I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
NGUYN TH HOI PHNG THC HIN PHP LUT MễI TRNG VIT
NAM
TRONG GIAI ON HIN NAY luận văn thạc sĩ luật học
Hµ néi - 2009
MỤC LỤC Trang
Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục Danh mục các bảng Danh mục các biểu đồ MỞ ĐẦU
1
20
1.3.1.
Yếu tố pháp lý
20
1.3.2.
Yếu tố về kinh tế - xã hội
21
1.3.3.
Yếu tố tâm lý
22
Chương 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT MÔI TRƯỜNG
Ở VIỆT NAM
23
2.1.
Thực trạng thực hiện pháp luật bảo vệ tài nguyên đất
23
2.1.1.
Nội dung cơ bản của pháp luật về bảo vệ tài nguyên đất
23
2.1.2.
Thực trạng thực hiện pháp luật bảo vệ tài nguyên đất
26
2.2.
Thực trạng thực hiện pháp luật bảo vệ tài nguyên nước
30
2.2.1.
Nội dung cơ bản của pháp luật về bảo vệ tài nguyên nước
30
2.2.2.
2.5.3.
Hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường còn
yếu, chưa đáp ứng được yêu cầu và mục tiêu quản lý nhà nước
60
2.5.4.
Cơ sở vật chất kỹ thuật cho công tác bảo vệ môi trường nghèo
nàn, lạc hậu
62
2.5.5.
Ý thức pháp luật về bảo vệ môi trường của các tổ chức, cá
nhân trong xã hội còn nhiều hạn chế
63
Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM THỰC HIỆN
PHÁP LUẬT MÔI TRƯỜNG Ở VIỆT NAM TRONG
GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
65
3.1.
Những quan điểm cơ bản
65
3.1.1.
Thực hiện pháp luật môi trường phải phù hợp với lý luận khoa
học về bảo vệ môi trường
65
3.1.2.
Thực hiện pháp luật môi trường phải phù hợp với trình độ
phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam
66
3.1.3.
Thực hiện pháp luật môi trường phải gắn với việc thực hiện
Một số giải pháp khác
78
KẾT LUẬN
81
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
83
Danh môc c¸c b¶ng
Sè hiÖu
b¶ng
Tªn b¶ng
Trang
2.1
Số ca mắc bệnh và tử vong của các bệnh liên quan đến ô
nhiễm nước từ năm 1990 đến năm 2003
34
2.2
Lượng chất thải từ một số hoạt động giao thông vận tải biển
39
2.3
Diễn biến diện tích rừng từ năm 1943 đến năm 2004
50
nhiệm hữu hạn Văn Đạo (Hà Nội) đầu độc sông Đáy; một loạt nhà máy ở
Thanh Hóa đầu độc sông Chu; công ty Hào Dương có nhà máy thuộc da thuộc
loại lớn nhất Đông Nam Á từ 3 năm nay bức tử sông Đồng Điền; nhiều doanh
nghiệp chặt phá rừng trồng, rừng tự nhiên Những vụ việc nêu trên chỉ là
những ví dụ đơn lẻ trong vô số các hiện tượng vi phạm pháp luật về bảo vệ
môi trường của các cá nhân, doanh nghiệp. Thực tế đó cho thấy, rõ ràng môi
trường cả nước đang bị xâm hại nghiêm trọng.
Vấn đề cần được đặt ra là vì sao một số cá nhân, doanh nghiệp cố tình
hủy hoại môi trường đến như vậy? Vì lợi nhuận tối đa, các doanh nghiệp đó
tìm mọi cách để giảm chi phí, cũng như do nhận thức còn hạn chế, ý thức
coi thường pháp luật nên việc thực hiện pháp luật môi trường đã không được
đảm bảo, mặc dù, Luật Bảo vệ môi trường đã có hiệu lực từ năm 2004 và bộ
máy quản lý tài nguyên môi trường từ Trung ương đến địa phương đã được
thiết lập.
2
Để trả lời câu hỏi nêu trên, trong phạm vi đề tài này, tác giả sẽ tập
trung phân tích, làm rõ việc thực hiện pháp luật môi trường ở Việt Nam cả từ
góc độ lý luận và góc độ thực tiễn. Qua đó, hi vọng sẽ giúp chúng ta có được
sự nhìn nhận, đánh giá khách quan về việc thực hiện pháp luật môi trường,
cũng như có giải pháp để nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực hiện pháp luật về
bảo vệ môi trường trong điều kiện hội nhập và phát triển kinh tế.
