Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng của thanh niên về giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông tỉnh Ninh Bình hiện nay - Pdf 25



HÀ NỘI - 2011

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Hồ Chí Minh học
Mã số: 60 31 27

Người hướng dẫn khoa học: GS, TS MẠCH QUANG THẮNG

HÀ NỘI - 2011 MỤC LỤC Trang
MỞ ĐẦU
4
Chương 1: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG
CỦA THANH NIÊN VÀ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CÁCH
MẠNG CHO THANH NIÊN
10
1.1. Quan niệm của Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng của thanh
niên
10
1.2. Quan niệm của Hồ Chí Minh về giáo dục đạo đức cách mạng cho
thanh niên
27
Chương 2: GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC THANH NIÊN HỌC SINH PHỔ
THÔNG TỈNH NINH BÌNH THEO TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC
CÁCH MẠNG HỒ CHÍ MINH
53
2.1. Thực trạng đạo đức và giáo dục đạo đức thanh niên học sinh phổ


Trang
Bảng 2.1: Xếp loại hạnh kiểm khối THPT
55
Bảng 2.2: Xếp loại văn hoá khối THPT
55
Bảng 2.3: Nhận định của học sinh về mục đích của việc học tập
57
Bảng 2.4: Ý thức chấp hành kỷ luật học tập của học sinh
57
Bảng 2.5: Ý thức bảo vệ môi trường của học sinh
58
Bảng 2.6: Việc phân bố thời gian cho việc học tập
60
Bảng 2.7: Nhận định về hiện tượng quay cóp của học sinh trung
học phổ thông Ninh Bình
61
Bảng 2.8: Mức độ học sinh sa vào các tệ nạn xã hội
63
Bảng 2.9: Mức độ quan tâm giáo dục của gia đình đối với học sinh
67

nguy hiểm nhất của đạo đức cách mạng theo cách gọi của Người, giờ đây có
cơ hội trỗi dậy và phát triển. Chủ nghĩa Mác–Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh
được Đảng ta xác định giữ vị trí chủ đạo trong đời sống tinh thần của xã hội,
là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng đang bị các thế
lực thù địch chống phá, công kích. Tất cả những điều đó đã tác động xấu đến
việc hình thành và phát triển nhân cách của TN học sinh.
Học sinh THPT là lớp TN đang tuổi trưởng thành, đang phát triển về
nhân cách có nhu cầu khẳng định mạnh mẽ về cá tính, thích những hoạt động
tập thể, ham học hỏi nhưng cũng dễ bị ảnh hưởng các thói hư tật xấu ngoài xã
hội. Trong xu thế chung của học sinh cả nước, một bộ phận không nhỏ TN
học sinh các trường THPT ở Ninh Bình có những biểu hiện lệch lạc trong nhận
thức và trong hành vi đạo đức như: chưa xác định động cơ học tập đúng, thiếu
trung thực, còn quay cóp trong thi cử, vô lễ với thầy cô, vi phạm pháp luật…
Nghị quyết Trung ương hai khóa VIII của Đảng (1997) đã gióng lên hồi chuông
báo động cho toàn xã hội và cho rằng tình trạng một bộ phận học sinh, sinh viên
suy thoái đạo đức, mờ nhạt lý tưởng, chạy theo lối sống thực dụng, thiếu hoài
bão lập thân, lập nghiệp vì tương lai của bản thân và đất nước là điều “đặt biệt
đáng lo ngại” [19, tr. 24].
Việc giáo dục đạo đức cho học sinh THPT theo tư tưởng Hồ Chí Minh
là nội dung quan trọng hàng đầu trong việc rèn luyện nhân cách thế hệ trẻ.
Giáo dục đạo đức là trách nhiệm của toàn xã hội, trong đó nhà trường giữ vai
trò đặc biệt quan trọng. Người cho rằng: “Công tác giáo dục đạo đức trong
nhà trường là một bộ phận quan trọng có tính chất nền tảng của giáo dục
trong nhà trường xã hội chủ nghĩa. Dạy cũng như học phải biết chú trọng cả
đức lẫn tài. Đạo đức là cái gốc là nền tảng rất quan trọng”. Trong Di chúc,
Người lưu ý “Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào
tạo họ trở thành người kế thừa xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa
“chuyên” [51, tr. 510].
Lời di huấn của Hồ Chí Minh trở thành tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt
trong đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta. Nghị quyết

