1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRẦN THỊ YẾN
MÔ HÌNH CHÍNH QUYỀN PHƯỜNG
TRONG ĐIỀU KIỆN KHÔNG TỔ CHỨC
HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Bùi Xuân Đức
HÀ NỘI - 2012 3
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục Danh mục các chữ viết tắt MỞ ĐẦU
1
Chương 2: MÔ HÌNH CHÍNH QUYỀN PHƢỜNG TRONG ĐIỀU
KIỆN KHÔNG TỔ CHỨC HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN
36
2.1.
Sự cần thiết khách quan của việc thí điểm không tổ chức Hội
đồng nhân dân phường
36
2.1.1.
Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng chính quyền
dân chủ nhân dân
37
2.1.2.
Tổ chức chính quyền phường theo mô hình chính quyền đô thị
39
4
2.1.3.
Tinh giản bộ máy, biên chế, giảm các chi phí cho hoạt động
của chính quyền phường
42
2.1.4.
Đảm bảo quyền đại diện, quyền dân chủ của nhân dân ở phường
43
2.1.5.
Đảm bảo việc giám sát của các cơ quan nhà nước trên địa
bàn phường
46
2.1.6.
Đáp ứng yêu cầu xây dựng nền kinh tế thị trường
47
quyền phường
63
2.3.3.
Gia tăng áp lực lên Ủy ban nhân dân phường
64
2.3.4.
Quy chế làm việc và phối hợp giữa Ủy ban nhân dân phường
và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể ở phường
65
Chương 3: KIẾN NGHỊ TIẾP TỤC HOÀN CHỈNH MÔ HÌNH CHÍNH
QUYỀN PHƢỜNG TRONG ĐIỀU KIỆN KHÔNG TỔ
CHỨC HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN
67
3.1.
Về tổ chức và cách thành lập Ủy ban nhân dân phường
69
5
3.1.1.
Về tên gọi và chức danh
69
3.1.2.
Về cách thành lập Ủy ban nhân dân phường
70
3.2.
Về nhiệm vụ, quyền hạn
74
3.3.
Về phương thức hoạt động
UBHC
: Ủy ban hành chính
UBND
: Ủy ban nhân dân
XHCN
: Xã hội chủ nghĩa 7
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hơn 65 năm qua, hệ thống các cơ quan nhà nước ở nước ta không
ngừng được củng cố, đổi mới tổ chức và hoạt động nhằm tăng cường hiệu lực,
hiệu quả quản lý, phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Dưới sự lãnh đạo của
Đảng, bộ máy nhà nước từ Trung ương đến địa phương đã nhiều lần được sắp
xếp, tổ chức lại theo hướng xây dựng và hoàn thiện mô hình Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN) của dân, do dân và vì dân.
Mặc dù đã đạt được nhiều kết quả tích cực trong tiến trình cải cách,
nhưng nhìn chung, bộ máy nhà nước vẫn còn nhiều tầng nấc, tính thống nhất
của hệ thống cơ quan hành chính nhà nước chưa cao; hiệu lực, hiệu quả quản
lý của bộ máy nhà nước còn có mặt hạn chế. Vì vậy, tiếp tục đổi mới, cải cách
để hoàn thiện bộ máy nhà nước đã trở thành một yêu cầu tất yếu của thực tiễn
cuộc sống. Việc cải cách bộ máy không chỉ dừng lại ở các cơ quan nhà nước
Trung ương, mà cần đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền địa
phương các cấp nhằm đảm bảo tính thống nhất, thông suốt của hệ thống hành
chính nhà nước, xác định rõ vị trí, trách nhiệm của chính quyền địa phương
trong hệ thống cơ quan nhà nước.
Bộ máy chính quyền địa phương ở nước ta bao gồm Hội đồng nhân
dân (HĐND) và Ủy ban nhân dân (UBND). Kể từ khi hình thành đến nay,
chỉnh cơ cấu chính quyền địa phương phù hợp với những thay đổi chức năng,
nhiệm vụ. Phân biệt rõ những khác biệt giữa chính quyền nông thôn và chính
quyền đô thị để tổ chức bộ máy phù hợp" [15]. Gần đây nhất, vấn đề đã được
đặt ra một cách trực diện khi Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành
Trung ương khóa X (năm 2007) đã chỉ rõ: "Đối với chính quyền nông thôn
không tổ chức Hội đồng nhân dân ở huyện; đối với chính quyền đô thị không
tổ chức Hội đồng nhân dân ở quận và phường" [16].
