ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
LÊ THỊ LÝ
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
LÊ THỊ LÝ
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Danh mục các chữ viết tắt
Mục lục
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
6. Đóng góp mới của luận văn
7. Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của luận văn
8. Kết cấu của luận văn
Chương 1: Cơ sở lý luận của việc xây dựng đội ngũ cán bộ,
công chức xã
1.1. Vị trí, vai trò của chính quyền cấp xã
1.1.1. Các khái niệm liên quan đến chính quyền cấp xã
1.1.2. Vị trí, vai trò của chính quyền cấp xã trong bộ máy nhà
nước và hệ thống chính trị
1.2. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của cán bộ, công chức xã
1.2.1. Khái niệm cán bộ, công chức xã
1.2.2. Đặc điểm của cán bộ, công chức xã
1.2.3. Vai trò của đội ngũ cán bộ, công chức xã trong thời kỳ đổi
mới
1.3. Quan điểm, mục tiêu và nội dung xây dựng đội ngũ cán
bộ, công chức xã ở Việt Nam.
1.3.1. Khái niệm về xây dựng đội ngũ cán bộ công chức
15
15
23
26
29
29
31
31
34 37
1.3.3. Mục tiêu xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức xã ở Việt
Nam
1.3.3.1. Mục tiêu chung
1.3.3.2. Các mục tiêu về xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức xã
1.3.4. Nội dung xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức xã trong thời
kỳ đổi mới và hội nhập hiện nay
Chương 2: Thực trạng đội ngũ cán bộ công chức xã ở tỉnh
Thanh Hóa hiện nay
2.1. Khái quát thực trạng pháp luật về cán bộ, công chức xã
ở Việt Nam từ năm 1992 đến nay
2.1.1. Thành tựu đạt được
39
45 47 47
47
58
62 62
65
66
72
77
78
78
83
84
84
87
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
93 97
99 99
100
101
102
103
104
105
108
109
112
115
MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Đổi mới hệ thống chính trị, cải cách nền hành chính, xây dựng và kiện
toàn bộ máy nhà nước theo hướng dân chủ, pháp quyền …là yêu cầu tất yếu
trong thời kỳ đổi mới và xu thế hội nhập hiện nay. Trong đó cần nâng cao
năng lực cho đội ngũ cán bộ, công chức (viết tắt CBCC) có phẩm chất, năng
lực, thành thạo chuyên môn nghiệp vụ sẽ hoàn thành tốt được công việc. Tại
Hội nghị lần thứ 3 Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII đã khẳng định:
“Cán bộ là nhân tố quyết định đến sự thành bại của cách mạng, gắn liền với
vận mệnh của Đảng, của đất nước, của chế độ”. Đội ngũ CBCC cấp xã nói
chung và ở xã nói riêng có vai trò quan trọng trong việc tổ chức và vận động
nhân dân thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước,
tăng cường đại đoàn kết toàn dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, phát
triển KT - XH, tổ chức cuộc sống của cộng đồng dân cư.
Ở nước ta, cấp xã là cấp cuối cùng trong tổ chức bộ máy nhà nước.
