Phòng, chống buôn bán người ở Việt Nam thực trạng và giải pháp Luận văn ThS. Pháp luật và quyền con người - Pdf 25


I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
NGUYN HU QUANG
PHòNG, CHốNG BUÔN BáN NGƯờI ở VIệT NAM:
THựC TRạNG Và GIảI PHáP Chuyờn ngnh: Phỏp lut v quyn con ngi
Mó s: Chuyờn ngnh o to thớ im LUN VN THC S LUT HC

NGƯỜI CAM ĐOAN
Nguyễn Hữu Quang MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Các chữ viết tắt trong luận văn
Danh mục bảng
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÒNG, CHỐNG
BUÔN BÁN NGƯỜI 7
1.1. Khái niệm, đặc điểm buôn bán người 7
1.1.1. Khái niệm buôn bán người 7
1.1.2. Đặc điểm của buôn bán người 11
1.2. Vấn đề buôn bán người và bảo vệ quyền con người 18
1.2.1. Khái quát vấn đề buôn bán người và bảo vệ quyền con người
trong pháp luật quốc tế 18
1.2.2. Nội dung buôn bán người xâm phạm quyền con người 23
1.3. Hệ thống pháp luật quốc tế và các chiến lược về phòng,
chống buôn bán người 25
1.3.1. Hệ thống pháp luật quốc tế về phòng, chống buôn bán người 25
1.3.2. Các chiến lược về phòng, chống buôn bán người 31
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN ĐẤU
TRANH PHÒNG, CHỐNG BUÔN BÁN NGƯỜI 37

3.3.2. Một số giải pháp tăng cường hợp tác quốc tế trong phòng, chống
buôn bán người 85
3.4. Một số giải pháp khác nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng,
chống buôn bán người 87 3.4.1. Giải pháp về phổ biến, tuyên truyền pháp luật về phòng, chống
buôn bán người 87
3.4.2. Giải pháp về tổ chức quản lý trong phòng, chống buôn bán người 88
3.4.3. Giải pháp phòng ngừa liên quan đến nạn nhân 90
KẾT LUẬN 93
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 95
CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

BBN
:
Buôn bán người
BLHS
:
Bộ luật hình sự
BLTTHS
:
Bộ luật tố tụng hình sự
MBN
:
Mua bán người
PCBBN

1
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
BBN bao gồm cả phụ nữ, nam giới và trẻ em, đặc biệt là cho mục đích
tình dục không phải là hiện tượng mới mà đã và đang trở thành một "thực tế
phổ biến trong nhiều xã hội qua các thời kỳ lịch sử" [12, tr.147]. Trong những
thập kỷ gần đây, BBN, đặc biệt là phụ nữ, trẻ em diễn biến rất phức tạp, có
chiều hướng gia tăng, thủ đoạn ngày càng tinh vi, xảo quyệt, trở thành "ngành
kinh doanh hoàn hảo" [2, tr.1] tạo ra lợi nhuận rất lớn cho những kẻ buôn
người và nhóm tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia.
BBN là loại tội phạm nguy hiểm, xâm phạm quyền bất khả xâm phạm
về thân thể, danh dự, nhân phẩm, quyền tự do của con người được Hiến pháp
và pháp luật quy định; xâm hại nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội, gây
hoang mang trong nhân dân, phá vỡ hạnh phúc của nhiều gia đình, đồng thời
"xâm phạm đến chính sách đối nội, đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta" [14,
tr.265]. Dưới góc độ QCN, BBN vi phạm nghiêm trọng các quyền cơ bản của
con người được quy định trong "Bộ luật nhân quyền quốc tế, các văn kiện cốt
lõi về nhân quyền và các công ước khác về QCN" [33, tr.231].
Nhận thức được tính chất nguy hiểm của hành vi BBN và những diễn
biến phức tạp của loại tội phạm này, Đảng, Nhà nước ta đã ban hành nhiều
chủ trương, chính sách, văn bản pháp luật tạo cơ sở pháp lý cho việc phòng
ngừa, trấn áp và trừng trị loại tội phạm này nhằm thực hiện đầy đủ "nghĩa vụ
của Nhà nước trong việc đảm bảo QCN" [30, tr.60]. Nhìn chung, Việt Nam
đã có nền tảng pháp lý chung và các văn bản quy phạm pháp luật quy định
tương đối cụ thể về tội phạm hóa hành vi BBN, trách nhiệm của các cơ quan
liên quan trong PCBBN. Chúng ta cũng có khung pháp luật tương đối hoàn

