Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức và pháp luật - Pdf 25


đại học quốc gia hà nội
khoa luật

tạ thị thu đông t- t-ởng hồ chí minh
về đạo đức và pháp luật

luận văn thạc sĩ luật học

Hà nội - 2010

Trang

Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục Mở Đầu
1

Ch-ơng 1: T- t-ởng Hồ Chí Minh về đạo đức
11
1.1.
Quá trình hình thành t- t-ởng Hồ Chí Minh về đạo đức
11
1.1.1.
Cơ sở hình thành t- t-ởng đạo đức Hồ Chí Minh
11
1.1.2.
Cuộc cách mạng trong lĩnh vực đạo đức của Hồ Chí Minh
19
1.1.3.
Giá trị và đặc điểm cơ bản của t- t-ởng đạo đức Hồ Chí Minh

2.2.1.
T- t-ởng Hồ Chí Minh về bản chất, vai trò của pháp luật
53
2.2.2.
T- t-ởng Hồ Chí Minh về điều kiện đảm bảo hiệu lực pháp luật
62

Ch-ơng 3: Mối quan hệ giữa đạo đức và pháp luật trong
t- t-ởng Hồ Chí Minh
68
3.1.
Hồ Chí Minh bàn về vai trò của đạo đức đối với pháp luật
68
3.1.1.
Đạo đức là gốc, là cơ sở để xây dựng pháp luật tiến bộ
68
3.1.2.
Đạo đức là động cơ của hành vi hợp pháp
69
3.1.3.
Đạo đức là công cụ hỗ trợ pháp luật trong việc giữ gìn trật tự xã
hội, thuần phong mỹ tục dân tộc, rèn luyện t- cách, trách
nhiệm của công dân và cán bộ, đảng viên
71
3.2.
T- t-ởng Hồ Chí Minh về vai trò của pháp luật đối với đạo đức
72
3.2.1.
Pháp luật tiến bộ thể hiện đạo đức cách mạng
72

Ch-ơng 4: Bài học và giải pháp vận dụng t- t-ởng Hồ
Chí Minh về đạo đức và pháp luật trong quản lý xã
hội, xây dựng con ng-ời mới ở việt nam hiện nay
86
4.1.
Bài học kinh nghiệm rút ra từ t- t-ởng Hồ Chí Minh về đạo đức
và pháp luật
86
4.1.1.
Bài học về lấy dân làm gốc
86
4.1.2.
Bài học về đại đoàn kết dân tộc và công tác huấn luyện kiểm
tra cán bộ
88
4.1.3.
Bài học về thu hút nhân tài, trí thức
92
4.1.4.
Bài học về thực hiện tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt
đảng, tổ chức lãnh đạo và quản lý điều hành xã hội
96
4.1.5.
Bài học về tôn trọng tính tối cao của Hiến pháp
98
4.2.
Giải pháp vận dụng t- t-ởng Hồ Chí Minh về đạo đức và pháp
luật trong quản lý xã hội, xây dựng con ng-ời mới ở Việt Nam
hiện nay
101

125
1
MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Việt Nam đang trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua giai
đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa. Chính những biến đổi của tình hình thế giới,
những điều kiện mới của chế độ xã hội trong thời kỳ quá độ đã tác động sâu
sắc đến tất cả các yếu tố thuộc kiến trúc thượng tầng và cơ sở hạ tầng xã hội,
đòi hỏi mỗi cá nhân, xã hội, dân tộc đều phải có những cải biến căn bản để
cùng tồn tại và phát triển trong nhịp bước khẩn trương của thời đại.
Đạo đức, pháp luật cùng với nhà nước là những yếu tố căn bản nhất
thuộc kiến trúc thượng tầng trong mỗi hình thái kinh tế - xã hội, có mối quan
hệ biện chứng và chịu sự tác động bởi cơ sở hạ tầng. Do đó, đạo đức, pháp
luật phải là những quy phạm, những thể lệ linh hoạt như sự sống của xã hội,
của quần chúng. Sự sống thay đổi thì những chuẩn mực, quy phạm ấy cũng
phải thay đổi theo. Nếu lùi lại hay tiến lên quá xa so với trình độ phát triển
chung của xã hội, của quần chúng thì đạo đức và pháp luật chỉ là những quy
phạm cứng nhắc, những thiết chế, thể lệ chết. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã
dạy: "Cách mạng chuyển biến, đòi hỏi phải có một sự chuyển biến sâu sắc về
tư tưởng và nhận thức, đòi hỏi phải có những chính sách, những biện pháp về
công tác tổ chức phù hợp với tình hình mới" [39, tr. 108].
Đất nước đang chuyển mình để kịp thời hội nhập, cùng tồn tại và phát
triển, cùng góp phần xây dựng thế giới hòa bình, nhân sinh và tiến bộ. Chúng
ta muốn tồn tại, phát triển cùng thế giới, hơn lúc nào hết chúng ta phải khẩn
trương chấn chỉnh nền tảng trọng yếu của kiến trúc thượng tầng xã hội - tức
đạo đức, pháp luật, nhà nước - để mở đường cho cơ sở hạ tầng được phát triển

