính dưới góc độ
lý luận nhà nước và pháp luật thể hiện mối quan hệ giữa nhà
nước và công dân
Đánh giá chung về tổ chức và thực hiện cải cách thủ tục
hành chính tại Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Bình
34

34

35 39 41
41
46
49

54

55


73 3.2.

3.2.1.

3.2.2.

3.2.3. 3.2.4.

3.3.

3.3.1.
3.3.1.1.

3.3.1.2.

3.3.1.3.

3.3.2.
3.3.2.1.
3.3.2.2.
3.4.

Phương hướng cải cách thủ tục hành chính tại Ủy ban nhân
dân tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2011 - 2020

78
78 80

81

81
81

85

87

90
90
91
93

97
102 DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

TTHC

bốn lĩnh vực cải cách là cải cách thể chế, cải cách tổ chức bộ máy hành chính,
xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ, công chức và cải cách tài chính công;
trong chín mục tiêu cụ thể, có một mục tiêu về cải cách thủ tục hành chính là
"Xóa bỏ về cơ bản các thủ tục hành chính mang tính quan liêu, rườm rà, gây

2
phiền hà cho doanh nghiệp và nhân dân; hoàn thiện các thủ tục hành chính
mới theo hướng công khai, đơn giản và thuận tiện cho dân" [3].
Mặc dù, dưới sự chỉ đạo của Chính phủ và sự nỗ lực của các cấp, các
ngành thực hiện từng bước cải cách nền hành chính nhà nước, cải cách thủ tục
hành chính nhưng công cuộc cải cách hành chính nhà nước nói chung và cải
cách thủ tục hành chính nói riêng vẫn còn nhiều vấn đề hạn chế, vướng mắc
đòi hỏi Đảng và Nhà nước ta cần phải có những giải pháp tạo bước chuyển
biến tích cực, đặc biệt là trong công cuộc cải cách thủ tục hành chính, điều đó
đã được thể hiện tại Quyết định số 30/QĐ-TTg ngày 10/01/2007 của Thủ
tướng Chính phủ phê duyệt Đề án đơn giản hóa thủ tục hành chính trên các
lĩnh vực quản lý nhà nước giai đoạn 2007- 2010 (sau đây gọi tắt là Đề án 30).
Mục tiêu đơn giản hóa thủ tục hành chính nhằm bảo đảm sự thống nhất, đồng
bộ, đơn giản, công khai, minh bạch của thủ tục hành chính; tạo sự thuận lợi
cho cá nhân, tổ chức và doanh nghiệp trong tiếp cận và thực hiện thủ tục hành
chính; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy phát triển
kinh tế - xã hội, góp phần phòng, chống tham nhũng và lãng phí.
Năm 2010 được coi là năm bản lề, kết thúc giai đoạn III thực hiện Đề
án 30, do đó, ngày 29 tháng 5 năm 2009 Kế hoạch truyền thông Đề án 30 đã
được phê duyệt tại Quyết định số 632/QĐ-VPCP với mục tiêu cùng "chung
tay cải cách thủ tục hành chính" nhằm tạo dựng niềm tin, sự đồng thuận và
thúc đẩy tinh thần quyết tâm của các Bộ, ngành, cơ quan ngang bộ, Ủy ban
nhân dân các tỉnh, thành phố… trong công cuộc cải cách thủ tục hành chính,
phấn đấu thực hiện thành công Đề án 30.
Trong những năm qua, thực hiện các chủ trương, đường lối chính sách

Trong Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn
2001-2010 và Đề án 30, cải cách thủ tục hành chính được nghiên cứu dưới
góc độ như một chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước
trong quản lý hành chính, thực hiện chức năng chấp hành, điều hành.

