Chế định quyền con người, quyền công dân trong Hiến pháp Việt Nam - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN THÙY DƢƠNG
CHÕ §ÞNH QUYÒN CON NG¦êI, QUYÒN C¤NG D¢N
TRONG HIÕN PH¸P VIÖT NAM

Chuyên ngành: Pháp luật về quyền con ngƣời
Mã số: Chƣơng trình thí điểm LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hƣớng dẫn khoa học: TS. VŨ CÔNG GIAO

HÀ NỘI - 2014

HIẾN PHÁP 8
1.1. Vai trò của quyền con ngƣời với sự ra đời và phát triển của
hiến pháp 8
1.1.1. Quyền con người 8
1.1.2. Hiến pháp 11
1.1.3. Quyền con người thúc đẩy sự ra đời của Hiến pháp 13
1.2. Vai trò của Hiến pháp với việc bảo vệ, thúc đẩy nhân quyền 17
1.3. Chế định quyền con ngƣời, quyền công dân trong hiến pháp
của các nƣớc trên thế giới 18
1.3.1. Cách thức hiến định, vị trí và cấu trúc của chế định quyền con
người, quyền công dân trong hiến pháp của các nước trên thế giới 20
1.3.2. Cách thức xác lập và khuôn khổ các quyền hiến định trong hiến
pháp của các nước trên thế giới 21
1.3.3. Sự phát triển của các quyền hiến định trong hiến pháp của các
nước trên thế giới từ trước đến nay 24
Chƣơng 2: QUYỀN CON NGƢỜI, QUYỀN CÔNG DÂN TRONG
CÁC HIẾN PHÁP 1946, 1959, 1980, 1992 CỦA VIỆT NAM 27 2.1. Khái quát tƣ tƣởng hiến định về quyền con ngƣời ở Việt
Nam trƣớc năm 1946 27
2.1.1. Tư tưởng quyền con người trong tập quán, sáng tác dân gian, tác phẩm
của một số nhân vật tiêu biểu và pháp luật Việt Nam thời quân chủ 27
2.1.2. Tư tưởng về quyền con người ở Việt Nam giai đoạn cuối thế kỷ
19, đầu thế kỷ 20 30
2.2. Cách thức hiến định, vị trí và cấu trúc của chế định quyền con
ngƣời, quyền công dân trong các Hiến pháp 1946, 1959, 1980, 1992
của Việt Nam 36
2.2.1. Hiến pháp 1946 36
2.2.2. Hiến pháp 1959 37

Hiến pháp 2013 94
3.4.1. Những thuận lợi, thách thức với việc thực thi chế định quyền con
người, quyền công dân trong Hiến pháp 2013 94
3.4.2. Một số giải pháp bảo đảm thực thi chế định quyền con người,
quyền công dân trong Hiến pháp 2013 96
KẾT LUẬN 98
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 100 DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

ICCPR: Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị
(International Covenent on Civil and Political Rights)
ICESCR: Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa
(International Covenent on Economic, Social and Cultural Rights)
LGBT: đồng tính, song tính, chuyển giới (lesbian, gay, bisexual,
transgender)
UDHR: Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền
(Universal Declaration of Human Rights)

