ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRƢƠNG NGỌC SƠN
QUYÒN CON NG¦êI
TRONG T¹M GI÷, T¹M GIAM Vµ THI HµNH ¸N H×NH Sù -
QUA THùC TIÔN THµNH PHè H¶I PHßNG
Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử nhà nƣớc và pháp luật
Mã số: 60 38 01 01 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS. TS. NGUYỄN NGỌC CHÍ
HÀ NỘI - 2014
1.1. Khái niệm quyền con ngƣời của ngƣời bị tạm giữ, tạm giam
và thi hành hình phạt tù 12
1.1.1. Người bị tạm giữ, tạm giam và thi hành hình phạt tù 12
1.1.2. Cơ sở hình thành và phát triển quyền con người của người bị tạm
giữ, tạm giam và chấp hành hình phạt tù 15
1.1.3. Đặc điểm và định nghĩa về quyền con người của người bị tạm
giữ, tạm giam và thi hành án hình phạt tù 22
1.2. Bảo đảm quyền con ngƣời của ngƣời bị tạm giữ, tạm giam và
chấp hành hình phạt tù 27
1.2.1. Đảm bảo bằng pháp luật 27
1.2.2. Đảm bảo việc thực thi pháp luật 38
1.2.3. Cơ chế kiểm soát việc thực thi pháp luật 45
Chƣơng 2: CÁC TIÊU CHÍ QUỐC TẾ VỀ QUYỀN CỦA NGƢỜI BỊ
TẠM GIỮ, TẠM GIAM VÀ CHẤP HÀNH HÌNH PHẠT TÙ 49
2.1. Hệ thống các văn bản pháp luật quốc tế về quyền của ngƣời
bị tạm giữ, tạm giam và chấp hành hình phạt tù 49
2.1.1. Tuyên ngôn nhân quyền của Liên hợp quốc, 1948 49
2.1.2. Các văn bản pháp luật quốc tế khác 49
2.2. Các quyền của ngƣời bị tạm giữ, tạm giam và chấp hành
hình phạt tù theo pháp luật Việt Nam theo tiêu chí quốc tế 51
2.2.1. Quyền sống 51
2.2.2. Quyền được bảo vệ không bị tra tấn, đối xử tàn bạo 53
2.2.3. Quyền được bảo vệ không bị bắt làm nô lệ hay bị hạ nhục 53
2.2.4. Quyền được xét xử công bằng 55
2.2.5. Quyền được đối xử nhân đạo, tôn trọng phẩm giá của những
người bị tước quyền tự do 56
2.2.6. Quyền được thừa nhận bình đẳng trước pháp luật 57
2.2.7. Quyền được hưởng an ninh 58
2.2.8. Quyền được hưởng và duy trì tiêu chuẩn sống 59
2.2.9. Quyền về sức khỏe 60
- CAT: Công ước chống tra tấn và các hình thức trừng phạt và đối
xử tàn bạo, vô nhân đạo hay hạ nhục khác, 1984
(Convention against Torture and Other Cruel, Inhuman or
Degrading Treatment or Punishment - CAT);
- CEDAW: Công ước về xóa bỏ mọi phân biệt đối xử với phụ nữ, 1979
(Convention on the Elimination of all forms of Discrimination
against women – CEDAW)
- CHXHCN: Cộng hòa xã hội chủ nghĩa;
- ICCPR: Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị, 1966
(International Covenant on Civil and Political Rights - ICCPR);
- ICESCR: Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa,
1966 (International Covenant on Economic, Social and
Cultural Rights - ICESCR);
- MTTQ: Mật trận tổ quốc;
- TAND: Tòa án nhân dân;
- THAHS: Thi hành án hình sự;
- TTHS: Tố tụng hình sự;
- UDHR: Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền, 1948 ((Universal
Declaration of Human Rights - UDHR);
- UNCHR: Ủy ban quyền con người Liên hợp quốc (The United
Nations Commission on Human Rights - UNCHR);
- UNHRC: Hội đồng quyền con người Liên hợp quốc (The United
Nations Human Rights Council - UNHRC);
- (UN) HCR: Cao ủy Liên Hợp Quốc về người tị nạn (The United Nations
High Commissioner for Refugees);
- VKS: Viện kiểm sát;
- VKSND: Viện kiểm sát nhân dân.