4
Dưới góc độ lý luận nhà nước và pháp luật nghiên cứu về thủ tục hành
chính, cải cách hành chính và cải cách thủ tục hành chính luôn là đề tài thu
hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học, chuyên gia, nhà quản lý. Các đề tài
này đã được thảo luận tại các Hội thảo, thể hiện tại bài viết, các công trình
nghiên cứu về quá trình cải cách hành chính, cải cách thủ tục hành chính ở
Việt Nam và tại một số tỉnh thành trong cả nước. Cụ thể, Tác giả Mai Hữu
Khuê, Bùi Văn Nhơn đồng chủ biên cuốn sách "Một số vấn đề cải cách thủ
tục hành chính" (Nxb Chính trị quốc gia, 1995); Bài viết của tác giả Tạ Xuân
Đại về "Cải cách nền hành chính nhà nước - nội dung cơ bản và cấp bách
trong đổi mới hệ thống chính trị hiện nay" (Tạp chí thông tin lý luận - số
7/1997); Tiến sĩ Vũ Thư - Thạc sĩ Lê Hồng Sơn đồng chủ biên cuốn sách "Cải
cách thủ tục hành chính thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân ở nước ta hiện
nay" (Nxb Lao động, Hà Nội, 2000); "Tìm hiểu về hành chính nhà nước"
(Nxb Lao động, Hà Nội, 2003) do PGS.TS. Nhà giáo ưu tú Nguyễn Hữu
Khiển chủ biên; Bài viết về "Thủ tục hành chính và hoạt động của cơ quan
hành chính với việc bảo đảm quyền của công dân" của tác giả Trần Thanh
Hương (Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, tháng 10/2005); Bài viết "Cải cách
hành chính và xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay" của
PGS.TS. Đinh Ngọc Vượng - Viện Nhà nước và pháp luật, Việt Nam; Hội
thảo do Học viện Hành chính Quốc gia tổ chức (2002) về "Vai trò của nhà nước
trong cung ứng dịch vụ công, thực trạng và giải pháp"; Đề tài khoa học cấp
Bộ của TS. Bùi Đức Kháng "Cải cách thủ tục hành chính của chính quyền cấp
xã - cơ sở để bảo đảm dân chủ hóa đời sống xã hội ở nông thôn" (2002)…
Ngoài các bài viết, sách của các nhà nghiên cứu thì còn có một số đề

dụng, triển khai tại UBND tỉnh Ninh Bình. Qua đó chỉ ra những vấn đề còn
hạn chế và nguyên nhân của những vấn đề đó để rút kinh nghiệm.
+ Thông qua lý luận chung và thực trạng cải cách thủ tục hành chính
tại UBND tỉnh Ninh Bình để tìm ra phương hướng và đề xuất các giải pháp
cải cách thủ tục hành chính giai đoạn 2011 - 2020 thành công.

6
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu những vấn đề chung nhất về thủ tục hành chính và cải
cách thủ tục hành chính.
- Nghiên cứu rà soát các văn bản pháp luật là cơ sở thực hiện công tác
cải cách thủ tục hành chính tại UBND tỉnh Ninh Bình.
- Nghiên cứu thống kê các văn bản pháp luật là cơ sở thực hiện công
tác cải cách thủ tục hành chính tại UBND tỉnh Ninh Bình.
- Phân tích, đánh giá thực trạng cải cách thủ tục hành chính tại UBND
tỉnh Ninh Bình, qua đó có tham khảo kinh nghiệm cải cách thủ tục hành chính
của một số tỉnh thành trong cả nước.
- Đưa ra các phương hướng và đề xuất các giải pháp nhằm thực hiện
hiệu quả kế hoạch cải cách thủ tục hành chính tại UBND tỉnh Ninh Bình giai
đoạn 2011- 2020.
4. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài bao gồm các thủ tục hành chính và
cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực lao động thương binh và xã hội.
Đây là những phần thủ tục hành chính liên quan mật thiết, là nhu cầu thường
xuyên, liên tục của các tổ chức và công dân cần được giải quyết khi đến các
cơ quan hành chính Nhà nước; đặc biệt những thủ tục trong lĩnh vực này phần
lớn do các cán bộ, công chức thực hiện nhưng người thụ hưởng kết quả thực
hiện đó lại chính là các cá nhân, tổ chức. Do đó, các thủ tục hành chính này
đòi hỏi cần phải cải cách hơn nữa để ngày một đáp ứng kịp thời với nhu cầu
của các tổ chức và cá nhân, đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng hợp pháp

nghiên cứu, các nhận định tại các báo cáo của các cơ quan nhà nước có thẩm
quyền về công tác cải cách thủ tục hành chính.