DANH MỤC BẢNG Số hiệu bảng

các bản Hiến pháp về sau của Việt Nam (năm 1959, 1980, 1992 và 2013) chế
định này đã có những sửa đổi, bổ sung, trong đó lần sửa đổi, bổ sung gần đây
(qua Hiến pháp năm 2013) là cơ bản, toàn diện hơn cả [35, tr.54].
Một trong những trọng tâm của việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm
1992 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2001, sau đây gọi là Hiến pháp 1992) là
chế định quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân. Về vấn đề này,
Kết luận số 20-KL/TW ngày 25/5/2012 của Hội nghị Trung ương 5 Khóa XI đã
định hướng, việc sửa đổi chế định quyền con người và quyền công dân nhằm:
Khẳng định Nhà nước ta tôn trọng và bảo đảm quyền con
người, quyền công dân, chăm lo hạnh phúc và sự phát triển tự do
của mỗi người. Quy định rõ trách nhiệm của Nhà nước trong việc
tôn trọng, bảo đảm việc thực hiện quyền con người, quyền và nghĩa
vụ cơ bản của công dân. Các quyền con người, quyền và nghĩa vụ
cơ bản của công dân phải do Hiến pháp quy định [35, tr.56]. 2
Ngoài việc khắc phục những hạn chế, thiếu sót, bất cập trong các quy
định của Hiến pháp 1992, việc sửa đổi, bổ sung còn hướng tới mục tiêu là làm
cho các quy định về quyền con người, quyền công dân phù hợp với các điều
ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
Từ những định hướng nêu trên, chế định quyền con người, quyền và
nghĩa vụ của công dân trong Hiến pháp năm 2013 có rất nhiều điểm mới.
Những điểm mới này xuất phát từ việc nhận thức, đánh giá lại một cách toàn
diện về tầm quan trọng, cách thức, phạm vi và nội dung của các quyền hiến
định trên cơ sở phân tích so sánh với các điều ước quốc tế cơ bản về quyền
con người, chế định quyền con người, quyền công dân trong hiến pháp của
các nước trên thế giới và các hiến pháp trước đó của Việt Nam.
Hiến pháp năm 2013 được Quốc hội khóa XIII thông qua ngày
28/11/2013, tại kỳ họp lần thứ 6, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2014.

các tác giả đưa ra các đề xuất sửa đổi, bổ sung các chế định trong Hiến pháp
năm 1992 về chế độ chính trị, chế độ kinh tế, văn hóa, giáo dục, khoa học –
công nghệ, bảo vệ Tổ quốc, tổ chức bộ máy nhà nước, quyền con người, đặc
biệt là về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Các đề
xuất sửa đổi, bổ sung dựa trên kết quả tổng kết sâu sắc thực tế thi hành bản
Hiến pháp này và các đạo luật có liên quan; quán triệt đầy đủ yêu cầu thể
chế hóa Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã
hội (bổ sung, phát triển năm 2011) và Nghị quyết Đại hội XI của Đảng; tiếp
tục kế thừa những quy định của Hiến pháp năm 1992 và các bản Hiến pháp
trước đây còn phù hợp.
- Phân tích và đề xuất hoàn thiện chế định quyền con người, quyền
công dân của Dự thảo 3 Hiến pháp 1992 sửa đổi năm 2013, Vũ Công Giao, 4
Tạp chí Kinh tế- Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, tháng 11/2013. Bài viết tập
trung phân tích những thay đổi trong chế định về quyền con người, quyền và
nghĩa vụ của công dân trong Dự thảo 3 Hiến pháp năm 1992 sửa đổi bổ sung
năm 2013. Trên cơ sở so sánh, đối chiếu với các quy định liên quan của luật
nhân quyền quốc tế, tác giả đã chỉ ra những thành tựu, hạn chế của chế định
quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân của Dự thảo, đồng thời đề
xuất những điều chỉnh để Dự thảo phù hợp hơn với luật nhân quyền quốc tế.
- Báo cáo tổng quan đề tài nghiên cứu khoa học: Quyền con người
trong Hiến pháp Việt Nam, Bùi Ngọc Sơn, Bùi Tiến Đạt, Khoa Luật, ĐHQG
Hà Nội, 2010. Đề tài tập trung phân tích lịch sử, khái niệm về quyền con
người, lý do bảo vệ quyền con người của Hiến pháp và nội dung của nhiệm vụ
bảo vệ quyền con người của Hiến pháp và nội dung về quyền con người trong
các Hiến pháp Việt Nam 1946, 1959, 1980, 1992. Trên cơ sở đó đưa ra
phương hướng cải cách chế định này trong Hiến pháp nhằm nâng cao hiệu
quả bảo vệ quyền con người.