2. Iình hình nghiên cứu đề tài
Ở nước ta, đến thời điểm hiện nay, có một số công trình nghiên cứu về
thực hiện pháp luật như các sách chuyên khảo: Áp dụng pháp luật ở Việt Nam
hiện nay - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, của PGS.TS Nguyễn Thị Hồi;
Thực hiện và áp dụng pháp luật ở Việt Nam, của PGS.TS. Nguyễn Minh Đoan;
và một số bài viết về thực hiện pháp luật trên các Tạp chí, ví dụ như: Về thực
hiện pháp luật đánh giá tác động môi trường ở Việt Nam, của Lê Sơn Hải
đăng trên tạp chí Nhà nước và Pháp luật; Nâng cao hiệu lực thi hành pháp
nhiên cũng bị hủy hoại trầm trọng, Chính phủ và nhân dân Việt Nam đã có rất
nhiều nỗ lực để khắc phục những hậu quả của chiến tranh, khôi phục và phát
triển kinh tế, song song với những nỗ lực về mặt bảo vệ môi trường. Mặc dù,
Việt Nam là một trong số các nước đã sớm đưa các mục tiêu phát triển thiên
niên kỷ vào các chiến lược và chương trình quốc gia, nhưng thực tế cho thấy
mức độ ô nhiễm gia tăng, chất lượng môi trường và tình trạng tài nguyên
thiên nhiên bị suy thoái. Thực tế đó, đòi hỏi các nhà nghiên cứu, các nhà hoạt
động thực tiễn phải tập trung nguồn lực để đánh giá và đề xuất giải pháp
nhằm nâng cao ý thức trách nhiệm bảo vệ môi trường của các tổ chức, cá
nhân trong xã hội. Trong khuôn khổ của một luận văn thạc sĩ, tôi không thể
giải quyết được một cách trọn vẹn tất cả các vấn đề có liên quan đến thực hiện
pháp luật bảo vệ môi trường ở Việt Nam. Do đó, Đề tài chủ yếu tập trung
nghiên cứu một số vấn đề lý luận cơ bản nhất, các quy định pháp luật của Việt
Nam và thực trạng thực hiện pháp về bảo vệ môi trường ở Việt Nam, đồng
4
thời đề xuất một số giải pháp bước đầu tháo gỡ những bất cập, vướng mắc trong
quá trình tổ chức thực hiện nhằm nâng cao hơn nữa ý thức, trách nhiệm của
cộng đồng xã hội đối với việc bảo vệ môi trường ở nước ta trong thời gian tới.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu của đề tài
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa
Mác - Lênin và tư tưởng đổi mới đồng bộ thể chế kinh tế thị trường của Đảng
và Nhà nước ta được trình bày trong các văn kiện, nghị quyết và các văn bản
quy phạm pháp luật.
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phân tích, so sánh, tổng hợp
cũng sẽ được sử dụng ở mức độ phù hợp để hoàn thành mục tiêu của đề tài.
6. Những kết quả đạt đƣợc của luận văn
Luận văn là công trình khoa học đầu tiên ở Việt Nam tập trung nghiên
cứu sâu sắc, toàn diện về thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường của Việt
Nam. Đây chính là đóng góp lớn nhất của luận văn.
gì? Môi trường bao gồm những thành tố nào? Sự biến đổi của môi trường ảnh
hưởng như thế nào tới cuộc sống của con người?
Hiện nay, trên thế giới và ở Việt Nam có nhiều khái niệm khác nhau
về môi trường. Theo Từ điển bách khoa Larouse thì:
Môi trường là tất cả những gì bao quanh chúng ta hoặc sinh
vật. Nói cụ thể hơn, đó là các yếu tố tự nhiên và nhân tạo diễn ra
trong không gian cụ thể, nơi đó có thể có sự sống hoặc không có sự
sống. Các yếu tố đều chịu sự ảnh hưởng sâu sắc của những định
luật vật lý, mang tính tổng quát hoặc chi tiết như luật hấp dẫn vũ
6
trụ, năng lượng phát xạ, bảo tồn vật chất. Trong đó, hiện tượng hóa
học và sinh học là những đặc thù của môi trường bao gồm tất cả
những nhân tố tác động qua lại trực tiếp hoặc gián tiếp với sinh vật
và quần xã sinh vật [46].