1
MỞ ĐẦU
hạn và sự tiếp cận còn hạn chế, tác giả không thể trình bày hết được các nội
dung về vấn đề trên. Rất mong những ý kiến hữu ích đóng góp để luận văn
được hoàn thiện hơn.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Với cách nhìn nhận ngày càng sâu về quyền con người trong thế giới
hiện đại vì tầm quan trọng của vấn đề, hiện nay ở Việt Nam cũng như quốc tế
có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này, cụ thể như:
“Bảo vệ và thúc đẩy quyền con người trong khu vực Asean” do trung
tâm nghiên cứu quyền con người và quyền công dân trực thuộc khoa Luật - Đại
học quốc gia Hà Nội phát hành đã đề cập tới quyền của con người dưới góc
nhìn của khu vực. Cuốn sách giới thiệu và phân tích khái quát thực tiễn nhân
quyền tại các quốc gia trong khu vực, sự hình thành chuẩn mực, các cơ chế khu
vực bảo vệ và thúc đẩy nhân quyền, cũng như vai trò chủ thể khác nhau ở
Asean (nhà nước, tổ chức phi chính phủ, cơ sở giáo dục, nghiên cứu…)
“Bảo vệ các nhóm dễ bị tổn thương trong tố tụng hình sự”: do trung
tâm nghiên cứu quyền con người – quyền công dân và trung tâm nghiên cứu
tội phạm học và tư pháp hình sự trực thuộc khoa Luật – Đại học quốc gia Hà
Nội phát hành. Tố tụng hình sự là hoạt động trực tiếp nhất liên quan đến một
bộ phận quan trọng của nhóm người bị hạn chế, bị tước tự do. Đó là những
người bị tạm giữ, tạm giam hay đang phải chấp hành hình phạt tù. Tài liệu đã
khái quát những tiêu chuẩn pháp lý về quyền con người trong các hoạt động
tố tụng hình sự. Từ đó nhằm hướng dẫn, cung cấp những công cụ hữu hiệu
cho việc bào chữa tại các tòa án hình sự địa phương. Đặc biệt, nó được viết ra
3
để hỗ trợ cho các luật sư hoặc thành viên của nhóm luật sư biện hộ các vụ án
hình sự, nâng cao kiến thức và hiểu biết nhằm áp dụng hiệu quả luật quốc tế
tại các tòa án địa phương. Từ góc độ đó, cuốn sách đề cập đến những khả
năng áp dụng luật quốc tế như là một lập luận riêng biệt, và nếu có thể, như là
một ý bổ sung nhằm củng cố sức thuyết phục của các lập luận. Quyền bào
chữa là một trong số các quyền quan trọng của những người đang bị giam,
nhằm hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền con người trong tố tung hình sự. Đề
tài này đã làm rõ những quan điểm khoa học về quyền con người trong tố
tụng hình sự và những tiêu chí quốc tế về nhân quyền; Đánh giá thực trạng hệ
thống pháp luật về việc bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự đồng
thời chỉ ra những ưu điểm và hạn chế của nó đối với việc bảo vệ quyền con
người trong quá trình giải quyết vụ án; Đề tài cũng đưa ra các giải pháp nâng
cao hiệu quả bảo vệ quyền con người bằng pháp luật tố tụng hình sự. Khía
cạnh mà đề tài này đề cập đến là các quyền con người nói chung trong hoạt
động tố tụng hình sự. Tuy nhiên, trong hoạt động tố tụng hình sự, các quyền
con người được đề cập đến phần lớn là các quyền của những người bị tước tự
do trong lĩnh vực tư pháp hình sự. Bên cạnh những người bị tước tự do, đề tài
này cũng phản ánh đến quyền của những người tham gia tố tụng hình sự mà
không bị tước tự do như là các bị can, bị cáo (trong nhiều trường hợp họ
không bị tước tự do).
Bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong tố
tụng hình sự Việt Nam – Luận án của nghiên cứu sinh Lại Văn Trình, chuyên
ngành hình sự, Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh năm 2011. Luận
án đã làm rõ thêm một số vấn đề lý luận về quyền con người và đảm bảo
quyền con người của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự; hệ
thống hóa được các biện pháp đảm bảo; làm rõ được các đặc điểm chung và
5
những đòi hỏi đặc thù trong việc đảm bảo quyền con người của người bị tạm
giữ, bị can, bị cáo trong các giai đoạn tố tụng khác nhau. Luận án đã phân tích
tìm ra các hạn chế, bất cập trong vấn đề này và nguyên nhân để tìm ra giải
pháp kiến nghị, sửa đổi bổ sung BLTTHS theo hướng tích cực hơn nhằm bảo
vệ tốt hơn cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo.
Ngoài ra còn một số bài viết, cuốn sách của các học giả khác có đề cập
đến vấn đề này. Các công trình nghiên cứu trên cho thấy, việc nghiên cứu về
quyền của người bị tạm giữ, tạm giam và chấp hành hình phạt tù ở Việt Nam
trong những năm qua đã được quan tâm và đạt được những thành tựu nhất
Xây dựng nền văn hóa nhân quyền trong xã hội nói chung và pháp
luật tố tụng hình sự nói riêng; thúc đẩy sự phát triển bảo vệ các giá trị và
hướng tới mở rộng quyền con người trong khi bị tạm giữ, tạm giam và chấp
hành án phạt tù.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu, làm rõ những vấn đề lý luận chung về người bị tạm giữ,
tạm giam và chấp hành hình phạt tù. Việc đảm bảo thực hiện những quy định
của pháp luật về quyền của những người bị hạn chế tự do, bị tước tự do.
Nghiên cứu quy định pháp luật của quốc tế trên cơ sở so sánh, đối chiếu
với pháp luật của Việt Nam về đảm bảo quyền của những người bị giam, giữ.
Đánh giá thực trạng việc thực thi pháp luật giam, giữ tại các nhà tạm
giữ, trại tạm giam và trại giam; Bảo đảm quyền của người bị hạn chế tự do, bị
tước tự do ở Việt Nam; Những ưu, khuyết điểm của vấn đề này.
Từ các nghiên cứu trên đưa ra những vấn đề cần hoàn thiện sự bất cập
của pháp luật Việt Nam với một số giải pháp nhằm tăng cường các quyền, giá
trị cơ bản của con người khi bị tạm giữ, tạm giam và chấp hành hình phạt tù,
đảm bảo quyền của họ được thi hành trong thực tế.
7
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng
Luận văn tập trung nghiên cứu về quyền con người bị hạn chế tự do, bị
tước tự do xem xét trên bình diện các quy định của pháp luật nhân quyền quốc
tế cũng như các quy định của pháp luật quốc gia về vấn đề này. Người bị hạn
chế tự do, bị tước tự do trong lĩnh vực tư pháp hình sự bao gồm: tù nhân
(phạm nhân đang chấp hành án hình phạt tù); người bị tạm giữ, tạm giam. Các
giá trị, các quyền con người được đưa ra xem xét là những giá trị cơ bản nhất
đối với họ. Đồng thời cũng xem xét sự đảm bảo của mỗi quốc gia và của quốc
tế khi thực hiện quyền con người với người bị tạm giữ, tạm giam và chấp
hành hình phạt tù.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
định pháp luật Việt Nam với các tiêu chuẩn pháp lý về nhân quyền. Đánh giá
việc bảo đảm quyền cho những người bị tạm giữ, tạm giam, người bị tù giam
trên thực tế. Trên cơ sở đó có những phân tích để hoàn thiện các quy định và
những căn cứ thực tế để thực thi các quy định đó một cách hiệu quả nhất.
5. Cơ sở phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Phương pháp luận của luận văn dựa trên cơ sở chủ nghĩa duy vật biện
chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ
Chí Minh về Nhà nước và pháp luật nói chung, các khái niệm, đặc điểm về
bảo đảm quyền con người nói riêng. Căn cứ vào các nguyên tắc, tiêu chí nền
tảng theo quy định trong Luật nhân quyền quốc tế.
Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng phương pháp diễn dịch: đi
9
từ cái chung nhất đến cái riêng; Xâu chuỗi các sự việc trong phương pháp hệ
thống; Gạt bỏ những cái đơn lẻ, ngẫu nhiên để đi tìm cái chung, cái bản chất
theo phương pháp trừu tượng; So sánh giữa các khu vực, giữa lý thuyết và
thực tế theo phương pháp so sánh…
6. Kết quả nghiên cứu luận văn
- Khái quát về người bị tạm giữ, tạm giam, người chấp hành hình phạt
tù trong mối liên hệ giữa luật nhân quyền quốc tế và pháp luật quốc gia của
Việt Nam đối với những người này. Việc tiếp cận dựa trên cơ sở hình thành
của lịch sử về quyền con người, luận văn khẳng định các quyền con người
được sinh ra là tự nhiên, bẩm sinh và Nhà nước ghi nhận lại, bảo đảm thực
hiện trong các điều kiện, hoàn cảnh từng quốc gia. Các quyền đó được bảo
đảm thực hiện trên cơ sở pháp luật quy định và những cơ chế thực thi.
- Đánh giá tầm quan trọng, ý nghĩa của việc bảo đảm các quyền của
người bị tạm giữ, tạm giam. Họ là người chưa bị tòa án kết tội nên họ chưa
phải là tội phạm và họ được hưởng tất cả các quyền trên cương vị không phải
là người có tội. Bên cạnh đó những người đang chấp hành hình phạt tù cũng
được hưởng các quyền cơ bản, quyền đặc thù của tù nhân. Đảm bảo mạng
sống, nhân phẩm, danh dự là điều tất yếu. Trên cơ sở đánh giá chính xác
người của người bị giam giữ không bị xâm phạm.
Chương 2: Các tiêu chí quốc tế về quyền của người bị tạm giữ, tạm
giam và chấp hành hình phạt tù.
Trong chương này, tác giả đưa ra các tiêu chí của pháp luật quốc tế về
quyền con người nói chung cũng như quyền của người bị tạm giữ, tạm giam
11
và chấp hành hình phạt tù nói riêng. Trong đó tập trung làm rõ các quyền cụ
thể của người bị tạm giữ, tạm giam và chấp hành hình phạt tù. Phân tích
những quyền cơ bản của nhóm người này.
Chương 3: Thực trạng và các giải pháp đảm bảo quyền của người bị
tạm giữ, tạm giam và chấp hành hình phạt tù ở Việt Nam.
Trong chương cuối, tác giả đề cập tới các quy định của pháp luật Việt
Nam cũng như thực trạng về quyền con người tại các Nhà tạm giữ, trại tạm
giam, trại giam ở Việt Nam thông qua thực tiễn trên địa bàn thành phố Hải
Phòng. Từ những tồn tại, bất cập đó và trước những yêu cầu thực tại tác giả
chỉ rõ các công việc cần hoàn thiện để đảm bảo quyền con người trong khi họ
bị giam giữ, đồng thời đưa ra các giải pháp khắc phục đảm bảo thực thi cũng
như nâng cao nhận thức của công đồng đối với vấn đề này.