9
Với tinh thần chủ động cải cách mô hình tổ chức chính quyền địa
phương, Nghị quyết số 17/NQ-TW ngày 01 tháng 8 năm 2007 của Hội nghị
Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về đẩy mạnh cải cách hành chính,
nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước đã đề ra chủ trương
"Thực hiện thí điểm việc không tổ chức Hội đồng nhân dân huyện, quận,
phường. Qua thí điểm sẽ tổng kết, đánh giá và xem xét để có chủ trương sửa
đổi, bổ sung Hiến pháp về tổ chức chính quyền địa phương cho phù hợp" [16].
Tính đến nay, Đề án thực hiện thí điểm không tổ chức HĐND huyện,
quận, phường tại 67 huyện, 32 quận, 483 phường của 10 tỉnh, thành phố đã
được triển khai trên thực tế hơn 3 năm (bắt đầu từ ngày 25/04/2009). Đề án đã
đạt được mục tiêu đề ra, tạo bước đột phá trong cải cách hành chính, góp phần
tổ chức hợp lý chính quyền địa phương, đảm bảo tính thống nhất, xuyên suốt,
hiệu lực, hiệu quả của bộ máy hành chính nhà nước, thực hiện đúng nguyên
tắc tập trung dân chủ trong quản lý, điều hành của UBND đồng thời phát huy
tính chủ động, trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan hành chính. Tuy
nhiên chủ trương này thời gian qua mới được thực hiện tại 10 trên tổng số 63
tỉnh, thành phố trong cả nước; và quá trình triển khai trên thực tế cũng đã phát
sinh những hạn chế, bất cập mới.
Chính vì vậy, nghiên cứu bộ máy chính quyền địa phương nói chung
và bộ máy chính quyền phường nói riêng trong điều kiện không tổ chức
HĐND là một yêu cầu khách quan, để từ đó đưa ra những cơ sở lý luận mang
bài viết, các bài luận ngắn được đăng trên báo, tạp chí như: "Cơ sở lý luận và
thực tiễn của việc không tổ chức Hội đồng nhân dân ở huyện, quận và
phường" của PGS.TS Bùi Xuân Đức (Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 14
(130) tháng 09/2008); "Cơ sở lý luận và thực tiễn thực hiện không tổ chức
Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường" của TS. Văn Tất Thu (Tạp chí
Cộng sản số 817 (tháng 11/2010)); "Thực hiện thí điểm không tổ chức Hội
đồng nhân dân huyện, quận, phường: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn" của
11
PGS.TS.Trương Đắc Linh (Tạp chí Khoa học pháp lý, Trường Đại học Luật
Thành phố Hồ Chí Minh Số 2(51)/2009)…
Vì vậy, với mong muốn xây dựng một công trình nghiên cứu chuyên
sâu và đầy đủ về bộ máy chính quyền phường trong điều kiện không tổ chức
HĐND, tác giả lựa chọn và thực hiện nghiên cứu đề tài nghiên cứu này.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ của luận văn
Với mong muốn xây dựng một công trình nghiên cứu chuyên sâu và
đầy đủ về bộ máy chính quyền phường trong điều kiện không tổ chức HĐND,
luận văn sẽ tập trung phân tích để làm rõ những nội dung sau đây:
Thứ nhất, nêu, phân tích và đánh giá về quá trình tổ chức bộ máy
chính quyền phương trong hệ thống bộ máy nhà nước.
Tập trung làm rõ cơ cấu tổ chức bộ máy chính quyền phường trong hệ
thống bộ máy nhà nước kể từ thời điểm xây dựng chính quyền địa phương
trong cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến thời điểm hiện nay theo
pháp luật hiện hành. Trên cơ sở đó, đưa ra các đánh giá, nhận định về cách
thức tổ chức bộ máy chính quyền địa phương nói chung, bộ máy chính quyền
phường nói riêng.
Thứ hai, nêu, phân tích và đánh giá tổ chức bộ máy chính quyền
phường trong điều kiện không tổ chức HĐND.
Luận văn đưa ra những cơ sở lý luận và thực tiễn để chứng minh sự
cần thiết khách quan thực hiện không tổ chức HĐND phường trong bộ máy
quận - là các cấp chính quyền thực hiện thí điểm không tổ chức HĐND cũng
như các cấp chính quyền khác trong bộ máy chính quyền địa phương ở nước ta.