Minh, đặc biệt là tư tưởng của Người về đạo đức và pháp luật - một vấn đề có
vai trò hết sức quan trọng trong hệ thống tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh,
đòi hỏi sự quan tâm thích đáng để vận dụng sáng tạo vào công cuộc đổi mới,

3
hội nhập ở nước ta hiện nay. tác giả xin mạnh dạn chọn vấn đề: "Tư tưởng
Hồ Chí Minh về đạo đức và pháp luật", làm đề tài luận văn thạc sĩ luật học
chuyên ngành Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Nhà tư tưởng trước hết là nhà triết học với hệ thống tư tưởng triết lý của
họ. Ở nước ta, trong giới nghiên cứu và giới học thức nói chung, ai cũng thừa
nhận Hồ Chí Minh là một nhà tư tưởng, nhà mác - xít sáng tạo lớn. Song vẫn
còn rất ít người đi sâu nghiên cứu tư tưởng - triết lý Hồ Chí Minh nói chung,
triết lý đạo đức - pháp lý của Người nói riêng. Đây là khu vực có lẽ "còn
nhiều chỗ trống nhất trong nghiên cứu về tư tưởng Hồ Chí Minh" [2, tr. 48].
Các công trình nghiên cứu về tư tưởng - triết lý Hồ Chí Minh ở Việt Nam tính
đến thời điểm này hầu như còn rất ít ỏi.
Trong hai mươi năm trở lại đây, từ năm 1990 cho tới nay, việc nghiên
cứu tư tưởng Hồ Chí Minh ở nước ta đã được đẩy mạnh và đã đạt được những
thành tựu bước đầu rất khả quan. Có thể nói nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí
Minh, vận dụng tư tưởng của Người vào sự nghiệp đổi mới được chú trọng
như một trong những lĩnh vực chủ yếu của nghiên cứu lý luận và khoa học xã
hội - nhân văn ở nước ta.
Mặc dù vậy, những công trình bề thế có quy mô lớn, có tầm vóc về tư
tưởng, học thuật tương xứng với giá trị, ý nghĩa của sự nghiệp Hồ Chí Minh,
tư tưởng Hồ Chí Minh chưa nhiều. Đặc biệt là những công trình khoa học trong
đó dựa trên cơ sở nghiên cứu triết lý - pháp lý Hồ Chí Minh về đạo đức và
pháp luật để tìm ra các giải pháp nhằm vận dụng sáng tạo hiệu quả tư tưởng -
triết lý pháp lý ấy vào việc phát huy vai trò, chức năng của đạo đức và pháp
luật trong sự nghiệp cách mạng ở nước ta hiện nay vẫn còn rất khiêm tốn cả

bản Lao động ấn hành năm 2003; "Tư tưởng Hồ Chí Minh với việc giáo dục
đội ngũ cán bộ đảng viên hiện nay" của TS. Hoàng Trang và TS. Phạm Ngọc

