ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN HUY HỒNG LAM LỊCH SỬ PHÁP LUẬT VỀ GIÁO DỤC
Ở VIỆT NAM TỪ 1945 ĐẾN NAY
Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử nhà nƣớc và pháp luật
Mã số: 60 38 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS. TS Chu Hồng Thanh
3
2.4.1. Pháp luật về giáo dục từ 1986 đến 1998 37
2.4.2. Luật giáo dục năm 1998 và hệ thống văn bản quy định chi tiết,
hƣớng dẫn thi hành 39
2.4.3. Luật giáo dục năm 2005 việc xây dựng hệ thống văn bản quy
phạm pháp luật về giáo dục 43
2.4.4. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật giáo dục năm 2009 71
2.4.5. Luật giáo dục đại học 73
Kết luận chƣơng 2 82
Chương 3: PHƢƠNG HƢỚNG, GIẢI PHÁP XÂY DỰNG PHÁP
LUẬT VỀ GIAO DỤC TỪ NAY ĐẾN NĂM 2020 84
3.1. Thực tiễn giáo dục và Chiến lƣợc phát triển giáo dục đến
năm 2020. 84
3.1.1. Thực tiễn giáo dục hiện nay 84
3.1.2. Chiến lƣợc phát triển giáo dục đến năm 2020 90
3.2. Kinh nghiệm xây dựng pháp luật về giáo dục ở một số nƣớc 98
3.3. Yêu cầu về nội dung và hình thức trong xây dựng pháp luật về
giáo dục 110
3.4. Phƣơng hƣớng, giải pháp xây dựng pháp luật từ nay đến năm
2020 và một số giải pháp xây dựng pháp luật về giáo dục từ
nay đến năm 2020 114
3.4.1. Phƣơng hƣớng xây dựng pháp luật về giáo dục từ nay đến năm 2020 114
3.4.2. Giải pháp xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật về giáo
dục từ nay đến 2020 116
KẾT LUẬN 124
TÀI LIỆU THAM KHẢO 126
1
PHẦN MỞ ĐẦU
bản nhằm thống nhất quản lý mạng lƣới các cơ sở giáo dục trên phạm vi cả
nƣớc, từng bƣớc áp dụng thống nhất hệ thống văn bản quy phạm phạm pháp
luật về giáo dục đối với các loại trƣờng, các ngành học, cấp học, xác định hệ
thống giáo dục phổ thông 12 năm, … những nguyên lý của giáo dục thời kỳ
này đã đƣợc ghi nhận tại Điều 40, Điều 41 Hiến pháp năm 1959 nhƣ học đi
đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trƣờng gắn liền với
xã hội, hệ thống giáo dục đƣợc Hiến pháp quy định bao gồm: giáo dục mầm
non, giáo dục phổ thông, giáo dục chuyên nghiệp, giáo dục đại học.
Từ giai đoạn đoạn đổi mới đất nƣớc từ 1987 đến nay, pháp luật về giáo
dục đã từng bƣớc đƣợc hình thành và phát triển tạo điều kiện để mở rộng quy
mô, đa dạng hoá các hình thức giáo dục và nâng cấp cơ sở vật chất cho nhà
trƣờng. Năm 1991, Quốc hội đã thông qua Luật phổ cập giáo dục tiểu học là
Luật chuyên ngành đầu tiên về giáo dục mặc dù phạm vi điều chỉnh của Luật
mới chỉ giới hạn đối với việc phổ cập một bậc học nhƣng đã có tác dụng quan
trọng trong sự nghiệp nâng cao dân trí, góp phần thực hiện việc “Nhà nƣớc…
phổ cập giáo dục tiểu học”, “bậc tiểu học là bắt bộc, không phải trả học phí”
mà Hiến pháp 1992 đã quy định.