quyền hiến định trong hệ thống pháp luật Việt Nam.
Những công trình nêu trên đã cung cấp một lượng tri thức, thông tin
khá lớn về chế định quyền con người, quyền công dân trong các bản hiến
pháp của Việt Nam. Mặc dù vậy, do nhiều công trình được thực hiện trong
giai đoạn đầu của quá trình thảo luận, sửa đổi Hiến pháp nên không cập nhật
được những nội dung và ý kiến tranh luận trong giai đoạn quan trọng là hoàn
thiện và thông qua dự thảo hiến pháp sửa đổi. Thêm vào đó,chưa có công
trình nào nêu trên phân tích một cách toàn diện những tiến bộ và hạn chế và
cơ chế bảo đảm thực thi chế định quyền con người, quyền và nghĩa vụ của
công dân trong các bản Hiến pháp, từ Hiến pháp 1946 đến Hiến pháp 2013.
Vì vậy, việc nghiên cứu về chế định này vẫn rất cần thiết và có ý nghĩa lý
luận, thực tiễn.
6
3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
Mục đích của luận văn này là phân tích những cơ sở lý luận, thực tiễn
và nội dung của chế định quyền con người, quyền công dân trong các bản
Hiến pháp Việt Nam, trên cơ sở đó chỉ ra những thành tựu, hạn chế và đưa ra
những khuyến nghị về việc tổ chức thực hiện và tiếp tục hoàn thiện chế định
này trong tương lai.
Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn có những nhiệm vụ cơ bản sau:
- Làm rõ những vấn đề lý luận nền tảng về mối quan hệ giữa quyền con
người và Hiến pháp
- Phân tích chế định quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân
trong các bản Hiến pháp Việt Nam (1946, 1959, 1980, 1992, 2013), chỉ ra sự
phát triển của chế định này qua từng bản Hiến pháp.
- Phân tích những sửa đổi, bổ sung của chế định quyền con người, quyền
và nghĩa vụ của công dân trong Hiến pháp 2013 so với chế định này trong Hiến

quyền công dân trong các bản Hiến pháp Việt Nam từ trước đến nay, đồng
thời cho thấy sự phát triển của chế định này qua các thời kì, trên cơ sở đó đưa
ra các kiến nghị để tiếp tự hoàn thiện chế định quyền con người, quyền công
dân trong tương lai. Đây là những vấn đề mà các công trình nghiên cứu hiện
nay ít đề cập và chưa làm rõ.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Mục lục và Danh mục tài liệu tham
khảo, luận văn được cấu trúc làm ba chương:
Chương 1: Mối quan hệ giữa quyền con người vả Hiến pháp.
Chương 2: Quyền con người, quyền công dân trong các bản HIến pháp
1946, 1959, 1980,1992 của Việt Nam.
Chương 3: Quyền con người, quyền công dân trong Hiến pháp Việt
Nam năm 2013.
8
Chương 1
MỐI QUAN HỆ GIỮA QUYỀN CON NGƢỜI VÀ HIẾN PHÁP

1.1. Vai trò của quyền con ngƣời với sự ra đời và phát triển của
hiến pháp
Hiến pháp và quyền con người luôn có mối quan hệ mật thiết. Hiến
pháp và pháp luật ra đời do nhu cầu về việc bảo vệ quyền con người và cho
đến nay, Hiến pháp và pháp luật vẫn được coi là những công cụ hữu hiệu nhất
để bảo vệ và thúc đẩy quyền con người. Ngay trong bản thân hai khái niệm
này đã thể hiện sự liên quan không thể tách rời giữa chúng với nhau.
1.1.1. Quyền con người
Quyền con người là một khái niệm có nhiều định nghĩa. Tuy nhiên,
không có định nghĩa nào được coi là bao hàm đầy đủ khái niệm vốn đa diện