Hiện nay cả nước có 10.955 đơn vị xã, phường, thị trấn (trong đó có 9105 xã,
1245 phường, 605 thị trấn)(xem phụ lục 1), xã quản lý tới hơn 83 % dân số cả
nước. Nhìn nhận dưới góc độ thực tiễn, những đổi mới căn bản của Đảng và
Nhà nước về cán bộ cơ sở đã đem lại nhiều kết quả, song vẫn chưa thực sự
đáp ứng yêu cầu công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá (viết tắt CNH –
HĐH) nông nghiệp, nông thôn hiện nay, đặc biệt trong thời kỳ hội nhập. Hơn
nữa, việc đánh giá đội ngũ cán bộ cơ sở ở nước ta hiện nay vẫn còn là khâu
yếu nhất. Ngày nay, trong sự nghiệp đổi mới đất nước và đẩy mạnh CNH -
HĐH, để phát huy được sức mạnh của hệ thống chính trị cơ sở, trọng tâm và
trước hết là phải xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC theo tinh
thần Hội nghị Trung ương 5(khoá IX) là: “Xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở có 2
sự phát triển chung của đất nước và xu thế hội nhập một cách hiệu quả, đưa
bộ mặt nông thôn thay đổi, thoát khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu và phát
huy tốt hơn nữa dân chủ ở cơ sở, cần phải xây dựng đội ngũ CBCC xã mạnh
về chất lượng, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, thành thạo nghề nghiệp,
nắm vững pháp luật, có phẩm chất tốt, gần dân hơn, sát dân, được dân tin cậy
là yêu cầu bức thiết hiện nay.Trong những năm qua, việc tổng kết, đánh giá
tình hình thực hiện NQTW5(khoá IX), đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao
chất lượng hoạt động của CBCC cơ sở trong cả nước nói chung, và CBCC xã
trong tỉnh nói riêng còn chậm được tiến hành, và chưa có giải pháp đặc thù
đối với đội ngũ CBCC xã.
Với lý do đó, tác giả chọn đề tài: “Xây dựng đội ngũ cán bộ, công
chức xã trƣớc yêu cầu đổi mới (qua thực tiễn ở tỉnh Thanh Hoá)”
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Vấn đề CBCC cấp xã đã được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên
cứu. Liên quan trực tiếp đến việc nâng cao chất lượng và quản lý đội ngũ
CBCC có một số công trình và bài viết đó là:
- Đề tài khoa học cấp Bộ: Th.s Nguyễn Thế Vịnh - Vụ chính quyền địa
phương - Bộ Nội vụ (2007) Xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở theo Nghị quyết
Trung ương 5( khoá IX), Hà Nội.
- TS. Thang Văn Phúc và TS. Nguyễn Minh Phương đồng chủ biên
(2001) Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng đội ngũ cán bộ công chức, NXB.
Chính trị Quốc gia, Hà Nội,
- Nguyễn Duy Phương (2003), Vấn đề xây dựng đội ngũ công chức ở
nước ta trong giai đoạn hiện nay qua thực tiễn ở tỉnh Thừa Thiên Huế, Luận
văn thạc sĩ luật, Đại học Quốc gia Hà Nội. 4
- Mạc Minh Sản (2002), Hoàn thiện pháp luật về cán bộ chính quyền
cơ sở theo yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền ở nước ta hiện nay, Luận
- Làm rõ cơ sở lý luận về quan điểm, đường lối của Đảng về xây dựng
đội ngũ CBCC ở cấp xã nói chung, và những vấn đề thực tiễn pháp luật, thực
trạng về xây dựng đội ngũ CBCC xã trong thời kỳ đổi mới.
- Phân tích làm rõ thành tựu đạt được và những mặt tồn tại cần khắc
phục của đội ngũ CBCC xã ở tỉnh Thanh Hoá, qua đó rút ra những vấn đề cần
giải quyết.
- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC xã
nói chung và ở tỉnh Thanh Hoá nói riêng nhằm đáp ứng yêu cầu xây dựng
Nhà nước pháp quyền ở nước ta hiện nay.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Luận văn tập trung nghiên cứu thực trạng đội ngũ CBCC xã trong thời
kỳ đổi mới và những yêu cầu đòi hỏi đẩy mạnh việc xây dựng đội ngũ CBCC
xã, những giải pháp xây dựng đội ngũ này trong điều kiện hội nhập.
- Qua khảo sát ở các xã miền núi, nông thôn, đô thị ở tỉnh Thanh Hoá
để đánh giá về việc xây dựng đội ngũ CBCC xã hiện nay.
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa
Mác Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ, bám sát đường lối chủ trương
của Đảng, pháp luật của Nhà nước về đội ngũ CBCC cấp xã gắn liền với việc
Cải cách hành chính và xây dựng Nhà nước pháp quyền (viết tắt NNPQ) Việt
Nam xã hội chủ nghĩa (viết tắt XHCN).
Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng của triết học Mác-
Lê nin theo quan điểm phát triển, toàn diện, lịch sử. Ngoài ra, luận văn còn 6
kết hợp phương pháp khảo sát, thống kê, phân tích, so sánh, điều tra xã hội
học…
6. Đóng góp mới của luận văn
Đánh giá đúng thực trạng đội ngũ CBCC ở cấp cơ sở nói chung và cán
1.1. Vị trí, vai trò của chính quyền cấp xã
1.1.1. Các khái niệm liên quan đến chính quyền cấp xã
Nghiên cứu những vấn đề lý luận về xây dựng đội ngũ CBCC xã, trước
hết cần nghiên cứu vị trí, vai trò, đặc điểm của cấp xã nói chung và ở xã nói
riêng. Để xác định đúng đắn vị trí, vai trò của cấp xã cần tiếp cận đến các khái
niệm như: đơn vị hành chính, chính quyền đô thị, chính quyền nông thôn, cấp
xã, xã, phường, thị trấn, chính quyền cơ sở.
Khái niệm đơn vị hành chính theo Từ điển hành chính thì các khái
niệm đơn vị hành chính, đơn vị lãnh thổ được hiểu như sau:
- Đơn vị hành chính: đơn vị, tổ chức, tổ chức hành chính do quy định
của pháp luật. Mỗi đơn vị hành chính địa phương đều có ranh giới hành chính
và chức năng do pháp luật quy định. [37, tr. 100]
- Đơn vị lãnh thổ: đơn vị hành chính lãnh thổ quốc gia được phân chia
theo thứ bậc hành chính, đảm bảo sự phối hợp quản lý tập trung thống nhất
của Nhà nước và quyền chủ động quản lý của địa phương (tỉnh, huyện,
xã)[37, tr.101]
Theo quan niệm trên, khái niệm chính quyền cấp xã (viết tắt CQCX)
thuộc đơn vị hành chính lãnh thổ ở địa phương ở cấp thấp nhất.
Khái niệm đô thị và khái niệm nông thôn
- Nông thôn là vùng tập trung dân cư làm nghề nông. Chính quyền
được tổ chức trên lãnh thổ mà chủ yếu là vùng nông thôn được gọi là tỉnh,
huyện, xã. 8
- Đô thị được hiểu là nơi cư trú của cộng đồng người sống tập trung và
hoạt động trong những khu vực phi nông nghiệp. Ở Việt Nam, đô thị được
hiểu là 1 khu dân cư tập trung có đủ 2 điều kiện: Về cấp quản lý là thành phố,
thị xã, quận, thị trấn, được cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập, về
trình độ phát triển đô thị phải đạt được các tiêu chuẩn như sau:
thống các tổ chức chính trị, chính trị - xã hội, các cơ quan nhà nước được
thành lập từ Trung ương đến cơ sở, đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân
dân, chuyển tải và trực tiếp tổ chức nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương
của Đảng, pháp luật của Nhà nước nhằm thực hiện quyền lực của nhân dân
xây dựng CNXH làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ,
văn minh. Hệ thống chính trị cơ sở ở Việt Nam bao gồm các tổ chức chính trị
(tổ chức Đảng), chính quyền cấp xã (viết tắt CQCX), và các tổ chức chính trị
xã hội khác như: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Đoàn thanh niên, Hội liên hiệp
phụ nữ, Hội nông dân, Liên đoàn lao động Việt Nam, Hội cựu chiến binh Việt
Nam, được tổ chức ở xã, phường, thị trấn. Trong hệ thống chính trị cơ sở,
Đảng là hạt nhân chính trị có nhiệm vụ lãnh đạo cả hệ thống chính trị. Tìm
hiểu khái niệm này cho thấy CBCC trong hệ thống chính trị cơ sở rộng hơn
khái niệm CBCC chính quyền xã.