Tuy nhiên, quá trình phân tích tổ chức bộ máy chính quyền phường
không đặt riêng bộ máy chính quyền phường ra khỏi tổ chức bộ máy chính
quyền địa phương mà sẽ được đặt trong một thể thống nhất để đảm bảo tính
hợp lý và phù hợp.
13
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Đề tài được sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch
sử trong việc nghiên cứu. Mọi vấn đề nghiên cứu luôn phải xem xét trong
trạng thái vận động biến đổi không ngừng, luôn đặt trong quan hệ tổng thế tác
động qua lại giữa hiện tượng nghiên cứu với các hiện tượng khác. Các hiện
tượng luôn được xem xét trong cả quá trình từ sự hình thành đến sự phát triển
qua các giai đoạn khác nhau. Một số phương pháp tiếp cận cụ thể được áp
dụng như: phương pháp tổng hợp, phương pháp phân tích, phương pháp so
sánh, phương pháp điều tra…
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Chính quyền phường và bộ máy chính quyền phường - quá
trình xây dựng và phát triển.
Chương 2: Mô hình chính quyền phường trong điều kiện không tổ
chức Hội đồng nhân dân.
Chương 3: Kiến nghị để tiếp tục hoàn chỉnh mô hình chính quyền
phường trong điều kiện không tổ chức Hội đồng nhân dân.
14
Chương 1
CHÍNH QUYỀN PHƢỜNG VÀ BỘ MÁY CHÍNH QUYỀN PHƢỜNG -
cách hành chính nhà nước đối với chính quyền địa phương chỉ đề cập tới việc
kiện toàn củng cố HĐND và UBND các cấp và hướng cải cách tổ chức và
hoạt động của hai cơ quan này mà không đề cập tới các cơ quan nhà nước
khác trong hệ thống các cơ quan nhà nước ở địa phương.
Quan niệm về chính quyền địa phương trên đây cho đến nay vẫn là
quan niệm được thừa nhận chung. Theo đó, HĐND và Ủy ban hành chính
(UBHC) (hoặc UBND) là các cơ quan do nhân dân lập ra để thực hiện quản lý
các công việc địa phương tạo thành khái niệm chính quyền địa phương. Các
cơ quan khác như Tòa án, Viện kiểm sát…tuy có thực hiện các công việc của
nhà nước trên lãnh thổ địa phương nhưng không do nhân dân địa phương lập
ra không được xem là các cơ quan thuộc thuật ngữ "chính quyền địa phương".
Như vậy, chính quyền địa phương là chính quyền do nhân dân địa phương lập
ra xuất phát từ nhu cầu quản lý nhà nước ở địa phương, phục vụ nhân dân địa
phương. Cơ quan nhà nước nào có được đặc điểm đó thì được xem là cơ quan
nhà nước địa phương.
Thời Pháp thuộc, nước ta chia ra làm ba kỳ, kỳ chia ra tỉnh, tỉnh chia
ra phủ, phủ chia ra huyện, huyện chia ra tổng và cuối cùng là xã. Việc tổ chức
lại hệ thống đơn vị hành chính nhằm mục tiêu xóa bỏ hệ thống cai trị, xây
dựng mô hình tổ chức chính quyền địa phương kiểu mới và vận dụng các
nguyên tắc phân chia mới. Có thể thấy những hoạt động phân chia lại như sáp
nhập (tỉnh, huyện (những năm 1960), xã (sau 1945)), lập thêm đơn vị hành
chính (thị trấn (1951), khu tự trị (1959), phường (1980)) chính là thể hiện sự
vận dụng nguyên tắc kinh tế (làm to đơn vị hành chính), dân tộc (có khu tự
trị) và gần dân (áp xuống khu phố).
Như vậy, mô hình chính quyền phường được ghi nhận thông qua Hiến
pháp năm 1980. Chính quyền phường cùng với chính quyền xã, thị trấn được
gọi chung là chính quyền cấp xã.
16
Tuy nhiên, chính quyền phường được xác định là đơn vị hành chính ở
Đến thời các chúa Nguyễn, gọi Ái Tử (Quảng Trị) và sau đó là Phú Xuân,
nơi đóng đô, là Chính dinh với bộ máy cai quản gồm Chúa, 4 viên quan đại thần
(nội tả, hữu tả, nội hữu, ngoại hữu) và các ty. Sau đó lại đổi gọi là đô thành.