5
Anh (đồng chủ biên) do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia ấn hành năm 2004;
"Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền" của các tác giả Nguyễn
Đăng Dung (chủ biên), Bùi Ngọc Sơn, Nguyễn Mạnh Tường do Nhà xuất bản
Đại học Quốc gia Hà Nội ấn hành năm 2007. Đây là những công trình nghiên
cứu khá tỷ mỷ, công phu tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp quyền,
đưa ra điểm khác biệt trong tư tưởng Hồ Chí Minh về bản chất của nhà nước,
của pháp luật Việt Nam, về vị trí vai trò và tính cấp thiết của việc xây dựng giáo
dục đội ngũ cán bộ, công chức, đảng viên tương xứng với nhà nước pháp
quyền.
- "Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức" của tác giả Đinh Xuân Dũng
(chủ biên), Phạm Viết Thực, Nghiêm Huyền Vũ (bổ sung) do Ban Tư tưởng
Văn hóa Trung ương ấn hành năm 2005. Công trình đã tập hợp những bài
nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức và một số mẩu chuyện chân
thật, sinh động, ngắn gọn về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh;
- "Văn hóa đạo đức Hồ Chí Minh" của tác giả Hoàng Chí Bảo do Nhà
xuất bản Hà Nội ấn hành năm 2007; "Giá trị cơ bản về tư tưởng đạo đức Hồ
Chí Minh" của tác giả Trần Quang Nhiếm, Nguyễn Văn Sáu do Nhà xuất bản
Công an nhân dân ấn hành năm 2008; "Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo làm
người" của các tác giả Phạm Quang Nghị, Vũ Ngọc Khánh, Hoàng Chí Bảo
do Nhà xuất bản Hà Nội ấn hành năm 2009. Trên cơ sở trích dẫn những bài
nói, bài viết, lời phát biểu, minh chứng qua những hành động thiết thực về
đạo làm người và học đạo làm người của Bác Hồ trong cuộc sống, những mẩu
chuyện về Bác Hồ với nhân dân thủ đô, GS.TS. Hoàng Chí Bảo cùng các tác
giả trên đây đã minh thuyết một cách đầy đủ, rõ ràng sâu sắc về một kiểu mẫu
văn hóa đạo đức, nhận thức về con người, sự nghiệp tư tưởng đạo đức cách
mạng của Bác Hồ, về vị trí, vai trò những nguyên tắc, chuẩn mực của đạo đức

triết lý phát triển ở Việt Nam" của các tác giả Vũ Khiêu, Thành Duy do Nhà
xuất bản Khoa học xã hội ấn hành năm 2000; "Đạo đức người cán bộ lãnh
đạo chính trị hiện nay - Thực trạng và giải pháp" của các tác giả Nguyễn Thế

7
Kiệt (chủ biên) do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia ấn hành năm 2005; "Mối
quan hệ giữa pháp luật với đạo đức" - luận văn thạc sĩ luật học của tác giả
Nguyễn Văn Năm, năm 2003; "Vai trò của pháp luật trong đời sống xã hội"
của tác giả Nguyễn Minh Đoan do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia ấn hành
năm 2009; "Bản chất đích thực của mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức"
của tác giả Hoàng Thị Kim Quế đăng trên tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 1
năm 2010; Tất cả các công trình khoa học trên đây không chỉ thể hiện quan
điểm khoa học của các tác giả khi nghiên cứu về bản chất, vai trò, mối quan
hệ giữa đạo đức và pháp luật, mà còn khẳng định sự đồng thuận và kế thừa
những giá trị khoa học, cách mạng trong tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức và
pháp luật.
Đến nay, chưa có đề tài nào nghiên cứu đầy đủ, trọn vẹn những nội
dung tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức và pháp luật tương xứng với giá trị tư
tưởng triết lý - pháp lý của Người. Song, tất cả các công trình nghiên cứu trên
đây chính là nguồn tư liệu quý giá giúp tôi có cái nhìn tổng thể vấn đề "Tư
tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức và pháp luật". Dưới góc độ chuyên ngành
Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật, luận văn tập trung khai thác khía
cạnh tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức và pháp luật.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích:
Mục đích của luận văn nhằm tìm hiểu, phân tích tư tưởng Hồ Chí
Minh về đạo đức và pháp luật. Trên cơ sở đó vận dụng tư tưởng của Người
vào việc kết hợp đạo đức với pháp luật trong quản lý xã hội, xây dựng con
người mới ở nước ta hiện nay.
- Nhiệm vụ:


9
Người về các lĩnh vực có liên quan mật thiết như: tư tưởng Hồ Chí Minh về
Đảng Cộng sản Việt Nam, nhà nước của dân do dân vì dân, cách mạng xã hội
chủ nghĩa và con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, vấn đề đại
đoàn kết dân tộc, về nhân văn, văn hóa để làm rõ tính cách mạng, tính phổ
biến, thực tiễn cao trong tư tưởng đạo đức và pháp luật Hồ Chí Minh; Đồng
thời, dựa trên sự tổng hợp các dẫn chứng nguồn tư liệu phong phú minh
chứng về tư tưởng cũng như thực tiễn hành động của Hồ Chí Minh tác giả đã
tìm kiếm, phân tích và so sánh điểm khác biệt, đặc sắc, giá trị đương đại trong
tư tưởng của Người trên lĩnh vực đạo đức, pháp luật. Bên cạnh đó, tác giả
cũng đã cố gắng tìm kiếm các quan điểm, đánh giá về Hồ Chủ tịch của những
chính khách nước ngoài; chủ động trực tiếp tiếp cận và lĩnh hội ý kiến, tri
thức của một số nhà khoa học đầu ngành có nhiều công trình nghiên cứu sâu
rộng về Hồ Chí Minh, tiêu biểu như GS. TS. Hoàng Chí Bảo, GS. TS. Lê Mậu
Hãn. Mặt khác, để hoàn thành đề tài, bảo đảm tính lôgíc, khoa học của các nội
dung được triển khai tác giả đã chú trọng vận dụng nguyên lý về mối liên hệ
phổ biến để xem xét, nghiên cứu hai lĩnh vực nội dung có quan hệ mật thiết
với nhau trong tư tưởng Hồ Chí Minh cũng như trong đời sống xã hội đó là
đạo đức và pháp luật.
6. Đóng góp của luận văn
Luận văn đã phân tích rõ hơn giá trị của những nội dung cơ bản trong
tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức và pháp luật cũng như mối quan hệ giữa
chúng. Qua đó luận văn làm sáng tỏ phương thức, nghệ thuật kết hợp giáo dục
đạo đức và sử dụng pháp luật trong quản lý xã hội, đào tạo, giáo dục, xây
dựng con người mới xã hội chủ nghĩa của Hồ Chí Minh.
Trên cơ sở những đóng góp về mặt lý luận đó, luận văn đã rút ra
những bài học, xây dựng, đề xuất những giải pháp căn bản, cụ thể về việc vận
dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào việc kết hợp đạo đức và pháp luật trong việc
quản lý xã hội, xây dựng con người mới ở nước ta hiện nay. Qua đó, nhằm

hội và con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, về đại đoàn kết
dân tộc và kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, về Đảng Cộng
sản Việt Nam và xây dựng Nhà nước của dân do dân vì dân, về nhân văn, văn
hóa, chăm lo bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau…Tư tưởng đạo đức Hồ
Chí Minh như một cây xanh lớn dậy từ đất mẹ Việt Nam, vươn cành hấp thụ
tinh hoa túy khí Đông - Tây để rồi tỏa rợp bóng mát mãi về sau.
Ngạn ngữ có câu: Bông hoa càng vươn cao về phía mặt trời thì rễ của
nó càng bám sâu vào lòng đất. Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh, suy ngẫm
về tư tưởng và ngưỡng mộ về nhân cách cao đẹp của Người, ta càng thấy tư
tưởng đạo đức Hồ Chí Minh vô cũng gần gũi, giản dị bởi nó được nuôi dưỡng
từ chính những truyền thống đạo lý tốt đẹp của dân tộc Việt Nam ta. Truyền
thống yêu nước, nhân nghĩa, yêu thương con người, quý trọng hiền tài ngấm
sâu vào trái tim, tâm hồn Hồ Chí Minh, soi rạng trí tuệ Người từ thuở Hồ Chí