8
7. Điểm mới và ý nghĩa của luận văn
7.1. Điểm mới của luận văn
- Nghiên cứu một cách tổng thể về mặt lý luận quá trình cải cách thủ
tục hành chính từ năm 1994 đến nay. Đây là bức tranh bao quát nhất "tổng
quan" về cải cách thủ tục hành chính triển khai từ trung ương đến địa phương
và đặc biệt là cải cách thủ tục hành chính tại UBND tỉnh Ninh Bình.
- Đưa ra một số phương hướng và giải pháp mới có thể ứng dụng góp
phần triển khai thực hiện kế hoạch cải cách thủ tục hành chính giai đoạn 2011 -
2020 hiệu quả, thành công.
- Đưa ra những phương hướng, giải pháp cần được tiếp tục nghiên cứu
để có thể ứng dụng vào thực tiễn cải cách thủ tục hành chính trong những giai
đoạn tiếp theo.
- Luận văn góp phần nhỏ bé vào công cuộc cải cách thủ tục hành
chính theo chủ trương của Đảng và Nhà nước, thể hiện tinh thần "Chung tay
cải cách thủ tục hành chính".
7.2. Ý nghĩa lý luận của đề tài
Đề tài góp phần làm rõ về phương diện lý luận trong khoa học pháp lý
về cải cách hành chính nói chung và cải cách thủ tục hành chính nói riêng,
qua đó cụ thể hóa các đường lối, chủ trương chính sách của Đảng và Nhà
nước về cải cách thủ tục hành chính nhằm tiếp tục xây dựng và hoàn thiện
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, xây dựng một nền hành chính dân
chủ, trong sạch, vững mạnh, từng bước hiện đại … phù hợp với thể chế kinh
tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế,
đáp ứng tốt yêu cầu phát triển nhanh và bền vững của đất nước.
7.3. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Đề tài này là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu, đánh giá tương

và xã hội, đó là "sự tác động định hướng bất kỳ lên một hệ thống nào đó nhằm
trật tự hóa nó và hướng nó phát triển phù hợp với những quy luật nhất định".
Quản lý nhà nước được thực hiện bởi tất cả các cơ quan nhà nước (bộ máy
nhà nước) trên cơ sở quyền lực nhà nước nhằm thực hiện các nhiệm vụ và
chức năng của nhà nước. Quản lý nhà nước hiểu theo nghĩa hẹp là hoạt động
chấp hành và điều hành của nhà nước (đây là một trong bốn loại hoạt động
của nhà nước, ba loại hoạt động khác là hoạt động lập pháp và giám sát sự thi
hành pháp luật, hoạt động kiểm sát, hoạt động xét xử).
Các chủ thể quản lý hành chính nhà nước trong quá trình thực hiện
chức năng chấp hành điều hành phải thường xuyên tham gia vào các quan hệ
pháp luật với các đối tượng quản lý để giải quyết những công việc cụ thể,
nhằm thực hiện quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia. Trong quá trình này,
các chủ thể phải thực hiện nhiều hành vi mang tính kế tiếp nhau, có những
hành vi phải thực hiện trước, có hành vi phải thực hiện sau… để đảm bảo việc
giải quyết công việc được hiệu quả, kịp thời đòi hỏi nhà nước cần có các quy
định chung, xác lập một trật tự chuẩn mực, cách thức trong việc thực hiện các
hành vi, để thực hiện quyền và nghĩa vụ cụ thể của các chủ thể trong từng loại
quan hệ pháp luật. Các cách thức, trình tự đó được gọi là thủ tục và được áp

11
dụng trong hoạt động quản lý được luật hành chính quy định được gọi là "thủ
tục hành chính".
Theo Từ điển Tiếng Việt thông dụng thì thủ tục là "cách thức tiến
hành một công việc với nội dung, trình tự nhất định, theo quy định của nhà
nước". Do đó mọi hoạt động quản lý nhà nước đều được tiến hành theo
những thủ tục nhất định, mỗi loại hoạt động khác nhau thì tương ứng có
những thủ tục khác nhau được thực hiện bởi những chủ thể khác nhau với
các mục đích khác nhau như trong hoạt động lập pháp của nhà nước thì có
thủ tục lập pháp; trong hoạt động tư pháp thì có thủ tục tư pháp và trong
hoạt động hành pháp thì có TTHC.

Các hoạt động không được quy phạm thủ tục luật hành chính quy định thì
không phải là TTHC và mọi hoạt động quản lý hành chính nhà nước phải
được tiến hành theo những thủ tục nhất định nhằm tránh sự lạm quyền, tránh
sự xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
+ Đặc điểm thứ hai: TTHC là thủ tục thực hiện các hoạt động quản lý
nhà nước và được thực hiện bởi các chủ thể quản lý hành chính nhà nước.
Yếu tố chủ thể thực hiện các TTHC trong các hoạt động quản lý nhà nước là
điểm đặc trưng phân biệt với các thủ tục khác (thủ tục tư pháp, thủ tục tố tụng
tại Tòa án, kể cả thủ tục tố tụng hành chính cũng không đồng nghĩa với TTHC
bởi đây là trình tự xét xử của Tòa án hành chính với tư cách là Tòa chuyên
trách thuộc hệ thống Tòa án nhân dân; đồng thời thủ tục tố tụng nhằm bảo
đảm tính đúng đắn của các quyết định xét xử).
+ Đặc điểm thứ ba: TTHC rất đa dạng, phức tạp, mềm dẻo, linh hoạt.
Đặc điểm này xuất phát từ bản chất của hoạt động quản lý hành chính nhà
nước là các hoạt động diễn ra ở hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội. Nội
dung và cách thức tiến hành từng hoạt động cụ thể lại bị tác động của rất
nhiều yếu tố khác nhau như thẩm quyền, năng lực của chủ thể quản lý, đặc
điểm của đối tượng quản lý, điều kiện, hoàn cảnh diễn ra hoạt động quản lý,