gia đình nhân loại. Vì thế, quyền con người không phụ thuộc vào phong tục,
tập quán, truyền thống văn hóa hay ý chí của bất cứ cá nhân, giai cấp, tầng
lớp, tổ chức, cộng đồng hay nhà nước nào cũng như không thể bị tước bỏ hay
được ban phát từ bất kì chủ thể nào kể cả nhà nước [14, tr.46].
Ngược lại, học thuyết về các quyền pháp lý lại cho rằng, quyền con
người không phải là những gì bẩm sinh, vốn có một cách tự nhiên mà phải do
các nhà nước xác định và pháp điển hóa thành các quy phạm pháp luật. Như
vậy, quyền con người luôn có phạm vi, giới hạn và phụ thuộc rất nhiều vào các
yếu tố như ý chí của tầng lớp thống trị và các yếu tố như phong tục, tập quán,
truyền thống văn hóa của các xã hội [14, tr.47]. Quyền con người do đó có
thể được ban phát và cũng có thể bị tước bỏ. Cho đến nay, cuộc tranh luận về
nguồn gốc của quyền con người vẫn còn tiếp tục. Tuy nhiên, quyền con người
được khẳng định là quyền tự nhiên trong Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền
con người năm 1948 và một số văn kiện pháp luật ở một số quốc gia. 10
Theo nhận thức chung của cộng đồng quốc tế, quyền con người có các
tính chất cơ bản như sau:
(1) Tính phổ biến (universal)
Tính phổ biến, hay còn gọi là tính phổ quát của quyền con người thể
hiện ở chỗ quyền con người là những gì bẩm sinh, vốn có của con người và
được áp dụng bình đẳng cho tất cả mọi thành viên trong gia đình nhân loại,
không có sự phân biệt đối xử về chủng tộc, dân tộc, giới tính, tôn giáo, độ
tuổi, thành phần xuất thân
Sự bình đẳng về quyền con người không có nghĩa là cào bằng mức độ
hưởng thụ các quyền, mà là bình đẳng về tư cách chủ thể của quyền con
người. Ở đây, mọi thành viên của nhân loại đều có được công nhận có các
quyền con người, song mức độ hưởng thụ các quyền phụ thuộc vào năng lực
của cá nhân từng người, cũng như vào hoàn cảnh chính trị, kinh tế, xã hội,

trực tiếp hoặc gián tiếp tác động tích cực đến việc bảo đảm các quyền khác. Ví
dụ, những vi phạm về quyền lao động cá nhân, đặc biệt là về vấn đề thù lao có
thể ảnh hưởng đến quyền có mức sống thích đáng của cá nhân đó [14, tr.51-52].
1.1.2. Hiến pháp
Hiến pháp là thuật ngữ được nhân loại sử dụng từ rất lâu trong lịch sử.
Từ thời cổ đại, triết gia nổi tiếng Aristotle đã định nghĩa hiến pháp là “cách
thức tổ chức cơ cấu chính quyền trong một nước, cách thức phân bố quyền
lực được ấn định, chủ quyền tối thượng được xác định, và mục tiêu tối hậu
của quốc gia mà mọi cơ quan và toàn thể dân chúng nhắm tới” [16, tr.78].
Nói một cách khác, hiến pháp là cơ sở, trên đó mọi luật pháp của quốc gia
được ban hành. Trong hệ thống pháp luật của các quốc gia, hiến pháp có hiệu
lực pháp lý cao nhất. Tất cả các văn bản pháp luật khác đều phải phù hợp với
hiến pháp. Sở dĩ hiến pháp có vị trí tối cao là vì nó phản ánh chủ quyền của 12
nhân dân. Về nguyên tắc, hiến pháp phải do nhân dân thông qua dưới hình
thức hội nghị lập hiến, quốc hội lập hiến hoặc trưng cầu dân ý. Điều này khác
với các đạo luật bình thường mà chỉ do quốc hội thông qua.
Sự ra đời của hiến pháp với tính chất là đạo luật cơ bản xuất hiện khi giai
cấp tư sản giành chính quyền trong cuộc đấu tranh chống lại nhà nước chuyên
chế phong kiến. Trong cuộc đấu tranh này, đầu tiên, giai cấp tư sản đã đạt được
những thành tựu trong việc hạn chế quyền lực của vương triều phong kiến bằng
việc thành lập cơ quan gọi là nghị viện tồn tại bên cạnh vua, hoặc thành lập
một chế độ cộng hòa thừa nhận quyền của các công dân có tài sản. Văn bản có
tính chất hiến pháp đầu tiên có tên gọi là: “Hình thức cai quản nhà nước Anh,
Scotland, Iceland…” (1653). Đây là kết quả của cuộc cách mạng tư sản Anh.
Sau khi Hợp chúng quốc Hoa kỳ được thành lập năm 1787, nước này cũng đã
ban hành một bản Hiến pháp mà được coi là văn bản hiến pháp hiện đại đầu
tiên của nhân loại, vẫn còn được áp dụng đến ngày nay [2, tr.2].