Đơn giản hơn, The American Heritage Dictionary định nghĩa "môi
trường là sự kết hợp toàn bộ hoàn cảnh hoặc điều kiện bên ngoài có ảnh
hưởng tới sự tồn tại, phát triển của một thực thể hữu cơ" [52, tr. 616].
Chương trình môi trường của UNESCO (1981) định nghĩa: Môi trường bao
gồm toàn bộ các hệ thống tự nhiên và các hệ thống do con người tạo ra,
những cái hữu hình (đô thị, hồ chứa ) và những cái vô hình (tập quán, nghệ
thuật ) trong đó con người sống bằng lao động của mình, họ khai thác các
tài nguyên thiên nhiên và nhân tạo nhằm thỏa mãn những nhu cầu của mình.
Từ những định nghĩa nêu trên cho thấy, môi trường không chỉ là nơi
tồn tại, sinh trưởng và phát triển cho một thực thể sinh vật và con người, mà
còn là "khung cảnh của cuộc sống, của lao động và sự vui chơi giải trí của
con người" [54].
Ở Việt Nam, khái niệm về môi trường cũng được một số tác giả quan
tâm, cụ thể như: Theo Từ điển tiếng Việt thì "môi trường là toàn bộ nói chung
những điều kiện tự nhiên và xã hội trong đó con người hay một sinh vật tồn
những yếu tố vật chất tự nhiên như đất, nước, không khí, ánh sáng, âm thanh,
các hệ thực vật, hệ động vật có ý nghĩa đặc biệt quan trọng hơn cả. Những
yếu tố này được coi là thành phần cơ bản của môi trường. Chúng hình thành
và phát triển theo những quy luật tự nhiên vốn có và nằm ngoài khả năng
quyết định của con người. Con người chỉ có thể tác động tới chúng trong một
chừng mực nhất định. Bên cạnh những yếu tố vật chất tự nhiên, môi trường
còn bao gồm cả những yếu tố nhân tạo, do con người tạo ra nhằm tác động tới
các yếu tố thiên nhiên để phục vụ cho nhu cầu của bản thân mình.
8
Từ những phân tích trên cho thấy, môi trường là một khái niệm rộng
và đa dạng, được sử dụng ở nhiều lĩnh vực khác nhau. Với mục đích tìm hiểu
việc thực hiện pháp luật môi trường ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay,
khái niệm môi trường được đề cập tới trong Luật bảo vệ môi trường là hoàn
toàn phù hợp với phạm vi và mục đích nghiên cứu, và cũng là khái niệm được
sử dụng trong luận văn này. Theo đó, môi trường sẽ được cấu thành lên nó
bởi một loạt các thành tố. Giữa các thành tố của môi trường có mối liên hệ
tương hỗ lẫn nhau, một thành tố bị ô nhiễm sẽ ảnh hưởng xấu đến các thành
tố khác của môi trường.
* Sự biến đổi của môi trường và sự cần thiết phải bảo vệ môi trường
Trong những năm vừa qua, sự phát triển kinh tế - xã hội và gia tăng
dân số trên phạm vi toàn cầu đang có những tác động lớn đến môi trường.
Hoạt động của loài người đã làm cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên trên
trái đất, làm chất lượng môi trường sống bị giảm sút nghiêm trọng. Trên phạm
vi toàn cầu, sự thay đổi theo chiều hướng xấu của môi trường diễn ra trên
nhiều yếu tố với những cấp độ khác nhau, đặc biệt là những yếu tố mang tính
tự nhiên như đất, nước, không khí, hệ thực vật, hệ động vật Có thể kể đến
một số biểu hiện nghiêm trọng như: Tầng ôzôn bị suy giảm tạo ra những biến
đổi xấu của môi trường trên trái đất; một loạt những thảm họa thiên nhiên liên
tiếp xảy ra trong cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI (sóng thần Tsunami ở
định đất nước và phát triển kinh tế, thậm chí là phát triển bằng mọi giá bất
chấp việc phải hy sinh các nguồn tài nguyên, khai thác không tính đến khả
năng tái sinh. Khi đó, môi trường chưa phải là vấn đề cấp thiết được đặt ra.