nâng cao năng lực cho phụ nữ (CEPEW), NXB Hà Nội, năm 2004; 3
“Những điều cần biết về PCBBN đặc biệt là PNTE” của Phan Thị Hòa,
Lê Phương Thúy, Lê Tường Vân, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Hà Nội,
năm 2003;
“Hoạt động điều tra các vụ án buôn bán PNTE” của Nguyễn Văn Cảnh,
Nguyễn Hoàng Minh, NXB CAND, năm 2007;
- Các công trình nghiên cứu dưới hình thức luận án, luận văn:
Luận án tiến sĩ với đề tài: Đấu tranh phòng, chống tội mua bán phụ nữ
ở Việt Nam, của tác giả Nguyễn Văn Hương (bảo vệ tại Trường Đại học Luật
Hà Nội, năm 2008);
Luận văn thạc sĩ với đề tài: “Đấu tranh phòng, chống tội mua bán
PNTE ở Việt Nam - Thực trạng, nguyên nhân và giải pháp”, của tác giả Trần
Văn Thạch (bảo vệ tại Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2002);
Luận văn thạc sĩ với đề tài: “Đấu tranh phòng, chống tội phạm buôn
bán phụ nữ, trẻ em ở Việt Nam”, của tác giả Nguyễn Quyết Thắng (bảo vệ tại
Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2006).
- Các bài viết trên các báo, tạp chí:
“Cần từng bước hoàn thiện pháp luật về Phòng, chống tội phạm buôn
bán PNTE” của Lương Thanh Hải, Tạp chí Tòa án Nhân dân, năm 2006;
“Phòng, chống tội phạm buôn bán PNTE trong giai đoạn hiện nay” của
Lương Thanh Hải, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, năm 2006;
Chuyên đề “Đẩy mạnh công tác phòng ngừa, đấu tranh chống
TPMBN”, Tạp chí Công an Nhân dân, Hà Nội, năm 2011.
Các công trình nghiên cứu, các bài báo khoa học trên đã cung cấp hệ
thống tri thức, các thông tin về PCBBN, là nguồn tài liệu quan trọng góp phần
làm rõ tình hình, tính chất nguy hiểm của loại tội phạm này. Tuy nhiên, chưa
có công trình nghiên cứu một cách đầy đủ, toàn diện về PCBBN ở Việt Nam
5
5. Những đóng góp về lý luận và thực tiễn của luận văn
Là công trình nghiên cứu một cách có hệ thống và tương đối toàn diện
về PCBBN ở Việt Nam từ năm 2008 đến tháng 6/2013 nên kết quả của luận
văn có những nội dung được coi là mới, có đóng góp về mặt lý luận và thực
tiễn, cụ thể là:
- Phân tích đánh giá có hệ thống pháp luật thực định về PCBBN trên cơ
sở so sánh với hệ thống luật pháp quốc tế về vấn đề này.
- Khảo sát, đánh giá thực tiễn đấu tranh PCBBN giai đoạn từ năm 2008
đến tháng 6/2013.
- Đánh giá những kết quả đạt được, những tồn tại, hạn chế và nguyên
nhân của những tồn tại, hạn chế.
- Dự báo tình hình, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác
PCBBN trong thời gian tới.
Với kết quả nghiên cứu như trên, luận văn có thể được sử dụng làm tài
liệu tham khảo phục vụ nghiên cứu, giảng dạy chuyên ngành pháp luật về
QCN ở các cơ sở đào tạo pháp luật.
6. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn này được thực hiện trên cơ sở vận dụng phương pháp duy vật
biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lê nin và các phương pháp nghiên cứu cơ
bản của khoa học xã hội, gồm: tổng hợp, phân tích và so sánh.
- Phương pháp luận
Đề tài sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và
chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh,
đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam, pháp luật của Nhà nước
về tội phạm và hình phạt, về đấu tranh PCBBN, đồng thời tiếp thu những tiêu
chuẩn pháp lý quốc tế được thừa nhận về PCBBN.