Điều 35 Hiến pháp 1992, đƣợc sửa đổi bổ sung một số điều theo Nghị
quyết số 51/2001/QH10 ngày 25/12/2001 đã khẳng định vai trò, mục tiêu của
giáo dục “Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu. Nhà nƣớc và xã hội phát
triển giáo dục nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dƣỡng nhân tài. Mục
tiêu của giáo dục là hình thành và và bồi dƣỡng nhân cách, phẩm chất và năng
lực của công dân; đào tạo những ngƣời lao động có nghề, năng động và sáng tạo,
có niềm tự hào dân tộc, có đạo đức, có ý chí vƣơn lên góp phần làm cho dân
giàu nƣớc mạnh, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc”.
3
Năm 1998, Luật giáo dục đã đƣợc quốc hội thông qua, là lần pháp điển
hoá đầu tiên pháp luật về giáo dục đã thống nhất quy định về mục tiêu giáo
dục; tính chất nguyên lý, giáo dục; yêu cầu về nội dung, phƣơng pháp giáo
của nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa.
Pháp luật về giáo dục đã góp phần quan trọng trong việc nâng cao dân
trí, bồi dƣỡng nhân lực, đào tạo nhân tài phục vụ hai cuộc kháng chiến chống
Pháp và chống Mỹ của dân tộc cũng nhƣ sự thành công của công cuộc đổi
mới đất nƣớc. Nhƣng trong bối cảnh Việt Nam gia nhập Tổ chức Thƣơng mại
thế giới và hội nhập sâu rộng với thế giới đòi hỏi cần phải đổi mới mạnh mẽ
hơn nữa pháp luật về giáo dục nhằm tạo ra nguồn nhân lực chất lƣợng cao
phục vụ nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa đang phát triển
với tốc độ cao của đất nƣớc trong bối cảnh quá trình toàn cầu hoá đang tác
động đến mọi lĩnh vực của đời sống đất nƣớc. Vì vậy, cần thiết phải nghiên
cứu quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về giáo dục Việt Nam từ
năm 1945 đến nay để đánh giá vai trò tích cực và hạn chế của pháp luật về
giáo dục trong từng thời kỳ đối với sự phát triển của giáo dục và xã hội, trên
cơ sở đó nghiên cứu phƣơng hƣớng xây dựng pháp luật về giáo dục trong giai
đoạn hiện nay nhằm thúc đẩy sự phát triển các quan hệ xã hội trong lĩnh vực
giáo dục phục vụ cho việc đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển
kinh tế xã hội của đất nƣớc nhằm đƣa nƣớc ta cơ bản trở thành một nƣớc công
nghiệp vào năm 2020.
II. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ Ý NGHĨA LÝ LUẬN
Giáo dục là vấn đề đƣợc rất nhiều ngƣời quan tâm, nghiên cứu. Cho
đến nay đã có rất nhiều công trình và bài viết quan tâm đến vấn đề giáo dục.
Phần lớn các công trình nghiên cứu đều tập trung vào các nội dung chuyên
môn giáo dục bao gồm việc nghiên cứu về các bậc học cụ thể trong hệ thống
giáo dục quốc dân qua đó góp phần đổi mới hệ thống giáo dục quốc dân, đáp
5
ứng ngày càng tốt hơn mục tiêu phát triển quốc gia về giáo dục hoặc quan tâm
đến vấn đề quan điểm phát triển giáo dục, chiến lƣợc giáo dục, chính sách
nâng cao chất lƣợng và hiệu quả, các chính sách về đào tạo giáo viên, xây
dựng cơ sở vật chất, trƣờng học nhƣ cuốn “Giáo dục Việt Nam đổi mới và
phục vụ cho việc đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế
xã hội của đất nƣớc nhằm đƣa nƣớc ta cơ bản trở thành một nƣớc công nghiệp
vào năm 2020.