Chỉ đến khi các nguồn tài nguyên đã dần cạn kiệt, sự mất cân bằng sinh thái
cùng quá trình thay đổi khí hậu toàn cầu đang diễn ra hàng ngày gây nên
những hậu quả nghiêm trọng thì vấn đề bảo vệ môi trường mới nổi lên như
một thách thức xã hội, và nhu cầu phải hình thành một hệ thống pháp luật môi
trường mới thực sự được quan tâm xác đáng.
10
Trong khoa học pháp lý, luật môi trường là lĩnh vực pháp luật chuyên
ngành bao gồm các quy phạm pháp luật, các nguyên tắc pháp lý điều chỉnh
các quan hệ phát sinh giữa các chủ thể trong quá trình khai thác, sử dụng hoặc
tác động đến một hoặc một vài yếu tố của môi trường trên cơ sở kết hợp các
phương pháp điều chỉnh khác nhau nhằm bảo vệ một cách có hiệu quả môi
trường sống của con người [45].
Với cách hiểu như trên, pháp luật về bảo vệ môi trường ở nước ta bao
gồm các quy định nhằm bảo vệ hiệu quả môi trường và các thành tố của nó.
Đồng thời, Nhà nước cũng ban hành các quy định giới hạn hành vi, xác định
nghĩa vụ của các tổ chức, cá nhân trong quá trình khai thác, sử dụng tài
nguyên thiên nhiên. Bảo vệ môi trường được coi là sự nghiệp của toàn dân.
Do đó, có thể thấy pháp luật môi trường gồm rất nhiều các quy định điều
chỉnh các quan hệ xã hội liên quan đến việc sử dụng và bảo vệ môi trường, có
thể phân thành các nhóm như sau:
- Nhóm quy định pháp luật điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong quá
trình khai thác, sử dụng các thành tố môi trường;
- Nhóm quy định pháp luật điều chỉnh các quan hệ hình thành trong
hoạt động quản lý nhà nước về môi trường;
- Nhóm quy định pháp luật điều chỉnh các quan hệ về các biện pháp khắc
phục suy thoái môi trường, ô nhiễm môi trường, phòng chống sự cố môi trường;
thực hiện đầy đủ các đòi hỏi của pháp luật trong quá trình khai thác, sử dụng
các thành tố của môi trường. Các chế tài này hoặc cách ly những kẻ vi phạm
nguy hiểm khỏi xã hội hoặc áp dụng những hậu quả vật chất, tinh thần đối với
họ, vừa có tác dụng ngăn chặn các hành vi vi phạm, vừa có tác dụng giáo dục
công dân tôn trọng pháp luật bảo vệ môi trường.
Thứ ba, bảo vệ môi trường là công việc khó khăn và phức tạp đòi hỏi
phải có hệ thống các tổ chức thích hợp với đầy đủ nhiệm vụ, quyền hạn. Pháp
12
luật quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tạo ra cơ chế hoạt động hiệu
quả cho các tổ chức bảo vệ môi trường thực hiện nhiệm vụ của mình.
Thứ tư, vai trò to lớn của pháp luật trong việc bảo vệ môi trường là
việc giải quyết các tranh chấp liên quan đến việc bảo vệ môi trường. Tranh chấp
về môi trường là tranh chấp liên quan tới việc khai thác, sử dụng các yếu tố của
môi trường. Tranh chấp môi trường có thể xảy ra giữa cá nhân với nhau, song cũng
có khi xảy ra giữa cá nhân với các doanh nghiệp hoặc các cơ quan nhà nước.