12
Minh còn là cậu bé đầu để chỏm. Lịch sử đấu tranh dựng nước, giữ nước,
chống thiên tai, thú giữ, chống loạn trong giặc ngoài của dân tộc Việt giúp Hồ
Chí Minh hiểu được giá trị của cuộc sống, giá trị thiêng liêng của tự do, hòa
bình. Chính vì thế, Hồ Chí Minh trân trọng tự do dân tộc, hòa bình, hạnh phúc
của nhân dân. Từ thuở niên thiếu, Hồ Chí Minh đã sớm giác ngộ tự do, và khi
trưởng thành, "Tự do" thôi thúc Người ra đi tìm đường cứu nước. Truyền
thống yêu nước được hun đúc từ thời bà Trưng bà Triệu qua Đinh, Lý, Trần…
thúc giục lý trí Nguyễn Tất Thành để rồi chính từ chủ nghĩa yêu nước,
Nguyễn ái Quốc đã đến với chủ nghĩa cộng sản với mong muốn tìm ra con
đường giải phóng dân tộc, mang lại tự do cho đồng bào ái Quốc, mang lại
hạnh phúc cho nhân dân của Người. Và cũng chính trong truyền thống yêu
nước mà truyền thống nhân nghĩa, yêu thương con người, quý trọng hiền tài
của dân tộc Việt Nam được nảy sinh, nuôi dưỡng. Nhìn lại lịch sử dân tộc cả
những lúc chói chang hưng thịnh lẫn khi suy yếu mới thấy được giá trị và sức
mạnh của truyền thống nhân nghĩa, chủ nghĩa nhân văn. Đây chính là yếu tố

những tư tưởng tinh thông về quy luật tự nhiên của vạn vật và xã hội được Hồ
Chí Minh kế thừa trong Đạo giáo đã giúp Người có một triết lý sống, phong
cách sống bình dị, trong sáng, thanh cao ung dung tự tại (như chính cuộc đời
Người đã sống) - một cuộc sống giản dị, khiêm tốn, phảng phất sự vô vi, tiêu
dao của Lão Tử nhưng lại chứa đựng tinh thần lạc quan yêu đời thiết tha, yêu
thương con người đến vô ngần. Với triết lý đó, Hồ Chí Minh đã sống và là
tấm gương sáng cho mọi thế hệ người dân Việt Nam noi theo về một ý chí sắt
đá, lòng quyết tâm, nghị lực phi thường, một sự lạc quan cần thiết trong mọi
hoàn cảnh. Sự hội cộng của các hệ tư tưởng Nho, Phật, Đạo giáo không chỉ
giúp Nguyễn Sinh Cung trở thành một chàng thanh niên có phẩm chất đạo
đức tốt biết yêu nước, thương dân mà những hệ tư tưởng ấy đã khiến Anh
bừng tỉnh về trách nhiệm của một người dân đất Việt.
Càng thêm nhuần nhuyễn tư tưởng triết lý - đạo đức Nho giáo, Phật
giáo, Đạo giáo phương Đông, Hồ Chí Minh càng sớm nhận ra sự hạn chế trói
buộc của tư tưởng Nho giáo, sự an phận nhún nhường của Phật giáo, Đạo

14
giáo. Cho nên, khi mới được tiếp xúc với những tư tưởng bình đẳng, tự do và
dân chủ phương Tây ngay tại quê nhà, Hồ Chí Minh đã so sánh và khát khao
đấu tranh, tìm kiếm giá trị đích thực của nền dân chủ phương Tây mong muốn
người dân An Nam cũng được hưởng những giá trị cao đẹp ấy. Nếu như chủ
nghĩa yêu nước là cơ sở để Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa cộng sản thì
những tư tưởng về tự do bình đẳng, dân chủ phương Tây là động lực thôi thúc
Hồ Chí Minh ra đi tìm đường cứu nước. Sau khi rời bến cảng nhà Rồng năm
1911, Hồ Chí Minh đã tìm đến Tây phương. Tại đây, Người đã được tiếp cận
với các luồng tư tưởng, các học thuyết dân chủ tư sản tiến bộ của Rútxô,
Môngtécxkiơ… Các học thuyết ấy đã giúp Hồ Chí Minh định hướng rõ hơn
những giá trị đơn giản nhất và cũng là thiêng liêng nhất mà cuộc sống con
người phải đạt tới. Người ý thức cụ thể hơn về tự do, đó là quyền tự quyết, là
sự bình đẳng giữa người với người, là quyền được sống, được mưu cầu hạnh