III. NỘI DUNG CỦA ĐỀ TÀI
1. Phƣơng pháp nghiên cứu
a. Phương pháp luận
- Chủ nghĩa duy vật lịch sử
- Chủ nghĩa duy vật biện chứng
- Phép biện chứng của chủ nghĩa Mác – Lênin, tƣ tƣởng Hồ Chí Minh
b. Phương pháp nghiên cứu cụ thể
- Phân tích quy định của pháp luật
- Phƣơng pháp thống kê, tổng hợp, so sánh, đối chiếu, khảo sát thực tế.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
a. Mục đích nghiên cứu của luận văn
Luận văn nghiên cứu lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật
về giáo dục Việt Nam từ năm 1945 đến nay; tình hình phát triển kinh tế -
xã hội, thực tiễn giáo dục hiện nay và thực tiễn thi hành pháp luật về giáo
dục trong thời gian qua nhằm xác định phƣơng hƣớng, giải pháp xây dựng
pháp luật từ nay đến năm 2020 nhằm thúc đẩy sự phát triển các quan hệ xã
hội trong lĩnh vực giáo dục phục vụ cho việc đào tạo nguồn nhân lực đáp
ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của đất nƣớc nhằm đƣa nƣớc ta cơ
bản trở thành một nƣớc công nghiệp.
7
b. Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và nhận thức về pháp luật về giáo dục.
- Nghiên cứu lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật về giáo dục
Việt Nam từ năm 1945 đến nay.
- Phân tích, đánh giá tình hình phát triển kinh tế - xã hội, thực tiễn giáo
dục hiện nay, các quy định pháp luật về giáo dục và thực tiễn thi hành pháp
hành pháp luật về giáo dục.
- Bƣớc 4. Nhận định phƣơng hƣớng xây dựng pháp luật về giáo dục
từ nay đến năm 2020 trên cơ sở phân tích lịch sử hình thành và phát triển
của pháp luật về giáo dục từ 1945 đến nay; Phân tích, đánh giá tình hình
phát triển kinh tế - xã hội, thực tiễn giáo dục hiện nay, các quy định pháp
luật về giáo dục và thực tiễn thi hành pháp luật về giáo dục có đối chiếu
quy định pháp luật về giáo dục của một số quốc gia ở các trình độ phát
triển khác nhau trên thế giới.
Bƣớc 5. Đề xuất một số kiến nghị và giải pháp xây dựng pháp luật về
giáo dục từ nay đến năm 2020 nhằm thúc đẩy sự phát triển các quan hệ xã hội
trong lĩnh vực giáo dục phục vụ cho việc đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu
cầu phát triển kinh tế xã hội của đất nƣớc nhằm đƣa nƣớc ta cơ bản trở thành
một nƣớc công nghiệp. 9
Chương 1
KHÁI LUẬN VỀ GIÁO DỤC VÀ PHÁP LUẬT VỀ GIÁO DỤC
1.1. Quan điểm của Đảng và Nhà nƣớc ta về phát triển giáo dục và
hoàn thiện pháp luật về giáo dục
Quan điểm về phát triển giáo dục của Đảng và Nhà nƣớc ta đã đƣợc
khẳng định tại Sắc lệnh số 146/SL ngày 10/8/1946, đó là “Nền giáo dục nƣớc
Việt Nam dân chủ cộng hoà là một nền giáo dục duy nhất, đặt trên ba nguyên
thức dạy trong nhà trƣờng. Ngay từ các lớp tiểu học, cần quan tâm thích đáng
đến tính địa phƣơng trong chƣơng trình và kế hoạch dạy học, giáo dục cả trên
lớp lẫn ngoài giờ lên lớp, sau nâng dần lên học lịch sử của dân tộc, giáo dục
tinh thần dân tộc và lòng yêu nƣớc, gắn liền với giáo dục "ý thức công dân".
Giáo dục tinh thần bình đẳng giữa các dân tộc cùng sống trên đất nƣớc Việt
Nam, tƣơng trợ lẫn nhau, thực hiện đại đoàn kết dân tộc cùng nhau bảo vệ và
xây dựng đất nƣớc. Văn hóa các dân tộc đều có bƣớc phát triển mới hơn hẳn
thời kỳ trƣớc cách mạng. Đảng và Nhà nƣớc ta đã khẳng định, văn hóa các
dân tộc cần đƣợc phát huy và phát triển, tiếng nói và chữ viết riêng của các
dân tộc cần đƣợc giữ gìn. Điều 5 Luật Giáo dục quy định: "Nhà nƣớc tạo điều
kiện để ngƣời dân tộc thiểu số đƣợc học tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình".