1.2. TỔNG QUAN VỀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT MÔI TRƢỜNG
1.2.1. Khái niệm và đặc điểm của thực hiện pháp luật môi trƣờng
Khi ban hành các loại văn bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh các
quan hệ xã hội, Nhà nước mong muốn các văn bản đó phải được tôn trọng và
thực thi có hiệu quả trong thực tế. Đây cũng chính là yêu cầu để pháp luật
phát huy được giá trị đích thực của chính nó đối với đời sống xã hội con
người. Trong những năm vừa qua, Nhà nước đã ban hành một hệ thống pháp
luật môi trường tương đối đầy đủ cả về nội dung và hình thức, quy định khá
bao quát về những vấn đề và các yếu tố khác nhau của môi trường và ngày
càng có sự tương đồng với hệ thống pháp luật môi trường quốc tế. Đây sẽ là
cơ sở tiền đề quan trọng để việc thực hiện pháp luật môi trường trên thực tế
đạt kết quả tốt. Vậy thực hiện pháp luật môi trường là gì? Nó bao gồm những
hình thức nào? Những yếu tố nào sẽ đảm bảo cho việc thực hiện có hiệu quả
pháp luật môi trường trong cuộc sống?
- Thực hiện pháp luật môi trường là một quá trình hoạt động có mục đích.
Thực hiện pháp luật nói chung và thực hiện pháp luật môi trường nói
riêng luôn là hoạt động có mục đích của các chủ thể. Khi tiến hành các hành
vi trên thực tế, các chủ thể pháp luật luôn mong muốn đạt được một kết quả
cụ thể, nhất định. Kết quả này là điều mà các chủ thể đặt ra trước khi thực
14
hiện hành vi. Trong nhận thức, các chủ thể mong muốn đạt được khi thực
hiện pháp luật môi trường. Mục đích đó có thể là mục đích lâu dài, mục đích
trước mắt, mục đích chung cho toàn bộ quá trình hoặc được xác định theo
từng nội dung cụ thể. Chẳng hạn, đối với chủ thể thực hiện pháp luật môi
trường là một chủ đầu tư, trong quá trình triển khai thực hiện một dự án phải
lập báo cáo đánh giá tác động môi trường, trình cơ quan nhà nước có thẩm
quyền phê duyệt. Hoạt động tuân thủ pháp luật môi trường này của chủ dự án
nhằm mục đích là được phép tiếp tục triển khai dự án trên thực tế.
- Chủ thể thực hiện pháp luật môi trường là các cơ quan nhà nước,
các tổ chức và cá nhân trong xã hội.
Cũng như các lĩnh vực pháp luật khác, thực hiện pháp luật môi trường
phải thông qua hành vi của một chủ thể nhất định. Tùy vào từng quan hệ cụ thể
của pháp luật về môi trường, mà chủ thể đó có thể là cơ quan nhà nước, tổ chức
kinh tế, tổ chức chính trị… hoặc bất kỳ cá nhân nào trong xã hội. Do đặc thù của
môi trường là liên quan trực tiếp và thường xuyên đến mọi tổ chức, cá nhân
trong xã hội nên chủ thể thực hiện pháp luật môi trường có phạm vi rộng lớn về
số lượng, cụ thể như: Nếu trong quan hệ xử lý vi phạm hành chính thì chủ thể là
các cơ quan nhà nước có thẩm quyền (thực hiện thông qua hành vi của cán bộ,
công chức được giao thẩm quyền xử phạt), nhưng nếu trong quan hệ pháp luật
về ngăn ngừa rác thải sinh hoạt thì chủ thể thực hiện pháp luật có thể là bất kỳ
tổ chức, cá nhân nào trong xã hội… Do tính đa dạng về chủ thể thực hiện pháp
luật về môi trường nên để nâng cao ý thức thực hiện pháp luật về môi trường,
chúng ta cần căn cứ vào từng chủ thể để lựa chọn giải pháp, cách thức phù hợp.
hưởng những quyền nào đó và chủ thể thực hiện các quyền này hay không là
tùy thuộc vào mong muốn, ý chí của chủ thể. Những quy phạm pháp luật quy
định về các quyền và tự do pháp lý của các tổ chức, cá nhân được thực hiện ở
16
hình thức này. Tuy nhiên, Nhà nước cũng yêu cầu các chủ thể pháp luật phải
thực hiện các quyền pháp lý một cách đúng đắn, chỉ được tiến hành những
hành vi nhất định trong phạm vi, giới hạn cho phép của pháp luật.