kết tại Paris ngày 18/5/1904 đã đưa ra thuật ngữ "nô lệ da trắng"(White Slavery)
[19] để chỉ nạn nhân bị buôn bán là phụ nữ hoặc trẻ em gái với mục đích mại
dâm. Năm 1910, tiếp tu
̣
c co
́
một công ước quốc tế được ký kết tại Paris đã đưa ra
định nghĩa về BBN là: "Bất cứ ai, để thỏa mãn niềm đam mê của người khác, có
gian lận, hoặc bằng phương tiện bạo lực, đe dọa, lạm dụng quyền hạn, hoặc
phương pháp nào khác ép buộc, mua sắm, dụ dỗ hoặc dẫn đi một người phụ nữ
hoặc cô gái ở độ tuổi chưa thành niên với mục đích mại dâm" [18].
Cho đến thời điểm trước năm 1949, các công ước chỉ thống nhất được
vấn đề BBN có liên quan đến việc ép buộc PNTE gái da trắng ở nước ngoài
với mục đích mại dâm.Theo đó, "việc tạm giữ một phụ nữ hoặc cô gái trong
một nhà chứa được coi nằm ngoài phạm vi của công ước" [39, tr.37].
Năm 1949, Liên Hợp Quốc đã thông qua "Công ước về trấn áp việc
BBN và bóc lột mại dâm người khác" [24]. Tuy nhiên, công ước không xác
định BBN là gì và không có bất kỳ tài liệu chính thức nào phục vụ đàm phán
để làm cho các bên hiểu rõ hơn về khái niệm BBN, mà chỉ đòi hỏi các quốc
gia trừng phạt bất kỳ người nào, để thỏa mãn niềm đam mê của người khác, 8
mà: (1) Môi giới, dụ dỗ hoặc dẫn dắt một người khác nhằm mục đích mại
dâm, thậm chí với sự đồng ý của người đó; (2) Bóc lột mại dâm người khác,
thậm chí với sự đồng ý của người đó. Công ước cũng yêu cầu các quốc gia ký
kết trừng phạt những người liên quan trong việc tổ chức hay quản lý, tài trợ
hoặc tham gia vào việc tài trợ cho một nhà chứa mại dâm; cố ý cho thuê hoặc
đi thuê một ngôi nhà hoặc một địa điểm khác hoặc bất kỳ một phần địa điểm
như vậy để sử dụng vào mục đích mại dâm. Như vậy, theo công ước của Liên