12
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN CỦA NGƢỜI
BỊ TẠM GIỮ, TẠM GIAM VÀ THI HÀNH HÌNH PHẠT TÙ
1.1. Khái niệm quyền con ngƣời của ngƣời bị tạm giữ, tạm giam và
thi hành hình phạt tù
1.1.1. Người bị tạm giữ, tạm giam và thi hành hình phạt tù
Người bị tạm giữ, tạm giam và thi hành hình phạt tù là những người bị
hạn chế, tước bỏ quyền tự do vĩnh viễn (chung thân) hoặc trong một khoảng
thời gian nhất định (tù có thời hạn, tạm giữ, tạm giam) trên cơ sở và trong
khi bị bắt và có lệnh tạm giữ thì cũng được gọi là người bị tạm giữ. Theo
pháp luật Việt Nam thì tạm giữ là một hoạt động trong tố tụng hình sự liên
quan trực tiếp đến lợi ích của các công dân, quyền tự do thân thể, đây là chế
tài hạn chế một số quyền cơ bản của con người nên cần rất thận trọng khi thực
hiện biện pháp chế tài này. Để tránh việc lạm dụng bắt người trái pháp luật
hay không có căn cứ cũng như đảm bảo tính mạng, tài sản, danh dự, nhân
phẩm và những quyền khác của công dân chưa bị pháp luật tước bỏ Bộ luật tố
tụng hình sự quy định rất chặt, chẽ và nghiêm ngặt đối với những trường hợp
bị tạm giữ. Việc tạm giữ chỉ là biện pháp ngăn chặn thật cần thiết để ngăn
chặn tội phạm xảy ra cũng như đảm bảo cho việc điều tra, truy tố, xét xử được
đảm bảo đúng pháp luật, trật tự xã hội tránh oan, sai. Thẩm quyền tạm giữ
theo Điều 81 BLTTHS gồm cơ quan điều tra, bộ đội biên phòng, kiểm lâm và
một số cá nhân, cơ quan khác. Những trường hợp bị tạm giữ bao gồm: phạm
tội quả tang, bị bắt khẩn cấp, bị truy nã, đầu thú hoặc tự thú.
Người bị tạm giữ hình sự là người bị áp dụng biện pháp ngăn chặn
ngay tức khắc trong thời gian ngắn (tối đa là 9 ngày) được quy định trong Bộ
14
luật tố tụng hình sự được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tiến hành do nghi
ngờ người đó thức hiện tội phạm (chưa khởi tố) hoặc dã bị khởi tố mà đang
bỏ trốn (truy nã) nhằm ngăn chặn hành vi vi phạm pháp luật hình sự, bảo đảm
cho việc điều tra, truy tố, xét xử.
Tóm lại người bị tạm giữ là người bị hạn chế quyền tự do trong một
khoảng thời gian nhất định do bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang,
khẩn cấp, truy nã, đầu thú hoặc tự thú.…
Một người chỉ bị tạm giam sau khi đã bị khởi tố về mặt hình sự mà cụ
thể là khởi tố bị can của cơ quan điều tra và được Viện kiểm sát phê chuẩn, có
hiệu lực pháp luật. Biện pháp tạm giam thường được áp dụng rất hạn chế vì
đây là một trong những biện pháp liên quan tới tự do thân thể của con người
trong thời gian dài. Theo quy định của Điều 120 BLTTHS Việt Nam thì cơ
quan điều tra có thể ra lệnh tạm giam ít nhất là 2 tháng (đối với tội ít nghiêm
CHXHCN Việt Nam. Có hình phạt vừa được xem là hình phạt chính, vừa được
coi là hình phạt bổ sung nhưng phạt tù giam luôn là hình phạt chính và là hình
phạt đặc trưng, có tính cơ bản trong Bộ luật hình sự. Các bị cáo bị tuyên hình
phạt tù giam sẽ được chuyển đến nơi giam (trại giam, trại tạm giam, nhà tạm
giữ cấp huyện) để thi hành án phạt tù và họ được gọi là phạm nhân.
Người thi hành án phạt tù hay còn gọi là phạm nhân là người bị kết tội
và phải chịu hình phạt tù giam theo bản án mà tòa án tuyên đã có hiệu lực
pháp luật và phải chịu sự quản lý giam giữ, giáo dục, cải tạo của cơ quan
Nhà nước có thẩm quyền để họ trở thành người có ích cho xã hội.
1.1.2. Cơ sở hình thành và phát triển quyền con người của người bị
tạm giữ, tạm giam và chấp hành hình phạt tù
Con người là tổng hòa các mối quan hệ do vậy phần lớn người phạm
tội chỉ có thể bị tước bỏ hoặc hạn chế một số quyền chứ không phải là tất cả
16
Người bị tạm giữ, tạm giam hay đang chấp hành hình phạt tù về bản
chất họ vẫn là con người với các mối quan hệ với môi trường xung quanh. Họ
có người thân, có nhu cầu sinh hoạt như những người khác, có những bản
năng vốn có của con người do vậy trước hết họ phải được đối xử như giữa
con người với con người, đây chính là biểu hiện rõ nét nhất sự phát triển của
xã hội loài người.