xâm phạm được, trong những quyền đó có quyền được sống, quyền tự do và
quyền mưu cầu hạnh phúc". Như vậy, quyền con người là tự nhiên, vốn có
chứ không phải được ban phát bởi vua chúa hay nhà nước [27, tr.36]. Điều
này gắn liền với học thuyết về quyền tự nhiên, trong đó cho rằng quyền con
người là những gì bẩm sinh, vốn có mà mọi cá nhân sinh ra đều được hưởng
với tư cách là một con người, không phụ thuộc vào phong tục, tập quán,
truyền thống văn hóa hay ý chí của bất cứ cá nhân, giai cấp, tầng lớp, tổ chức,
cộng đồng nào cũng như không thể bị tước bỏ hay được ban phát từ tất cả các
chủ thể nào trong đó có nhà nước [9, tr.56].
1.1.3. Quyền con người thúc đẩy sự ra đời của Hiến pháp
Học thuyết về quyền tự nhiên xuất phát tư tưởng về luật tự nhiên (còn
được gọi là luật của tự nhiên - natural law/law of nature, nguyên gốc từ tiếng
La-tinh: lex naturalis). Luật tự nhiên là những qui tắc trong tự nhiên, những 14
quy tắc này tồn tại độc lập với luật lệ được đặt ra bởi bất cứ chủ thể cai trị
nào. Con người tuân theo luật tự nhiên như một quy luật tất yếu. Tư tưởng về
luật tự nhiên có vai trò như là một nguyên lý chính yếu trong mọi nền văn hoá
và các trường phái tư tưởng lớn, thậm chí bao gồm các tôn giáo lớn như
Hindu giáo, Phật giáo, Thiên chúa giáo, Hồi giáo. Mọi luật lệ được đặt ra từ
trước đến nay đều phải xây dựng dựa trên những quy chuẩn trung về đạo đức
xã hội mà các chuẩn mực này đều hình thành nhờ các quy luật của luật tự
nhiên. Do vậy, pháp luật không thể được xây dựng đi ngược lại luật tự nhiên.
Ngay từ thời cổ đại, triết gia Aristotle, người được coi là đặt nền móng cho lý
thuyết về luật tự nhiên, cho rằng trong tự nhiên đã có sẵn những quy luật, luật
lệ và công lý mà con người phải tuân thủ khi hành xử cũng như khi xây dựng
và thực thi pháp luật. Nhà triết học nổi tiếng ở châu Âu thời Trung cổ
Augustine đã từng nói: “Một luật mà không công bằng là một luật chỉ có trên
danh nghĩa.”Bên cạnh Aristotle và Augustine, nhà triết gia cổ và trung đại