Tiến sy
̃
Tri
̣
nh Tiến Việt đưa ra định nghĩa:
Tội MBN là hành vi dùng tiền hoặc các lợi ích vật chất khác
mua, bán, trao đổi con người từ đủ 16 tuổi trở lên như một thứ hàng
hóa, do người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách
nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý, xâm phạm đến danh dự,
nhân phẩm, quyền tự do thân thể của con người được Hiến pháp và
pháp luật bảo vệ [37, tr.209].
So với hai quan điểm nêu trên, quan điểm này toàn diện hơn cả.
Tuy nhiên, quan điểm của các học giả Việt Nam như trên vẫn có những
hạn chế, đó là chỉ dựa vào các yếu tố cấu thành tội phạm BBN được quy định
tại Điều 119 và Điều 120 BLHS để định nghĩa về hành vi BBN. Cách tiếp cận
vấn đề như vậy chưa toàn diện,cần phải định nghĩa theo cách tiếp cận cấp
quốc gia. Theo hướng đó, định nghĩa sẽ hỗ trợ các nước hợp tác quốc tế một
cách có hiệu quả trong điều tra, truy tố các vụ án BBN. Ngoài ra, định nghĩa
cũng phải hướng tới mục tiêu quan trọng hơn, đó là tạo điều kiện để các quốc
gia hợp tác trong bảo vệ QCN của nạn nhân và người thân thích của họ trong
đấu tranh PCBBN.
Cho đến thời điểm hiện tại, định nghĩa BBN được ghi nhận tại Điều 3,
Nghị định thư về phòng ngừa, trấn áp và trừng trị việc BBN, đặc biệt là
PNTE, bổ sung Công ước của Liên Hợp Quốc chống tội phạm có tổ chức 10
xuyên quốc gia, 2000 (Nghị định thư về chống BBN) được cộng đồng quốc tế
thừa nhận là toàn diện và đầy đủ nhất. Theo đó:
(a) “BBN” được hiểu là “việc tuyển mộ, vận chuyển, chuyển

nữ và trẻ em dễ trở thành nạn nhân bị buôn bán. Tóm lại, cho đến thời điểm
hiện tại, đây là định nghĩa toàn diện và đầy đủ nhất, được cộng đồng quốc tế
thừa nhận và từng bước được đưa vào nội luật của các quốc gia.
1.1.2. Đặc điểm của buôn bán người
Từ định nghĩa về BBN, có thể rút ra một số đặc điểm của loại tội phạm
này như sau:
Một là, về mặt khách quan, hành vi BBN là việc thực hiện một trong
các hành vi: tuyển mộ, vận chuyển, chuyển giao, chứa chấp, tiếp nhận đối
tượng bị buôn bán.
Tuyển mộ là những hoạt động hướng tới việc tuyển người theo thỏa
thuận, được thể hiện dưới hình thức lựa chọn, tìm kiếm ứng cử viên, ghi tên
những người mong muốn Đây là thời điểm những người tuyển dụng thực
hiện sự tiếp xúc đầu tiên với nạn nhân, đưa ra những lời hứa hẹn để đạt được
mục đích. Việc tuyển mộ trẻ em được diễn ra trong hoàn cảnh khác, những kẻ
buôn người tuyển mộ trẻ em ở độ tuổi còn nhỏ, khi chúng sống với cha mẹ.
Lợi dụng sự nghèo đói,thiếu hiểu biết hoặc hoàn cảnh đặc biệt khó khăn của
gia đình đứa trẻ, những kẻ buôn người có thể đề nghị ứng trước cho cha mẹ
đứa trẻ tiền lương của chúng hoặc có thể gây sức ép dưới hình thức nào đó để
giành được quyền kiểm soát đứa trẻ và cuối cùng là bán, hoặc trực tiếp bóc lột
những đứa trẻ này.
Vận chuyển có nghĩa là di chuyển người từ địa điểm này sang địa điểm
khác bằng bất kỳ phương tiện nào. Việc di chuyển này không nhất thiết phải
qua biên giới quốc gia, mà chỉ cần đưa người đó (nạn nhân) ra khỏi nơi họ
sinh sống đến nơi khác. Những phương thức vận chuyển có thể là:di chuyển 12
nạn nhân từ một quốc gia bằng con đường lậu; di cư bất hợp pháp; di chuyển
bất hợp pháp dưới toa tàu chở hàng, ẩn náu trong xe chở hàng; đi du lịch bằng
giấy tờ và hộ chiếu hợp pháp của mình; di chuyển bằng giấy tờ ăn cắp hoặc