Chiến lƣợc phát triển giáo dục 2001 - 2010 xác định mục tiêu tổng quát
là tạo bƣớc thay đổi căn bản về chất lƣợng giáo dục; phát triển nhanh nguồn
nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lƣợng cao, tập trung vào việc đổi mới
căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân theo hƣớng chuẩn hoá, hiện đại
hoá, xã hội hoá và hội nhập quốc tế; đổi mới chƣơng trình, nội dung, phƣơng
pháp dạy và học; đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo
viên và cán bộ quản lý giáo dục; tập trung nâng cao chất lƣợng giáo dục, coi
11
trọng giáo dục đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành; đẩy
mạnh đào tạo nhân lực đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nƣớc; xây dựng
môi trƣờng giáo dục lành mạnh, kết hợp chặt chẽ giữa nhà trƣờng với gia đình
và xã hội; xây dựng xã hội học tập, tạo cơ hội và điều kiện cho mọi công dân
đƣợc học tập suốt đời; gắn kết chặt chẽ phát triển nguồn nhân lực với phát
triển và ứng dụng khoa học, công nghệ.
Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - công nghệ, sự phát triển năng
động của các nền kinh tế, quá trình hội nhập và toàn cầu hóa đang làm việc
rút ngắn khoảng cách về trình độ phát triển giữa các nƣớc trở nên hiện thực
hơn và nhanh hơn. Khoa học - công nghệ trở thành động lực cơ bản của sự
nghiên cứu và thực hiện sao cho phù hợp với tình hình phát triển kinh tế xã
hội. Chính trong tình hình nhƣ vậy cần đổi mới công tác quản lý nhà nƣớc về
giáo dục. Trƣớc hết, phải xác định: giáo dục phục vụ công cuộc xây dựng chủ
nghĩa xã hội, xây dựng chủ nghĩa xã hội phải dựa vào giáo dục.
Do vậy phải có những chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức vai trò và vị
trí của giáo dục trong tiến trình phát triển quốc gia. Trong những năm cuối
thập kỷ 80 của thế kỷ trƣớc mặc dù giáo dục là một lĩnh vực luôn luôn đƣợc
coi trọng, song giáo dục nƣớc ta mới chỉ đƣợc xem là "một bộ phận quan
trọng của cách mạng văn hóa tƣ tƣởng, là nhân tố quan trọng thúc đẩy sự phát
triển kinh tế, văn hóa tƣ tƣởng, là nhân tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển
văn hóa kỹ thuật" (Nghị quyết số 14 của Bộ Chính trị năm 1979). Với ý nghĩa
đó giáo dục nằm trong thƣợng tầng kiến trúc có tác động và vai trò chủ yếu
trong lĩnh vực dân trí, thay đổi nhận thức ý thức xã hội. Quan niệm trên đã đặt
cơ sở cho bƣớc phát triển mới, căn bản khi giáo dục đƣợc xem là quốc sách
hàng đầu, đầu tƣ cho giáo dục là đầu tƣ phát triển đƣợc khẳng định trong các
văn kiện Đại hội VII (1991), VIII (1996) và Đại hội IX của Đảng Cộng sản
13
Việt Nam (2001), Hiến pháp 1992 (đã đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2001) và
nhiều văn kiện khác của Đảng và Chính phủ. Giáo dục và Đào tạo góp phần
xây dựng cơ sở hạ tầng xã hội, tạo nguồn lực quan trọng cho công cuộc phát
triển quốc gia.