(Các lãnh thổ khác chia thành các Dinh đứng đầu là Trấn thủ và dưới dinh có
phủ, huyện, châu, xã đứng đầu là Tri phủ, Tri huyện, Tri châu và xã trưởng).
Thời Pháp thuộc, các đô thị được mở mang và phát triển. Chúng được
gọi chung là thành phố hay thành phố tự quản và phân theo các cấp khác nhau.
Từ sau Cách mạng tháng Tám, tên đô thị và cách tổ chức chính quyền
có nhiều thay đổi. Về tên gọi, các đô thị (thời kỳ đầu gọi là các thị trấn) được
đặt những tên gọi và với vị trí khác nhau.
- Thành phố là tên gọi chỉ các thị trấn lớn như Hà Nội, Nam Định,
Vinh - Bến Thủy, Huế, Đà Nẵng, Sài Gòn - Chợ Lớn. Thành phố nói chung,
theo quy định, được chia ra các khu phố - đơn vị tương đương huyện (đối với
Hà Nội) và tương đương xã (đối với các thành phố, thị xã khác).
- Thị xã là tên gọi các tỉnh lỵ và những nơi đô hội về mặt hành chính,
là nơi tập trung công thương nghiệp, cửa hàng, giao thông vận tải được biệt
lập và quan hệ trực tiếp với tỉnh. Thị xã được quy định có thể chia ra khu phố
(cũng tên là khu phố nhưng tương đương như cấp xã - con dấu tạm theo
khuôn khổ dấu của UBHC xã) nhưng nơi nào dân số còn ít (chưa tới 1 vạn)
thì không nên chia. Dưới đơn vị hành chính này có các tổ chức nhân dân là
"tiểu khu và tiếp đến là tổ nhân dân" [41]. Về sau, từ năm 1980 thì thị xã,
thành phố thuộc tỉnh đều được chua ra phường và xã.
- Thị trấn là đơn vị hành chính được tổ chức sau này (từ năm 1952)
trên địa bàn dân cư vốn trước đó được đặt dưới sự quản lý của xã, do dân cư
tập trung làm ăn, giao thương buôn bán trở nên đông đúc, cần một sự quản lý
độc lập mà thành.
- Ngoài ra, còn một đơn vị dân cư có tính đô thị là xóm phố hay thị tứ.
Theo quy định trước đây, xóm phố là một loại đơn vị dân cư có tính đô thị
18
- Sắc lệnh số 77 ngày 21 tháng 12 năm 1945 về tổ chức HĐND và ủy
ban hành chính thành phố, khu phố ("Sắc lệnh số 77").
Theo hai Sắc lệnh này, chính quyền địa phương ở nước ta được tổ
chức ở 4 cấp: cấp kỳ - cấp tỉnh, thành phố - cấp huyện, khu phố - cấp xã.
Nhưng trong 4 cấp chính quyền địa phương nói trên chỉ có cấp tỉnh và cấp xã
ở địa bàn nông thôn, cấp thành phố ở địa bàn đô thị được xác định là cấp
chính quyền hoàn chỉnh có HĐND và UBHC. Còn cấp kỳ và cấp huyện chỉ là
cấp trung gian; ở kỳ, huyện và khu phố chỉ tổ chức UBHC, không có HĐND.
Chính quyền cấp kỳ: cấp kỳ được xem là cấp chính quyền trung gian
giữa Chính phủ với các cấp chính quyền địa phương. Ở cấp này chỉ có UBHC
do đại biểu HĐND các tỉnh và thành phố trong kỳ bầu ra. UBHC kỳ gồm 5 ủy
viên chính thức (1 Chủ tịch, 1 Phó Chủ tịch, 1 Thư ký và 2 ủy viên) và 2 ủy
viên dự khuyết. UBHC kỳ có nhiệm vụ chủ yếu là: thi hành các mệnh lệnh
của Chính phủ; kiểm soát các UBHC và HĐND cấp dưới; ra lệnh điều động
quân đội trong những trường hợp tối khẩn cấp để bảo vệ đất nước (Điều 90,
Điều 84 Sắc lệnh số 63).
Chính quyền cấp tỉnh là cấp chính quyền hoàn chỉnh, có HĐND và UBHC.
HĐND tỉnh có từ 20 đến 30 đại biểu chính thức và một số đại biểu dự
khuyết tương đương với mỗi đơn vị bầu cử. HĐND tỉnh có quyền quyết nghị
về tất cả các vấn đề thuộc phạm vi tỉnh mình nhưng không được trái với chỉ
thị của các cấp trên (Điều 80 Sắc lệnh số 63).