Những quyền này đều không thể bị tước bỏ hoặc xâm phạm một cách tùy tiện.
Quy định phản ánh rất rõ ảnh hưởng của tư tưởng và lý thuyết về các quyền
và luật tự nhiên [7, tr.45].
Không chỉ thúc đẩy sự ra đời của Hiến pháp, quyền con người còn là cảm
hứng cho chủ nghĩa Hiến pháp (Constitutionalism). Khái niệm chủ nghĩa Hiến
pháp được khởi xướng bởi John Locke, một trong các triết gia tiêu biểu theo học
thuyết quyền tự nhiên. Không có định nghĩa thống nhất dành cho chủ nghĩa hiến
pháp, nhưng về cơ bản, chủ nghĩa hiến pháp nhấn mạnh vai trò của Hiến pháp,
đạo luật tối cao của Nhà nước. Đồng thời, chủ nghĩa Hiến pháp cũng đề cập và
giải quyết mối quan hệ giữa quyền lực của nhân dân và quyền lực của nhà nước
bằng cách xác lập và đảm bảo thực hiện các nguyên tắc sau [7, tr. 57]:
Thứ nhất, quyền lực tuyệt đối thuộc về nhân dân;
Thứ hai, quyền lực nhà nước là do nhân dân trao cho, có giới hạn và
phải chịu sự kiểm soát; 16
Thứ ba, những hành động tùy tiện của nhà nước phải bị ngăn chặn.
Tư tưởng về các quyền con người nói chung, các quyền tự nhiên của
con người nói riêng không chỉ là cảm hứng cho các cuộc cách mạng xã hội
của nhân loại nhằm lật đổ ách thống trị chuyên chế, bất công, bắt đầu từ các
chế độ chiếm hữu nô lệ, sang đến chế độ phong kiến, chế độ thực dân-đế
quốc, mà còn có vai trò quan trọng trong sự hình thành và phát triển của Hiến
pháp và chủ nghĩa Hiến pháp các nước trên thế giới [7, tr. 63].
Theo dòng thời gian, quyền con người đang ngày càng được ghi nhận
rộng rãi hơn trong Hiến pháp của các quốc gia. Theo các nghiên cứu về thực
tiễn lịch sử lập hiến nhân loại [7, tr.59], số lượng quyền con người được ghi
nhận trong Hiến pháp đã tăng lên đáng kể theo thời gian. Trong giai đoạn từ
năm 1800 đến 2000, số lượng các quyền con người được các Hiến pháp các
nước trên thế giới quy định đã tăng liên tục từ con số không vào thời điểm

nghĩa vụ cơ bản sau: nghĩa vụ tôn trọng, nghĩa vụ bảo vệ và nghĩa vụ thực
hiện [14, tr.84-85]. Hiến pháp, tư cách là đạo luật cơ bản của các quốc gia,
luôn có các quy định khẳng định rõ các quyền và tự do của cá nhân dưới hình
thức các quyền con người hoặc quyền công dân. Điều này trực tiếp nhấn
mạnh rằng quyền con người là những quyền thiêng liêng, không thể bị xâm
phạm một cách tùy tiện. Ngoài ra, các quy định trong Hiến pháp, cụ thể như
các quy định về cách thức tổ chức, giới hạn và kiểm soát quyền lực nhà nước,
cũng nhằm tới mục tiêu cao nhất là bảo vệ nền dân chủ, quyền con người,
quyền công dân thông qua việc giới hạn và kiểm soát quyền lực nhà nước;
tránh việc quyền con người, quyền công dân bị lạm dụng và xâm hại một cách
tùy tiện [7, tr.78].
Do có cùng khách thể là quyền con người nên Hiến pháp nói riêng và
pháp luật quốc gia nói chung có mối quan hệ chặt chẽ với luật nhân quyền
quốc tế ở nhiều phương diện. Ở thời kì đầu, pháp luật quốc gia chính là nền 18
tảng thúc đẩy quá trình hình thành và phát triển luật nhân quyền quốc tế. Hiến
pháp và pháp luật quốc gia cũng chính là phương tiện hữu hiệu nhất để truyền
tải pháp luật quốc tế về quyền con người, đảm bảo cho pháp luật quốc tế về
quyền con người được thực hiện.
Hiện tại, hầu hết các quyền con người theo luật quốc tế về quyền con
người đã được ghi nhận trong hiến pháp của các quốc gia trên thế giới ở mức
độ khác nhau.Với hiệu lực tối cao của mình, hiến pháp đóng vai trò là công cụ
pháp lý cơ bản để hiện thực hóa các tiêu chuẩn quốc tế về quyền con người ở
các quốc gia [4, tr.43].
1.3. Chế định quyền con ngƣời, quyền công dân trong hiến pháp
của các nƣớc trên thế giới
Cùng với sự ra đời của Hiến pháp, khái niệm quyền công dân cũng xuất
hiện. Chính những cuộc cách mạng tư sản đã đưa con người từ địa vị thần dân


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status