Quan điểm "phát triển giáo dục là quốc sách đầu" của Đảng và Nhà
nƣớc ta đối với giáo dục đƣợc thể hiện nhất quán trong các chủ trƣơng, chính
sách. Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào
tạo nhân lực, bồi dƣỡng nhân tài phục vụ yêu cầu về quyền đƣợc học tập của
nhân dân. Phát triển giáo dục bao gồm cả hai mặt: phát triển về số lƣợng và
phát triển về chất lƣợng. Trong mỗi mặt đó, sự phát triển thể hiện về số lƣợng
và phát triển về chất lƣợng. Trong mỗi mặt đó, sự phát triển thể hiện ở đội
ngũ ngƣời học, đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục, mạng lƣới
chuyên nghiệp dạy nghề; cho phép và mở rộng từng bƣớc các trƣờng dân lập,
tƣ thục các trƣờng liên doanh với các tổ chức quốc tế và các trƣờng 100% đầu
tƣ vốn từ nƣớc ngoài. Đây đƣợc coi là một bƣớc chuyển quan trọng của quản
lý phát triển giáo dục - đào tạo ở Việt Nam. Sự ra đời và phát triển nhanh
chóng của các loại hình trƣờng, cơ sở giáo dục - đào tạo dân lập, tƣ thục từ
giáo dục mầm non đến giáo dục đại học đã mang một diện mạo mới cho sự
phát triển của giáo dục Việt Nam không chỉ ở khía cạnh đa dạng loại hình,
huy động thêm nguồn lực xã hội cho sự phát triển giáo dục, mà còn tạo tiền
đề thúc đẩy sự cạnh tranh lành mạnh cho giáo dục, từng bƣớc hình thành thị
trƣờng giáo dục - đào tạo có định hƣớng trong phát triển nguồn nhân lực.
Giáo dục là nhu cầu, quyền lợi cơ bản của mọi thành viên trong xã hội,
do đó chính sách quản lý phải đảm bảo sự công bằng và tạo cơ hội bình đẳng
cho mọi ngƣời trong giáo dục. Chính sách quản lý này phải nhất quán, đặc
biệt nền kinh tế thị trƣờng nhiều thành phần đang hàng ngày tạo ra khoảng
15
cách thu nhập ở các tầng lớp dân cƣ và nảy sinh những tiêu cực trong xã hội
(khoảng cách giàu nghèo đã tăng lên khoảng 10 lần). Cùng với chủ trƣơng
miễn học phí ở bậc tiểu học, Chính phủ đã ban hành nhiều chủ trƣơng chính
sách về miễn giảm học phí cho các đối tƣợng chính sách; lập quỹ cho vay đối
với học sinh nghèo; tăng đầu tƣ cho giáo dục miền núi các vùng sâu, vùng xa,
vùng khó khăn, cho các dân tộc ít ngƣời… Việc chuyển từ chính sách bình
quân, cào bằng sang chủ trƣơng công bằng và bình đẳng trong giáo dục - đào
tạo đã và đang tạo ra những điều kiện mới, động lực mới cho công cuộc phát
triển giáo dục ở Việt Nam.
Đặc điểm lớn nhất của thời kỳ đổi mới đất nƣớc ta chuyển từ nền kinh
tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế hàng hóa nhiều
thành phần vận hành theo cơ chế thị trƣờng có sự quản lý của Nhà nƣớc theo
định hƣớng XHCN. Về mặt đối ngoại thực hiện chính sách mở cửa, hợp tác
với các nƣớc trên các mặt kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục… Nhờ chủ
lợi ích của nhân dân; các chính sách phát triển giáo dục ở Việt Nam thời gian
qua đã đƣợc thể chế từng bƣớc bằng hệ thống văn bản pháp luật về giáo dục.