Khái niệm chính quyền cấp xã :
Trong bộ máy nhà nước bên cạnh những cơ quan nhà nước ở Trung
ương, thì chính quyền địa phương là bộ phận không thể thiếu được. Không
một nhà nước nào có thể ban hành và thực thi pháp luật trên toàn lãnh thổ của
đất nước mà không cần có sự tham gia của chính quyền địa phương. Hay về
thuật ngữ chính quyền địa phương có thể hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau.
Theo Từ điển tiếng Việt thông dụng, chính quyền được hiểu theo 2 nghĩa: Bộ
máy điều hành, quản lý công việc nhà nước ở các cấp. 2. Quyền quản lý, điều
khiển bộ máy nhà nước ở các cấp. Như vậy theo quan niệm này thì chính 10
quyền địa phương là bộ máy quản lý, điều hành các công việc nhà nước ở địa
phương bao gồm Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân (viết tắt HĐND -
UBND) và cả các cơ quan nhà nước khác ở địa phương như Toà án nhân dân,
Viện kiểm sát nhân dân. Tuy nhiên thuật ngữ chính quyền địa phương còn
được hiểu theo nghĩa hẹp hơn : Chính quyền địa phương là một nhóm người
HĐND thực hiện quyền lực nhà nước ở địa phương không với chức năng lập
pháp mà với chức năng chấp hành pháp luật chung của nhà nước và văn bản
của cơ quan nhà nước cấp trên ban hành. Vì vậy, thực chất HĐND chủ yếu
thực hiện quyền hành pháp ở địa phương.
+ HĐND là cơ quan đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân địa
phương. Có thể nói, ở địa phương HĐND là cơ quan duy nhất do nhân dân địa
phương bầu ra theo nguyên tắc trực tiếp, phổ thông và bỏ phiếu kín. Đại biểu
HĐND đại diện cho các tầng lớp nhân dân địa phương, nói lên tiếng nói, nguyện
vọng của nhân dân địa phương, đại diện cho trí tuệ tập thể của nhân dân.
- UBND được Điều 123 Hiến pháp 1992 và Điều 2 của Luật tổ chức
Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân được quy định: do HĐND bầu ra, là
cơ quan chấp hành của HĐND, là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương,
chịu trách nhiệm trước HĐND cùng cấp và cơ quan nhà nước cấp trên. Như
vậy, UBND có các vị trí, tính chất pháp lý sau:
+ UBND là cơ quan chấp hành của HĐND, UBND do HĐND cùng cấp
bầu ra có trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, Luật, các văn bản của cơ quan
nhà nước cấp trên và Nghị quyết của HĐND cùng cấp nhằm đảm bảo thực
hiện chủ trương, biện pháp phát triển KT-XH, củng cố quốc phòng, an ninh
và thực hiện các chính sách khác trên địa bàn.
+ UBND là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương. UBND thực
hiện việc quản lý nhà nước ở địa phương trên mọi lĩnh vực góp phần bảo 12
đảm sự chỉ đạo, quản lý thống nhất trong bộ máy hành chính nhà nước từ
Trung ương đến cơ sở.
Riêng đối với cấp xã là nơi diễn ra các hoạt động tự quản của nhân dân
nên CQCX còn có trách nhiệm hướng dẫn các hoạt động tự quản của nhân
dân ở cơ sở.
Từ đó có thể khẳng định: CQCX ở nước ta là một cấp của chính
sống phải thông qua hoạt động của CQCX, phải được thực hiện ở xã, phường,
thị trấn thành phong trào hành động của nhân dân, thông qua những sáng kiến
và nỗ lực của nhân dân bởi vì là cấp thấp nhất, cấp thực thi chính sách nhưng
cơ sở lại là tầng sâu nhất của việc hiện thực hoá đường lối, quan điểm được
vạch ra ở cấp Trung ương. Cho nên, khi CQCX tổ chức tốt việc thực hiện chủ
trương, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước thì các chính sách và
pháp luật mới đi vào cuộc sống, mới phát huy được hiệu lực. Mặt khác thông
qua việc thực hiện chính sách, pháp luật ở cấp xã, sẽ kiểm nghiệm được tính
đúng đắn, tính khả thi, tính hiệu quả, của các chính sách, pháp luật của cấp
trên, giúp cấp trên xem xét, điều chỉnh các chính sách, pháp luật cho phù hợp.