13
các yếu tố về kinh tế chính trị, văn hóa xã hội… nên các hoạt động quản lý
hành chính nhà nước mới đa dạng và phức tạp, đòi hỏi nhà nước phải ban
hành các quy định về TTHC áp dụng phù hợp và hiệu quả đối với từng hoạt
động quản lý; đồng thời phải không ngừng rà soát, kiểm tra, rút kinh nghiệm
để sửa đổi, bổ sung phù hợp với thực tiễn, hủy bỏ các TTHC lỗi thời, trì trệ,
bổ sung các TTHC đơn giản đảm bảo giải quyết công việc kịp thời, hiệu quả.
Điều đó đã và đang làm cho hoạt động quản lý hành chính và TTHC đa dạng
về nội dung, phong phú, linh hoạt, mềm dẻo về hình thức, biện pháp.
- Đặc điểm của TTHC thuộc thẩm quyền giải quyết của UBND cấp
tỉnh (tỉnh Ninh Bình):

trực thuộc UBND tỉnh (trên các lĩnh vực).
1.1.1.2. Vai trò của thủ tục hành chính trong việc bảo đảm các
quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức
TTHC có ý nghĩa rất quan trọng trong hoạt động quản lý nhà nước và
đời sống xã hội, đặc biệt, có vai trò trong việc bảo đảm các quyền và lợi ích
hợp pháp của tổ chức, công dân; đảm bảo cho công việc hành chính đạt được
mục đích đã định, phù hợp với thẩm quyền của các cơ quan nhà nước hoặc
của các cá nhân, tổ chức được ủy quyền trong việc thực hiện chức năng quản
lý nhà nước. Cụ thể:
- Hoạt động quản lý nhà nước chủ yếu là các hoạt động áp dụng pháp
luật do các chủ thể của TTHC thực hiện, trước hết là các cơ quan nhà nước,
cơ quan quản lý, Tòa án, Viện kiểm sát và những người có thẩm quyền hoặc
công chức nhà nước. Các hành vi áp dụng pháp luật liên quan chủ yếu đến
việc xác định tình trạng thực tế của vụ việc, lựa chọn quy phạm pháp luật
tương ứng, ra quyết định đều phải được tiến hành theo những TTHC nhất
định; nếu không có các quy định về TTHC cần thiết thì quyền và nghĩa vụ của
các bên tham gia trong hoạt động quản lý nhà nước sẽ không được bảo đảm
thực hiện và các quyết định hành chính cũng không được đảm bảo thi hành.
Do đó, TTHC bảo đảm cho việc thi hành các quyết định được thống nhất và

15
có thể kiểm tra được tính hợp pháp, hợp lý cũng như các hệ quả do việc thực
hiện các quyết định hành chính tạo ra.
- Xuất phát từ ý nghĩa TTHC bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp cho
tổ chức và cá nhân nên khi xây dựng các TTHC thì các nhà làm luật phải xuất
phát từ thực tiễn, vận dụng hợp lý khoa học vào đời sống xã hội… điều đó sẽ
tạo ra các khả năng sáng tạo trong việc thực hiện các quyết định quản lý và
đem lại hiệu quả thiết thực cho quản lý nhà nước; đồng thời làm hạn chế được
sự phiền hà, lãng phí thời gian tiền của của tổ chức, cá nhân, góp phần chống
tệ nạn tham nhũng, cửa quyền. Đó chính là nền tảng để củng cố quan hệ giữa