UBHC tỉnh do HĐND tỉnh bầu trong số các đại biểu HĐND tỉnh. UBHC
tỉnh gồm 3 ủy viên chính thức (1 Chủ tịch, 1 Phó Chủ tịch, 1 Thư ký) và 2 ủy
viên dự khuyết. UBHC tỉnh có trách nhiệm thi hành các mệnh lệnh của cấp
trên, thi hành các nghị quyết của HĐND tỉnh sau khi đã được cấp trên chuẩn
y, chỉ huy các công việc hành chính cấp dưới (Điều 88 Sắc lệnh số 63).
Chính quyền cấp huyện được xác định là cấp trung gian. Ở huyện chỉ
tổ chức UBHC. UBHC huyện do đại biểu của HĐND các xã trong huyện bầu
20
phố Hà Nội và thành phố Sài Gòn - Chợ Lớn có 5 ủy viên chính thức (1 Chủ
tịch, 2 Phó Chủ tịch, 2 Thư ký) và 3 ủy viên dự khuyết.
Còn UBHC khu phố do cử tri trong khu phố trực tiếp bầu. UBHC khu
phố gồm 3 ủy viên chính thức (1 Chủ tịch, 1 Phó Chủ tịch, 1 Thư ký) và 2 ủy
viên dự khuyết. Riêng UBHC khu phố ở Hà Nội có 5 ủy viên chính thức và
2 ủy viên dự khuyết.
Về nhiệm vụ, quyền hạn của UBHC thành phố và khu phố cũng như
UBHC các cấp khác, đều là những cơ quan hành chính ở thành phố và khu
phố, có trách nhiệm thi hành mệnh lệnh cấp trên, thi hành nghị quyết HĐND
thành phố, giải quyết các công việc trên địa bàn thành phố.
Ngày 9 tháng 11 năm 1946, Quốc hội chính thức thông qua bản Hiến
pháp đầu tiên, đặt cơ sở vững chắc cho việc tổ chức chính quyền địa phương
ở nước ta. Mặc dù Điều 2 Hiến pháp 1946 khẳng định: "Đất nước Việt Nam là
một khối thống nhất Trung Nam Bắc không thể phân chia" [27], nhưng về
phương diện hành chính, theo Hiến pháp năm 1946 nước ta vẫn gồm ba bộ:
Bắc, Trung, Nam. Mỗi bộ chia thành tỉnh, thành phố; mỗi tỉnh chia thành
huyện, thành phố chia thành khu phố; mỗi huyện chia thành xã. Tổ chức
chính quyền ở mỗi cấp hành chính nói trên về cơ bản vẫn như hai Sắc lệnh
năm 1945 đã quy định (Điều 58 - Điều 61 Hiến pháp năm 1946).
Khi cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ, chúng ta không có điều kiện
ban hành một đạo luật để quy định chi tiết tổ chức HĐND và UBHC như
Điều 62 Hiến pháp năm 1946 quy định, nên tổ chức và hoạt động của chính
quyền địa phương vẫn chủ yếu theo hai Sắc lệnh số 63 và Sắc lệnh số 77 năm
1945. Nhưng để phù hợp với điều kiện kháng chiến, Chính phủ đã ban hành
hàng chục sắc lệnh sửa đổi, bổ sung Sắc lệnh 63 và Sắc lệnh 77 cho phù hợp
với điều kiện kháng chiến.
Trong suốt 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp các cơ quan chính
quyền địa phương cả ở vùng tự do cũng như vùng địch tạm chiếm đã giữ vai
22
"cơ quan hành chính cao nhất của toàn quốc" để kịp thời chỉ đạo và kiểm soát
được hoạt động của các cấp chính quyền địa phương, bảo đảm thông suốt nền
hành chính thống nhất từ trung ương đến địa phương.
Ba là, ngay từ những ngày đầu mới giành được chính quyền, chúng ta
đã phân biệt rõ sự khác nhau trong việc quản lý và tổ chức bộ máy chính
quyền ở vùng nông thôn với quản lý và tổ chức bộ máy chính quyền ở đô thị.