Ngay sau khi thành lập nƣớc, Chính phủ đã ra một loạt sắc lệnh là cơ
sở cho việc tổ chức và hoạt động của hệ thống giáo dục quốc dân nhƣ: Sắc
lệnh số 17/SL, Sắc lệnh số 19/SL về bình dân học vụ, Sắc lệnh số 20/SL về
giáo dục giáo dục tiểu học bắt buộc và không mất tiền, Sắc lệnh số 16/SL về
thành lập Thanh tra học vụ, Sắc lệnh số 18/SL về sử dụng học quan thời Pháp
thuộc đều đƣợc ban hành ngày 08/09/1945, Sắc lệnh 44/SL ngày 10/10/1945
về thành lập Hội đồng cố vấn học chính,
Hiến pháp 1946, Hiến pháp 1959, Hiến pháp 1980, Hiến pháp 1992
đều có chế định về giáo dục là cơ sở hiến định để hoàn thiện hệ thống pháp
luật về giáo dục.
17
Luật giáo dục và một trong những luật đƣợc Đảng quan tâm, chỉ đạo
việc xây dựng và ban hành sớm nhất. Nghị quyết đại hội Đảng lần thứ VI
của Đảng năm 1986, Đại hội của đổi mới đã khẳng định: “Chuẩn bị ban
hành Luật giáo dục”.
Từ năm 1986 đến nay, việc không ngừng hoàn thiện hệ thống pháp luật
là mối quan tâm lớn, thƣờng xuyên và là một trong những chủ trƣơng quan
trọng của Đảng và Nhà nƣớc, đƣợc ghi nhận trong các văn kiện của Đảng, đặc
biệt là Nghị quyết trung ƣơng 8 (khóa 7), Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc
lần thứ VIII, Nghị quyết trung ƣơng 3 (khóa 8), Nghị quyết Đại hội Đảng toàn
quốc lần thứ IX và Nghị quyết 08 của Bộ Chính trị ngày 02/01/2002. Trải qua
25 năm đổi mới, Việt Nam từng bƣớc hoàn thiện hệ thống pháp luật, góp
phần quan trọng vào việc thực hiện các chủ trƣơng, chính sách của Đảng về
xây dựng nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa và nhà nƣớc
pháp quyền Việt Nam.
Bƣớc chuyển biến cơ bản nhất, rõ nét nhất của hệ thống pháp luật thể
hiện ở việc trƣớc đây Nhà nƣớc quản lý kinh tế, xã hội chủ yếu bằng nghị
Cùng với những biến chuyển của đời sống kinh tế - xã hội và và hệ
thống pháp luật đồng thời cũng diễn ra những chuyển biến sâu sắc trong lĩnh
vực giáo dục và pháp luật về giáo dục. Pháp luật về giáo dục đã có những tác
động tốt, tích cực đến quá trình phát triển kinh tế xã hội và trực tiếp trong lĩnh
vực giáo dục.
1.2. Khái niệm pháp luật về giáo dục
Pháp luật là một hình thái ý thức xã hội có nguồn gốc từ rất xa xƣa, gắn
liền với sự tiến hóa của xã hội loài ngƣời, sự ra đời và phát triển của Nhà
nƣớc. Pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội, định hƣớng cho các quan hệ xã
hội phát triển theo những mục đích, đƣờng lối phát triển phù hợp với ý chí
19
của giai cấp thống trị hay nói cách khác pháp luật mang tính giai cấp. Tuy
nhiên bên cạnh tính giai cấp, pháp luật còn mang tính xã hội. Pháp luật vừa là
sự thể hiện ý chí và bảo vệ lợi ích giai cấp thống trị xã hội, vừa là công cụ để
giải quyết các vấn đề chung, công việc chung, những chức năng xã hội, xuất
phát từ bản chất của xã hội.
Nhƣ vậy, Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự có tính bắt buộc
chung do nhà nƣớc đặt ra hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí nhà nƣớc của giai
cấp thống trị trên cơ sở ghi nhận các nhu cầu về lợi ích của toàn xã hội, đƣợc
đảm bảo thực hiện bằng nhà nƣớc nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội nhằm
mục đích trật tự và ổn định vì sự phát triển bền vững của xã hội.