cách hiệu lực, hiệu quả. TTHC là một trong những hình thức và phương pháp
quản lý nhà nước hữu hiệu nhất bởi TTHC là cơ sở pháp lý vững chắc để các
chủ thể quản lý tiến hành thực hiện các hoạt động giải quyết công việc hành
chính thuộc thẩm quyền, chức năng nhiệm vụ của mình; là cách thức mà chủ
thể quản lý áp dụng để tác động lên khách thể quản lý nhằm đạt được những
mục đích đề ra; là chuẩn mực để đánh giá và bảo đảm tính hợp pháp của quá
trình thực hiện các nhiệm vụ công vụ. Qua đó, hoạt động quản lý nhà nước
được bảo đảm công khai, minh bạch và tuân thủ nguyên tắc pháp chế.
Theo quy định tại Điều 123, Hiến pháp 1992, sửa đổi bổ sung 2001 thì
vị trí pháp lý của UBND được quy định: "Ủy ban nhân dân là cơ quan chấp
hành của Hội đồng nhân dân, cơ quan hành chính nước ở địa phương, chịu
trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp
trên và nghị quyết của Hội đồng nhân dân" [28].
Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của UBND tỉnh được cụ thể hóa tại
Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và UBND năm 2003 (từ Điều 82 đến Điều
96), cụ thể trong các lĩnh vực như: lĩnh vực kinh tế, nông nghiệp, lâm nghiệp,
ngư nghiệp, thủy lợi và đất đai; lĩnh vực công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp,
giao thông vận tải, xây dựng, quản lý và phát triển đô thị; lĩnh vực thương
mại, dịch vụ và du lịch; lĩnh vực giáo dục và đào tạo; văn hóa, thông tin, thể

17
dục thể thao; y tế và xã hội; khoa học công nghệ, tài nguyên và môi trường;
quốc phòng, an ninh và trật tự, an toàn xã hội; trong việc thực hiện chính sách
dân tộc và chính sách tôn giáo …
Với nhiệm vụ, quyền hạn của UBND tỉnh trong các lĩnh vực trên thì
vai trò, ý nghĩa của TTHC trong tổ chức và hoạt động của UBND tỉnh được
thể hiện ở những điểm sau:
- TTHC là một trong những phương pháp quản lý nhà nước -
phương thức thực hiện quyền lực nhà nước. Thể hiện: là công cụ để tổ chức
bộ máy hành chính và thực hiện sự tác động của quản lý nhà nước đến các

1.1.2.1. Các loại thủ tục hành chính trong quản lý nhà nước
Phân loại TTHC có ý nghĩa lý luận và thực tiễn rất quan trọng, phân
loại theo từng nhóm trên cơ sở các tiêu chí khác nhau nhất định như theo đối
tượng quản lý hành chính, mục đích của TTHC, theo tính chất công việc được
tiến hành theo TTHC… nhằm phục vụ các hoạt động nghiên cứu, xây dựng và
hoàn thiện hệ thống quy định về TTHC; đồng thời, qua đó, giúp tổ chức và cá
nhân có thể tìm hiểu về đặc điểm và vai trò của từng loại thủ tục trong hệ
thống các TTHC để từ đó có thể áp dụng trong các quan hệ TTHC.
- Phân loại theo đối tượng quản lý hành chính nhà nước: Cơ sở
phân loại theo Nghị quyết 38/CP. Với cách phân loại này, TTHC được xác
định cho từng lĩnh vực quản lý nhà nước và được phân chia theo cơ cấu chức
năng của bộ máy quản lý như thủ tục trong lĩnh vực đăng ký kinh doanh; thủ
tục trước bạ sang tên, đăng ký khai sinh, kết hôn …
- Phân loại theo công việc cụ thể của các cơ quan nhà nước: cách
phân loại này được áp dụng rất phổ biến căn cứ theo tổ chức và hoạt động của
từng cơ quan nhà nước, phù hợp với điều kiện cụ thể, đặc thù của từng cơ
quan trong quá trình vận dụng thủ tục đó vào thực tiễn quản lý. Chẳng hạn
như thủ tục ban hành các quyết định về tuyển dụng, bổ nhiệm, miễn nhiệm;
thủ tục ban hành các quyết định… Cách phân loại này có ý nghĩa thực tiễn

19
quan trọng bởi nó có thể giúp cho công chức, những người thi hành các
TTHC trong thực tế định hướng theo công việc dễ dàng và chính xác.
- Phân loại theo chức năng cung cấp các dịch vụ trong quản lý nhà
nước: Các TTHC theo nhóm này gồm các thủ tục cung cấp dịch vụ công cho
công dân và các tổ chức có nhu cầu; các loại thủ tục này có khả năng ngăn
chặn nguy cơ xâm phạm các quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân và tổ
chức, đồng thời cũng giúp cho các nhà quản lý tìm ra hình thức giải quyết
công việc thích hợp.
- Phân loại dựa trên quan hệ công tác (tính chất công việc được tiến


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status