- Áp dụng pháp luật: là hình thức thực hiện pháp luật, trong đó Nhà
nước thông qua các cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có thẩm quyền tổ chức cho
các chủ thể khác thực hiện các quy định của pháp luật, hoặc tự mình căn cứ
vào các quy định của pháp luật để tạo ra các quyết định làm phát sinh, thay
đổi, đình chỉ hoặc chấm dứt những quan hệ pháp luật cụ thể. Đây là hình thức
thực hiện pháp luật mang tính tổng hợp, trong đó có cả ba hình thức tuân thủ
pháp luật, thi hành pháp luật và sử dụng pháp luật. Hoạt động áp dụng pháp
luật đòi hỏi phải được áp dụng theo đúng trình tự, thủ tục, nội dung mà pháp
luật đã quy định nhằm bảo đảm tính hợp lý, hợp tình và chính xác. Ở đây, yếu
tố đóng vai trò quyết định tới hiệu quả của việc áp dụng pháp luật chính là
mức độ hoàn thiện của pháp luật, sự vững mạnh của bộ máy nhà nước, lương
tâm và trình độ pháp lý của những cá nhân có thẩm quyền. Với ý nghĩa đó, áp
dụng pháp luật vừa là một hình thức thực hiện pháp luật, đồng thời cũng là
một biện pháp đảm bảo cho pháp luật được thực hiện trên thực tế.
Giữa các hình thức thực hiện pháp luật có mối liên hệ logic phụ thuộc
vào sự nhận thức và hành động của các chủ thể. Vì thế, bản thân các chủ thể
(cá nhân, cơ quan, tổ chức) thực hiện pháp luật có vai trò rất quan trọng. Ví
dụ, nếu cá nhân, tổ chức không tự giác thi hành hay tuân thủ pháp luật (tức là
không tự giác thực hiện các nghĩa vụ, không kiềm chế làm những việc bị
cấm) thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ phải áp dụng các biện pháp can
thiệp như: xử lý vi phạm buộc các cá nhân, tổ chức đó phải thực hiện đúng
các quy định của pháp luật, hoặc phải gánh chịu những hậu quả bất lợi vì
pháp luật bảo vệ môi trường; kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật bảo
vệ môi trường; sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các quy phạm pháp luật bảo vệ
môi trường do chính mình ban hành và kịp thời đề xuất sửa đổi, bổ sung, hoàn
18
thiện các quy phạm pháp luật hiện hành về bảo vệ môi trường do các cơ quan
nhà nước cấp trên ban hành; tổng kết, đánh giá việc thực hiện pháp luật bảo
vệ môi trường
Nguyên Tổng bí thư Đỗ Mười trong Thư gửi cán bộ, nhân viên ngành
tư pháp nhân dịp 50 năm thành lập ngành đã nhấn mạnh:
Có một hệ thống pháp luật đầy đủ, đồng bộ cũng mới chỉ là
có được một yếu tố cần của Nhà nước pháp quyền, nhưng chưa đủ.
Nhà nước pháp quyền Việt Nam của dân, do dân và vì dân, đòi hỏi
pháp luật phải được thi hành một cách nghiêm chỉnh, thống nhất và
công bằng, theo nguyên tắc mọi người đều bình đẳng trước pháp
luật [30, tr. 1].
Hệ thống văn bản pháp luật bảo vệ môi trường của nước ta cho đến
nay đã tương đối đầy đủ. Tuy nhiên, việc thực hiện pháp luật môi trường trên
thực tế có hiệu quả hay không còn phụ thuộc rất lớn vào sự quản lý của các cơ
quan chức năng, vào ý thức tôn trọng và thực thi pháp luật môi trường một
cách nghiêm túc từ phía các doanh nghiệp và mỗi người dân.
1.2.3. Chủ thể thực hiện pháp luật môi trƣờng
Điều 29 Hiến pháp năm 1992 đã quy định: "Cơ quan nhà nước, đơn vị
vũ trang, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, mọi cá nhân phải thực hiện các quy
định của nhà nước về sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi
trường. Nghiêm cấm mọi hành động làm suy kiệt tài nguyên và hủy hoại môi
trường" [32, Điều 29]. Đây là quy định mang tính Hiến định, tạo cơ sở cho
việc xác định trách nhiệm, nghĩa vụ, quyền hạn của các chủ thể trong việc bảo
vệ môi trường.
Bảo vệ môi trường được xác định là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn
trực thuộc Trung ương thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tài nguyên