Lê Nin chỉ rõ: Phải khẳng định rằng thành quả của cuộc cách mạng mà chúng
ta đã đạt được ngày hôm nay chính là vì chúng ta luôn chú ý tới một vấn đề
quan trọng bậc nhất, đó là chính quyền cơ sở, kinh nghiệm của chính cơ sở.
Và cũng từ cơ sở mà chúng ta có được sự lạc quan, sự nhanh nhạy và quyết
đoán trong hành động cách mạng.
- CQCX là cấp gần dân nhất, là nơi trực tiếp tổ chức các hoạt động quản
lý, điều hành các công việc hành chính ở cơ sở và trực tiếp tổ chức thi hành
pháp luật ở xã, phường, thị trấn, có khả năng tiếp xúc gần gũi dân nhất, nắm bắt
tốt tâm tư nguyện vọng của nhân dân từ đó có thể đề xuất những biện pháp
chăm lo, bảo đảm cho lợi ích của nhân dân địa phương. CQCX có vai trò rất
quan trọng trong việc chăm lo đến lợi ích của nhân dân, đảm bảo trật tự an toàn 14
xã hội, phát triển địa phương ở cơ sở. Nếu CQCX được tổ chức tốt, đảm bảo
thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ của mình thì nhà nước ta sẽ vững mạnh.
- CQCX có vai trò quyết định trong việc đảm bảo thực hiện dân chủ.
CQCX ở nước ta được hình thành trên cơ sở những địa điểm quần cư (xóm,
làng, thị trấn) là loại lãnh thổ hành chính tự nhiên. Chính quyền không chỉ là
cơ quan cai trị mà còn là cơ quan thể hiện lợi ích chung của dân cư. Do vậy,
phối hợp với CQCX trong việc quản lý mọi mặt của đời sống xã hội ở xã,
phường, thị trấn. Mặt khác, các tổ chức này được quyền kiến nghị với CQCX
về những vấn đề liên quan đến lợi ích của nhân dân địa phương. CQCX có
trách nhiệm tạo điều kiện thuận lợi để các tổ chức này hoạt động tốt. Vì vậy,
CQCX có vai trò không nhỏ trong việc giúp các tổ chức chính trị - xã hội và
các đoàn thể nhân dân thực hiện tốt nhiệm vụ của mình. Do đó, muốn tăng
cường hệ thống chính trị ở cơ sở phải đặc biệt quan tâm đến việc củng cố
CQCX bên cạnh việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và củng cố các tổ
chức, đoàn thể nhân dân.
1.2. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của cán bộ, công chức xã.
1.2.1. Khái niệm cán bộ, công chức xã
Tìm hiểu khái niệm CBCC xã cần tiếp cận quan niệm trong quá trình
hình thành đội ngũ CBCC Việt Nam nói chung và CBCC xã nói riêng.
Thứ nhất: Khái lược lịch sử hình thành khái niệm CBCC ở Việt Nam từ
năm 1945 đến nay.
Ngay từ khi thành lập Nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà, Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã đặt ra vấn đề phải làm sao cho tất cả CBCC từ Chính
phủ đến làng xã đều là công bộc của dân, đều phải tận tuỵ phục vụ nhân dân.