hoặc các hành vi bóc lột tình dục khác; (2) Các hình thức lao động hay dịch
vụ cưỡng bức; (3) Các hình thức nô lệ hay tương tự nô lệ như khổ sai; và (4)
Lấy đi các bộ phận cơ thể.
Bốn là, người bị hại là con người nói chung (nữ giới hoặc nam giới).
Năm là, với đối tượng bị buôn bán là trẻ em, chỉ cần có các hành vi
tuyển mộ, vận chuyển, chuyển giao, chứa chấp hay nhận trẻ em (là những
người dưới 18 tuổi) nhằm mục đích bóc lột sẽ bị coi là BBN, không cần tính
đến việc sử dụng bất kỳ phương thức, thủ đoạn nào.
Sáu là,về sự ưng thuận của nạn nhân: Một trong những vấn đề rất
quan trọng trong xử lý các vụ BBN là phải làm rõ nạn nhân có ưng thuận
để bị đưa đi trái phép hoặc bị buôn bán hay không. Điều này làm nảy sinh
vấn đề mang tính thực tiễn là: trong các vụ án BBN, những kẻ buôn người
bị buộc tội thường đưa ra những chứng cứ về sự ưng thuận của nạn nhân để
bào chữa cho hành vi phạm tội của chúng. Trong nhiều vụ BBN, mặc dù có
sự ưng thuận hoặc hợp tác ban đầu giữa nạn nhân và bọn BBN, nhưng sau
đó chúng thực hiện hành vi cưỡng bức, lạm dụng và bóc lột nạn nhân. Về
vấn đề này, Điều 3, đoạn (b) Nghị định thư về chống BBN quy định: vấn
đề ưng thuận của nạn nhân không có quan hệ gì một khi các phương thức,
thủ đoạn bất hợp pháp được thực hiện. Bất cứ sự ưng thuận ban đầu nào
cũng bị vô hiệu bởi nếu những kẻ buôn người sử dụng các phương thức,
thủ đoạn bất hợp pháp ở một số điểm trong quá trình thực hiện hành vi
BBN. Bên cạnh đó, Nghị định thư cũng loại trừ bất cứ sự ưng thuận nào có
thể xảy ra đối với nạn nhân là trẻ em dưới 18 tuổi để bị buôn bán.Như vậy,
theo Nghị định thư, sự ưng thuận có thể có cơ sở, nhưng hoàn toàn phải 14
không có các phương thức, thủ đoạn bất hợp pháp nào được sử dụng. Mặc
dù sự ưng thuận ban đầu của nạn nhân có giá trị nhưng sau đó còn được
duy trì ở tất cả các giai đoạn tiếp theo hay không. Nếu sự ưng thuận đó

Về vấn đề so sánh khái niệm"BBN" với khái niệm "MBN" trong pháp
luật Việt Nam, pháp luật thực định của Việt Nam hiện nay không sử dụng
thuật ngữ "BBN" mà sử dụng thuật ngữ "MBN". MBN được hiểu là “coi
người như một loại hàng hóa để trao đổi bằng tiền hoặc lợi ích vật chất
khác” [6, tr.1] và “MBN là hành vi dùng tiền, tài sản hoặc các lợi ích vật chất
khác để trao đổi người (từ đủ 16 tuổi trở lên) như một loại hàng hóa”[34,
tr.1]. Như vậy, khái niệm MBN của Việt Nam mặc dù có một số điểm giống
với khái niệm BBN, nhưng vẫn còn nhiều điểm khác nhau, cụ thể như sau:
Một là, về hành vi: Khái niệm MBN chỉ bao gồm 2 loại hành vi mua và
bán, không bao gồm các hành vi tuyển mộ, vận chuyển, chuyển giao, chứa
chấp và nhận người - là những hành vi xảy ra trong toàn bộ quá trình BBN.
Pháp luật Việt Nam quy định hành vi tuyển mộ, vận chuyển, chuyển giao,
chứa chấp và tiếp nhận là "hành vi giúp sức và tạo điều kiện cho việc MBN, là
những hành vi đi liền trước hành vi MBN" [13, tr.253].
Hai là, về phương thức: Khái niệm MBN không đề cập đến phương
thức hiện hành vi phạm tội, động cơ, mục đích, thủ đoạn phạm tội không phải
là yếu tố bắt buộc cấu thành TPMBN. Người phạm tội chỉ cần có hành vi
dùng tiền hoặc lợi ích vật chất khác để trao đổi lấy người là cấu thành tội
MBN, kể cả trong trường hợp nạn nhân hoàn toàn đồng ý với việc mua bán.
Trong khi đó, Nghị định thư về chống BBN quy định các hành vi nói trên
phải được thực hiện theo các phương thức, thủ đoạn như: đe dọa sử dụng, sử
dụng bạo lực hay các hình thức ép buộc, bắt cóc, lừa gạt, man trá, lạm dụng
quyền lực hoặc vị thế dễ bị tổn thương hay bằng việc cho hoặc nhận tiền hay
lợi nhuận để đạt được sự đồng ý của một người kiểm soát đối với những 16
người khác. Trong trường hợp đối tượng bị xâm hại là trẻ em thì không cần
tính đến việc bọn tội phạm có sử dụng hay không các thủ đoạn như trên,
TPBBN vẫn cấu thành nếu có hành vi tuyển mộ, vận chuyển, chuyển giao,