Vì vậy, Chính phủ đã ban hành 2 Sắc lệnh riêng để quy định về hai mô hình
tổ chức chính quyền địa phương ở địa bàn nông thôn (xã, huyện, tỉnh theo Sắc
lệnh số 63) và mô hình tổ chức chính quyền ở đô thị (thành phố, khu phố theo
Sắc lệnh số 77) là khác nhau.
Bốn là, trong cơ cấu tổ chức chính quyền địa phương, cả các quy định
của pháp luật cũng như thực tiễn hoạt động của HĐND và UBHC, nhất là
trong thời kỳ kháng chiến (1946 - 1954) vị trí, vai trò và thẩm quyền của Ủy
ban hành chính các cấp được tăng cường, đề cao hơn HĐND. HĐND các cấp
đặt dưới sự giám sát tương đối chặt chẽ và toàn diện cả về tổ chức, cả về hoạt
động của các cơ quan hành chính nhà nước cấp trên (cơ quan hành chính cấp
trên chuẩn y kết quả bầu UBHC cấp dưới, chuẩn y các nghị quyết HĐND cấp
dưới về nhiều vấn đề…). Sự giám sát này được xem như sự giám hộ hành
chính do các cơ quan hành chính cấp trên thực hiện với tư cách người đại diện
cho Chính phủ bảo đảm cho nền hành chính hoạt động thống nhất và thông
suốt và nhằm xây dựng và thực hiện "một chính quyền mạnh mẽ của nhân
dân", nhưng chính quyền đó vẫn là "chính quyền sáng suốt của nhân dân". Vì
HĐND các cấp có quyền quyết định về mọi vấn đề của địa phương nếu không
trái với mệnh lệnh của cấp trên, tất cả UBHC các cấp đều do HĐND cùng cấp
hoặc các HĐND cấp dưới bầu ra, riêng UBHC khu phố còn do cử tri trực tiếp
bầu ra.
Năm là, cơ cấu tổ chức HĐND và UBHC các cấp gọn nhẹ. HĐND chỉ
từ 15 đến 25 hội viên đối với cấp xã, hoặc 20 đến 30 hội viên đối với cấp tỉnh.
24
Ở mỗi tiểu khu thành lập một cơ quan đại diện của UBHC khu phố gọi
là Ban đại diện hành chính tiểu khu là tổ chức mang tính tự quản của nhân
dân tiểu khu, không phải là một cấp chính quyền.
Khác với trước đây, Hiến pháp 1959 và Luật năm 1962 xác định: "Hội
đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương". Còn UBHC
được xác định là "cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, đồng thời là cơ
quan hành chính của Nhà nước ở địa phương" (Điều 80 và Điều 87 Hiến
pháp; Điều 2 và Điều 3 Luật năm 1962). Những quy định hiến pháp đánh dấu
xu hướng tổ chức chính quyền địa phương bắt đầu theo và chịu ảnh hưởng
của mô hình tổ chức chính quyền Xô viết địa phương, thể hiện rõ nguyên tắc
tập quyền XHCN, đề cao vị trí và vai trò của HĐND trước UBHC cùng cấp
và trong hệ thống các cơ quan nhà nước nói chung. Bằng những quy định này,
HĐND không còn đơn thuần là các "cơ quan thay mặt cho nhân dân địa
phương" mà nó còn là cơ quan quyền lực nhà nước, thay mặt cho Nhà nước ở
địa phương.
Tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương ở giai đoạn này
được điều chỉnh bằng một đạo luật, - Luật Tổ chức HĐND và UBHC các cấp
năm 1962, như tên gọi của nó là văn bản pháp lý duy nhất quy định tổ chức
chính quyền địa phương ở cả tỉnh cũng như thành phố trực thuộc trung ương.
Để phân biệt quản lý và tổ chức bộ máy chính quyền ở nông thôn (tỉnh, huyện
ngoại thành) với quản lý và tổ chức bộ máy chính quyền ở đô thị (thành phố,
khu phố), Luật năm 1962 một mặt quy định những nhiệm vụ, quyền hạn chung
của HĐND và UBHC các cấp, mặt khác có những quy định riêng về nhiệm
vụ, quyền hạn cụ thể của HĐND và UBHC thành phố, khu phố (Điều 46 và
Điều 47 của Luật).
Luật Tổ chức HĐND và UBHC năm 1962 cũng xác định rõ hơn mối
quan hệ giữa HĐND với UBHC cùng cấp, giữa HĐND cấp dưới với các cơ
quan hành chính cấp trên theo hướng đề cao vị trí và vai trò của HĐND. Ví