Sắc lệnh số 76/SL ngày 23/5/1950 ban hành quy chế công chức (là người làm
công ăn lương cho cơ quan Chính phủ). 16
Từ những năm 60 trở đi, khái niệm cán bộ được sử dụng thay cho công
chức (người có trình độ trung cấp trở lên giao giữ một nhiệm vụ lâu dài trong
cơ quan Nhà nước, trong các tổ chức chính trị, xã hội, trong các doanh nghiệp
Nhà nước và sĩ quan trong lực lượng vũ trang nhân dân). Cán bộ được hình
thành lên từ bầu cử, bổ nhiệm, phân công công tác sau khi tốt nghiệp các
trường Trung cấp và Đại học. Cán bộ được phân biệt khác với các công nhân
về vị trí làm việc và trình độ. Có thể hiểu chung lại là: Cán bộ chỉ những
“những người làm việc chuyên môn, có tính chất lâu dài và ổn định trong bộ
máy Nhà nước có tư cách nhân danh Nhà nước”.
Nhiều quốc gia quan niệm công chức là những nhân viên công tác,
được hưởng lương ngân sách, bị quy định bởi quy chế hoặc luật công chức, là
người làm việc trong hệ thống chính quyền Nhà nước. Ở nước ta, khái niệm
CBCC là những người được bầu, bổ nhiệm hay giao giữ một công việc nhất
định trong các tổ chức của hệ thống chính trị nước ta cho nên cán bộ Đảng,
đoàn thể, Mặt trận do bầu cử cũng gọi chung là CBCC được quy định trong
Pháp lệnh Cán bộ công chức được sửa đổi, bổ sung năm 2003.
Thứ hai: Khái niệm CBCC nói chung ở Việt Nam hiện nay
Theo Pháp lệnh Cán bộ công chức được sửa đổi, bổ sung năm 2003,
CBCC là công dân Việt Nam, trong biên chế, hưởng lương từ ngân sách nhà
nước, bao gồm:
a. Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ trong
các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung
ương, cấp tỉnh, cấp huyện.
b. Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm, hoặc giao nhiệm vụ
thường xuyên làm việc trong tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở
Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện. 18
c. Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm, hoặc giao nhiệm vụ
thường xuyên trong các cơ quan nhà nước ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện.
d. Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào 1 ngạch viên chức
hoặc giao giữ một công vụ thường xuyên trong đơn vị sự nghiệp của nhà
nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội.
đ. Thẩm phán Toà án nhân dân, kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân.
e. Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc giao nhiệm vụ
thường xuyên làm việc trong cơ quan, đơn vị, thuộc quân đội nhân dân mà
được thi tuyển vào ngạch công chức ở cấp trên.
Cán bộ không chuyên trách là những người chỉ tham gia việc công
trong một thời gian lao động.
Như vậy so với những quy định trước đây của pháp luật, những quy
định trên của NQTW 5 về đội ngũ CBCC xã đặc biệt là cán bộ chuyên trách,
đã có những thay đổi. Đối tượng sau không phải là chuyên trách: Thường trực
Đảng uỷ, Trưởng ban tổ chức, dân vận, tuyên giáo và Chủ nhiệm Uỷ ban
kiểm tra Đảng uỷ, Phó công an xã, công an viên, Phó chủ tịch Uỷ ban Mặt
trận Tổ quốc, Đoàn thanh niên, Phụ nữ, Nông dân, Cựu chiến binh, Chủ tịch
hội chữ thập đỏ, Chủ tịch hội người cao tuổi cấp xã.
Trên cơ sở lý luận về CQCX và các quy định cấp xã, thì CBCC cấp xã
hiện nay theo Pháp lệnh cán bộ công chức năm 2003 và Nghị định số
114/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 của Chính phủ về cán bộ công chức xã,
phường, thị trấn được quy định như sau:
Cán bộ chuyên trách xã (có 11 chức danh), gồm những người do dân
bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ
- Bí thư, Phó bí thư Đảng uỷ (hoặc thường trực Đảng uỷ xã); Bí thư,
phó bí thư chi bộ xã (nơi chưa thành lập Đảng uỷ cấp xã)