thực tiễn quá trình hoạt động cách mạng, đấu tranh cho độc lập, tự do của dân
tộc, hạnh phúc của nhân dân là cơ sở thực tiễn hình thành nên tư tưởng đạo
đức Hồ Chí Minh.
Vị lãnh tụ kính yêu của chúng ta cất tiếng khóc chào đời khi đất nước
đã trải qua hơn 20 năm trời xâm chiếm của thực dân Pháp. Đất nước thêm xác
xơ nghèo nàn kể từ khi triều đình phong kiến nhà Nguyễn ký hiệp ước
Patơnôt ngày 6/6/1884 đầu hàng thực dân Pháp đặt cơ sở lâu dài và chủ yếu
cho quyền đô hộ của chúng ở Việt Nam. Cộng thêm 21 năm Người được tận
mắt chứng kiến cảnh lầm than cơ cực của nhân dân An Nam dưới chính sách
khai thác thuộc địa của thực dân Pháp với cảnh nhà tù lập ra nhiều hơn trường
học, cảnh bắt lính đi lao dịch tù đày triền miên, cảnh nạt nộ thuế khóa bòn vét
của cải, đầu độc thuốc phiện, thực hiện chính sách ngu dân, chính sách chia
để trị… đời sống mọi tầng lớp nhân dân Việt Nam trở nên túng quẫn, khổ
đau. Hàng ngàn cuộc đấu tranh của các sĩ phu, của nông dân khắp nơi nổ dậy
từ Nam chí Bắc nhưng tất cả đều bị nhấn chìm trong biển máu tang tóc. Nước
mất thì nhà tan, ngay chính bản thân gia đình Người cũng phải chịu cảnh ly

16
tán đói khổ. Vậy nên, Hồ Chí Minh rất thấm thía nỗi đau mất nước, xót xa
trước cảnh những người dân An Nam phải oằn mình dưới những làn roi sắt
của bọn thực dân xâm lược, nát ruột nát gan khi hơn 50% nông dân Việt Nam
bị tước đoạt ruộng đất phải chịu cảnh cầu bất cầu bơ… Càng thương dân Việt
bao nhiêu, Hồ Chí Minh càng ý thức rõ trách nhiệm phải cứu nước cứu nòi
bấy nhiêu.
Trong suốt thời gian bôn ba tìm đường cứu nước, sang đất Pháp, đất
Mỹ, Anh… rồi lại trở về đất Pháp, lăn lộn trong phong trào công nhân khắp
các nước thuộc địa châu Á, châu Phi chứng kiến cảnh lưng trần đỏ lằn roi sắt,
đã nâng tầm nhận thức, tình cảm của Hồ Chí Minh - khi ấy là Văn Ba - và
Anh thấy rõ rằng không chỉ có nhân dân Việt Nam, nhân dân Pháp mà ở bất
cứ thuộc địa nào người dân cũng sống khổ cực, bọn thực dân cũng tàn ác.

cộng hòa trở thành hệ thuyết đạo đức Hồ Chí Minh. Song không chỉ có vậy,
điều quan trọng hơn, chính những nhân tố chủ quan là cơ sở cốt lõi nhất góp
phần hình thành nên tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh.
Vốn thông minh, lanh lẹ, ham học hỏi, lại được bồi dưỡng nhân cách
bởi những giá trị truyền thống quý báu của gia đình và quê hương, Hồ Chí
Minh đã chủ động hấp thụ tiếp biến nhiều giá trị văn hóa (từ văn hóa làng xã
đến văn hóa thành thị, từ văn hóa phương Đông đến các nền văn hóa phương
Tây của các nước khác nhau trên thế giới) để gạn lọc những giá trị ấy thành
nhân cách sống, phẩm chất đạo đức thanh cao, trí tuệ mẫn tiệp Hồ Chí Minh.
Bên cạnh đó, tư tưởng đạo đức Hồ chí Minh còn được hình thành bởi
lòng khoan dung bác ái, yêu thương con người, tôn trọng hiền tài của Hồ
Chí Minh. Khi đề cập đến con người, Hồ Chí Minh đề cập con người cụ thể,
không có con người chung chung, trừu tượng phi nguồn gốc lịch sử hay con
người kiểu tôn giáo. Phần lớn, người xem xét con người trong các mối quan
hệ xã hội, giai cấp, giới tính, lứa tuổi, nghề nghiệp; trong khối thống nhất của
cộng đồng dân tộc và quan hệ quốc tế. Cách tiếp cận về con người của Hồ Chí