Thể hiện bản chất của pháp luật, pháp luật về giáo dục ở Việt Nam vừa
mang tính giai cấp vừa thể hiện tính xã hội rộng rãi và Pháp luật về giáo dục
là tập hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội về giáo dục,
điều chỉnh tổ chức và hoạt động giáo dục, xây dựng và phát triển hệ thống
giáo dục quốc dân, điều chỉnh quan hệ quản lý nhà nước về giáo dục nhằm
phát triển giáo dục, nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài,
góp phần làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn
minh, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc.
và phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc. Với sự ra đời của Luật
giáo dục năm 1998, về cơ bản khung pháp lý các hoạt động giáo dục đã đƣợc
định hình và ngày càng đƣợc củng cố.
Sau 7 năm thực hiện Luật giáo dục năm 1998, trƣớc sự phát triển mạnh
mẽ của hoạt động giáo dục và nhu cầu học tập ngày càng cao của nhân dân đã
xuất hiện một số bức xúc do thực tiễn đặt ra, đòi hỏi cần quy định cụ thể hơn
một số nội dung của luật giáo dục năm 1998 hoặc sửa đổi một cách cơ bản,
tạo cơ sở pháp lý để phát triển mạnh mẽ sự nghiệp giáo dục, đáp ứng ngày
21
càng cao sự nghiệp đổi mới đất nƣớc trong bối cảnh toàn cầu hóa. Luật giáo
dục năm 2005 đã đƣợc ban hành thay thế Luật giáo dục 1998 để đáp ứng yêu
cầu phát triển giáo dục.
Qua 3 năm thực hiện, Luật giáo dục năm 2005 đã góp phần phát triển
sự nghiệp giáo dục, nâng cao trình độ dân trí và chất lƣợng nguồn nhân lực,
góp phần đào tạo nhân tài cho đất nƣớc. Tuy nhiên, trong quá trình triển khai
thực hiện Luật đã nảy sinh một số điểm hạn chế, bất cập, một số quy định của
Luật chƣa đi vào cuộc sống, một số điểm chƣa phù hợp tình hình thực tiễn và
yêu cầu nâng cao chất lƣợng giáo dục, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nƣớc về
giáo dục, chƣa phát huy đƣợc hiệu quả của việc hợp tác quốc tế về giáo dục
cần đƣợc sửa đổi, bổ sung. Những sửa đổi, bổ sung Luật giáo dục năm 2005
tạo cơ sở cho việc nâng cao chất lƣợng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý
giáo dục, thực hiện chế độ chính sách đối với ngƣời học, tạo điều kiện cho sự
nghiệp giáo dục phát triển mạnh mẽ hơn. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều
của Luật giáo dục đã đƣợc ban hành năm 2009 để đáp ứng các nhu cầu trên.
Cùng với việc ban hành và hoàn thiện Luật giáo dục, thực tiễn phát
triển giáo dục cũng đòi hỏi phải xây dựng những Luật chuyên ngành nhƣ Luật
giáo dục đại học, Luật về nhà giáo, Luật giáo dục phổ thông, Luật giáo dục
mầm non, Luật giáo dục nghề nghiệp nhằm nâng cao hiệu lực pháp lý, xây
dựng hệ thống các quy phạm thống nhất, đồng bộ, phù hợp thực tiễn đối với
Từ thực tiễn khoa học và pháp lý cũng nhƣ khoa học về quản lý giáo dục có thể
khái quát: pháp luật về giáo dục là hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh
các quan hệ xã hội về giáo dục, điều chỉnh tổ chức và hoạt động giáo dục, xây
dựng và phát triển hệ thống giáo dục quốc dân, điều chỉnh quan hệ quản lý
nhà nƣớc về giáo dục nhằm phát triển giáo dục, nâng cao dân trí, đào tạo nhân
lực, bồi dƣỡng nhân tài, góp phần làm cho dân giàu, nƣớc mạnh, xã hội công
bằng, dân chủ, văn minh, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