hoặc gián tiếp lợi ích về tài chính hoặc lợi ích vật chất khác từ việc một người
nhập cảnh trái phép vào một quốc gia thành viên mà người này không phải là
công dân của quốc gia đó hoặc thường trú tại quốc gia đó" [31, tr.1071].
Như vậy, "BBN" và "đưa người di cư trái phép" đều là hành vi bất hợp
pháp, được thực hiện bởi các nhóm tội phạm, thường là tội phạm có tổ chức,
xuyên quốc gia; đều có hành vi vận chuyển, chuyển giao, đưa một người vượt
qua biên giới quốc gia trái phép và đều hướng tới mục đích thu lợi nhuận. Tuy
nhiên, có giữa chúng có những điểm khác nhau là: (1) Về sự đồng tình của
nạn nhân: đưa người di cư trái phép được thực hiện với sự đồng ý của người
di cư. Trong khi đó, các nạn nhân của BBN không bao giờ đồng ý với việc họ
bị buôn bán hoặc nếu ban đầu họ đồng ý thì sự đồng ý này vô nghĩa vì nó đạt
được bằng các thủ đoạn của những kẻ buôn người. (2) Về mục đích “để bóc
lột”: đưa người di cư trái phép kết thúc bằng việc người nhập cư đến được địa
điểm thỏa thuận, sau đó họ đi đâu, làm gì tùy ý. Người phạm tội thu lợi nhuận
trực tiếp từ việc đưa được người di cư đến địa điểm thỏa thuận. Trong khi đó,
BBN được tiếp tục với sự bóc lột nạn nhân để tạo ra những nguồn lợi nhuận
bất hợp pháp cho những kẻ phạm tội hoặc băng nhóm tội phạm có tổ chức,
xuyên quốc gia. (3) Về tính chất xuyên quốc gia: đưa người di cư trái phép
luôn là hoạt động xuyên biên giới quốc gia, trong khi đó, BBN có thể không
như vậy. BBN có thể dẫn đến việc đưa người qua biên giới quốc gia hoặc có
thể chỉ là đưa người từ nơi này sang nơi khác ở trên cùng một quốc gia.
Việc phân biệt BBN và đưa người di cư trái phép có vai trò rất quan
trọng trong việc xác định tội danh và đấu tranh với bọn tội phạm, vì TPBBN
là loại tội phạm xâm phạm danh dự, nhân phẩm con người, có khung hình 18
phạt cao hơn nhiều so với tội đưa người di cư trái phép - là loại tội phạm xâm
phạm trật tự quản lý của Nhà nước. Bên cạnh đó, phân biệt BBN và đưa
người di cư trái phép còn có ý nghĩa quan trọng trong việc phát hiện và áp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status