18
Minh thống nhất với lập trường giai cấp và lập trường dân tộc. Chính vì thế,
lòng yêu thương quý trọng con người ở Hồ Chí Minh rất bao la rộng lớn
nhưng lại gần giũ với số phận mỗi con người, hướng tới con người cụ thể -
những con người đang sống thực trên trần gian. Người chỉ rõ nguồn gốc đích
thực của mọi sự đau khổ mà những con người nô lệ, mất nước, những người
lao động làm thuê phải chịu - đó là chủ nghĩa đế quốc, thực dân, ách áp bức
bóc lột giai cấp của tư sản, phong kiến đối với công nhân, nông dân,…Từ đó,
Hồ Chí Minh chỉ ra con đường cách mạng, con đường giải phóng dân tộc, giai
cấp, con người, đồng thời Người không ngừng đấu tranh vì sự nghiệp giải
phóng đó để nhân dân ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành
đến nơi đến chốn.
Hồ Chí Minh coi sinh mạng con người là quý. Cho nên, triết lý- đạo

là một mẫu mực đạo đức của thời đại được toàn thể thế giới công nhận và noi
theo.
1.1.2. Cuộc cách mạng trong lĩnh vực đạo đức của Hồ Chí Minh
Hồ Chí Minh là một nhà cách mạng, Người đã cách mạng trên lĩnh
vực tư tưởng, gắn liền và chuyển hóa nó vào trong thực tiễn. Chính vì Hồ Chí
Minh cách mạng thực tiễn tư tưởng nên thực tiễn hoạt động của Người là thực
tiễn cách mạng.
Sinh ra và lớn lên trong một gia đình có truyền thống yêu nước, ngay
từ nhỏ Hồ Chí Minh đã được tiếp thu những tư tưởng sâu sắc của Nho giáo về
những chuẩn mực đạo đức của người trí thức, kẻ quân tử. Nhưng với tư duy
nhạy bén, mẫn cảm trước thời đại, Hồ Chí Minh đã có sự đánh giá rất đúng
đắn về vai trò của Nho giáo trong lịch sử xã hội. Đồng thời, Người thấy rõ
những hạn chế, bất cập trong tư tưởng Nho giáo như: yếu tố duy tâm lạc hậu,
coi khinh lao động chân tay, phân biệt đẳng cấp, coi khinh, trói buộc phụ

20
nữ… Vậy nên, Hồ Chí Minh không hoàn toàn chịu ảnh hưởng một cách rập
khuôn những tư tưởng Nho học, mà trong tư tưởng và hành động, Người luôn
phát huy những giá trị tích cực; đồng thời, hạn chế, khắc phục những nhược
điểm của hệ tư tưởng này. Hơn ai hết, Hồ Chí Minh ý thức rất rõ việc lưu giữ,
phát huy, kế thừa một cách có chọn lọc, sáng tạo những yếu tố tiến bộ, nhân
văn của hệ tư tưởng Nho giáo. Người chỉ rõ, mặt tích cực của Nho giáo là đã
đề xướng triết học hành động cùng tư tưởng nhập thế, hành đạo, giúp đời, lý
tưởng về một xã hội bình trị, một "thế giới đại đồng", triết lý nhân sinh về tu
thân dưỡng tính (chính tâm tu thân), từ Thiên tử cho đến thứ dân ai cũng phải
lấy tu thân làm gốc. Ngoài ra, Nho giáo còn đề cao văn hóa, lễ giáo, tạo ra
truyền thống hiếu học khác hẳn với chủ trương "ngu dân" để "dễ trị" của các
học thuyết cổ đại khác. Chúng ta thấy, Hồ Chí Minh tiếp thu Nho giáo cũng
giống như Mác tiếp thu phép biện chứng của Hêghen. Bởi lẽ, trật tự các giá trị
đạo đức Nho giáo là: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín. Còn trật tự và chuẩn mực đạo


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status