Người bị tạm giữ hay người bị tạm giam trước hết họ phải được coi là
người bình thường mà không phải là tội phạm vì chưa có bản án có hiệu lực
của tòa án. Họ là những người đang trong giai đoạn tố tụng với sự nghi ngờ
của các cơ quan quan tố tụng. Các biện pháp ngăn chặn đó chỉ là nhằm đảm
bảo cho điều tra, truy tố, xét xử hiệu quả hơn chứ không phải là nhằm mục
đích giáo dục hay trừng phạt đói với người phạm tội. Do vậy pháp luật hình
sự cũng chỉ quy định một số hạn chế đối với họ ví dụ như quyền bầu cử, ứng
cử, quyền tự do đi lại… chứ về các nhu cầu sinh hoạt của con người vẫn phải
đảm bảo cho họ.
Đối với người đang chấp hành hình phạt tù họ bị coi là tội phạm và bị
vấn đề triết học, chính trị, xã hội, đạo đức, pháp lý… Cho nên quan điểm chủ
quan phủ nhận bất kỳ học thuyết nào dường như cũng không phù hợp.
Phát triển là xu hướng tất yếu của loài người theo xu hướng không tồn
tại Nhà nước, không còn pháp luật (xã hội văn minh) tự do triệt để
Có học giả cho rằng: “…các quyền con người không có lịch sử… nếu
có, thì hình như rất hỗn độn. Nó pha lẫn những lặp lại, những xen kẽ, những
tương phản và những đứt đoạn giữa những bước tiến triển và những bước
thụt lùi” [9, tr.11]. Quan điểm khác lại cho rằng, những tư tưởng đầu tiên về
quyền con người được thể hiện trong các luật lệ chiến tranh mà “luật lệ của
18
chiến tranh thì lâu đời như bản thân chiến tranh và chiến tranh thì lâu đời
như cuộc sống trên trái đất” [10, tr.49].
Trên quan điểm duy vật lịch sử chúng ta có thể khẳng định quyền con
người cũng như bất kỳ sự vật hiện tượng nào là sản phẩm phát triển văn hóa, xã
hội của một kết cấu kinh tế, xã hội nhất định và chịu sự quy định của cơ sở kinh
tế, xã hội hiện thực. Tư tưởng về quyền con người bắt nguồn từ thời tiền sử.
“Tuy nhiên với trình độ phát triển khi đó có lẽ con người chỉ có ý niệm về điều
này mà chưa thể hiện thành tư tưởng (được hiểu là những quan điểm hoặc hệ
thống quan điểm rõ ràng)” [10, tr.49]. Quyền con người được bắt nguồn rõ nét
hơn từ khi trái đất xuất hiện những nền văn minh cổ đại trong đó có nền văn
minh Trung Đông (khoảng năm 3000-1.500 tr.CN). Vua Hammurabi xứ
Babylon đã ban hành một đạo luật mang tên mình (khoảng năm 1780 tr.CN) với
mục tiêu được tuyên bố là: “…ngăn ngừa những kẻ mạnh áp bức kẻ yếu, làm
cho người cô quả có chỗ tựa ở thành Babylon, đem lại hạnh phúc chân chính và
đặt nền thống trị nhân từ cho mọi thần dân trên vương quốc” [10, tr.49].
Ngoài ra còn rất nhiều văn bản pháp luật cổ của thế giới đề cập đến
quyền con người như Bộ luật do nhà vua Ashoka ban hành vào năm 272 – 231
tr. CN, Hiến pháp Medina của nhà tiên tri Muhammad sáng lập năm 622…
Sau này cùng với sự phát triển của nhân loại hàng loạt các văn bản pháp
lý phản ánh sự tiến bộ ngày càng cao về nhận thức quyền con người. Chúng ta
cũng đã thông qua các vấn đề về bảo vệ con người (Hội nghị Giơnevơ - 1864;
Hội nghị La Hay – 1899).
Thế kỷ XX đánh dấu bằng cuộc Cách mạng tháng 10 Nga năm 1917 và
cuộc Thế chiến II (1939 – 1945) đã giải phóng hàng loạt các dân tộc “nhỏ
bé”. Các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa được đề cao và đặc biệt là các quyền