cho học sinh THPT hiện nay, Tạp chí Nghiên cứu giáo dục, Số 2/1977.
- Phạm Minh Hạc (1999), Về phát triển toàn diện con người thời kỳ
công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
- Phạm Đình Nghiệp, (2000) Giáo dục lý tưởng cách mạng cho thế hệ
trẻ Việt Nam, Nxb Thanh niên, Hà Nội.
- Nguyễn Trọng Chuẩn - Nguyễn Văn Phúc, (2003) Mấy vấn đề về đạo
đức trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay, Nxb Chính trị quốc
gia, Hà nội.
- Song Thành (2005), Hồ Chí Minh nhà tư tưởng lỗi lạc, Nxb Lý luận
chính trị, Hà Nội.
Những tài liệu trên là nguồn tư liệu quí giá giúp chúng tôi tiếp thu,
tham khảo trong quá trình viết luận văn. Các công trình nghiên cứu trên đã đề
cập nhiều vấn đề giáo dục đạo đức cho TN nói chung. Tuy nhiên còn rất ít
công trình trực tiếp nghiên cứu vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục
đạo đức cho học sinh THPT. Vì vậy, tôi mạnh dạn nghiên cứu vấn đề này với
lòng mong muốn góp phần nhỏ bé vào việc luận giải những vấn đề lý luận,
thực tiễn đã và đang đặt ra.
3. Mục đích và nhiệm vụ
3.1. Mục đích
Hệ thống hoá và phân tích những quan điểm của Hồ Chí Minh về đạo
đức cách mạng của TN làm cơ sở lý luận và phương pháp luận trong nghiên
cứu thực trạng đạo đức và giáo dục đạo đức cho học sinh THPT Ninh Bình, từ
đó đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho đối tượng này
theo tư tưởng Hồ Chí Minh.
3.2. Nhiệm vụ
- Làm rõ những nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo
đức cách mạng của TN, vai trò TN và vận dụng vào giáo dục đạo đức cho học
sinh.
- Phân tích thực trạng đạo đức của học sinh và thực tiễn công tác giáo
dục đạo đức cho học sinh các trường THPT ở Ninh Bình trong những năm

đức cho học sinh.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận
văn gồm 2 chương, 5 tiết.

Chương 1
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG CỦA
THANH NIÊN VÀ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG CHO THANH
NIÊN

1.1. QUAN NIỆM CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠO ĐỨC CÁCH
MẠNG CỦA THANH NIÊN
1.1.1. Quan niệm của Hồ Chí Minh về vai trò của thanh niên trong
sự nghiệp cách mạng Việt Nam
Có nhiều quan điểm và cách nhìn nhận về lứa tuổi TN, với điều kiện cụ
thể của nước ta và tình hình phát triển thể chất, tâm sinh lý, sự trưởng thành
về mặt xã hội của TN Việt Nam Định nghĩa như sau có thể được coi là hợp lý:
“Thanh niên là một nhóm nhân khẩu xã hội đặc thù, có độ tuổi từ 14, 15 đến
dưới 30, gắn với mọi giai cấp, mọi tầng lớp xã hội và có mặt trên mọi lĩnh
vực hoạt động của đời sống xã hội. Ở nước ta, số người ở độ tuổi thanh niên
chiếm trên 36,35 % dân số cả nước” [74, tr. 9]. Xét riêng về độ tuổi thì TN là
một nhóm lớn, bao gồm nhiều nhóm nhỏ thuộc các độ tuổi khác nhau: “15-19,
20-24 và 25-29” [75, http:// www.gso.gov.vn].
Với cách nhìn khách quan, Hồ Chí Minh luôn phản ánh bản chất cách
mạng, vai trò và sức mạnh của TN, đồng thời cũng thể hiện lòng yêu mến, tin
tưởng của Người đối với thế hệ trẻ Việt Nam. Người khẳng định: TN là cầu
nối giữa các thế hệ: kế tục sự nghiệp của lớp người đi trước đồng thời bồi
dưỡng, dìu dắt thế hệ đàn em. TN bao giờ cũng là lớp người hăng hái, nhiệt
tình và đi đầu trong mọi việc khó khăn: “Đâu cần thanh niên có, việc gì khó
thanh niên làm”.

Thứ hai, thanh niên là lực lượng to lớn trong sự nghiệp cách mạng giải
phóng dân tộc, xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc.
Sau 10 năm bôn ba nước ngoài để tìm con đường cứu nước, cách thức
giải phóng đồng bào mình, Nguyễn Ái Quốc đã đến với chủ nghĩa Mác –
Lênin. Theo học thuyết Mác-Lênin, cách mạng là sự nghiệp của quần chúng,
nhân dân làm ra lịch sử. Quán triệt quan điểm đó, Hồ Chí Minh xác định cách
mạng là công việc của “cả dân chúng” chứ không phải việc của một hai
người, trong đó công, nông là gốc của cách mạng, là đội quân chủ lực của
cách mạng. Hồ Chí Minh cũng sớm nhận thấy vai trò của TN trong lực lượng
cách mạng, tiềm năng của thanh niên là vô cùng to lớn. Người nhận xét:
“Tính trung bình thanh niên chiếm một phần ba tổng số nhân dân - tức là một
lực lượng to lớn” [47, tr. 94] , hăng hái, nhiệt tình, có lý tưởng, sẵn sàng xả
thân vì nghĩa lớn, TN trở thành lực lượng chủ yếu của cách mạng. Để hiện
thực hoá tiềm năng đó thì trước hết cần phải tập hợp TN trong một tổ chức
cách mạng. Người cho rằng: “Thanh niên ta rất hăng hái. Ta biết họp lòng hăng
hái đó lại và dìu dắt đúng đắn thì thanh niên sẽ thành một lực lượng rất mạnh
mẽ” [46, tr. 162]. Tổ chức cách mạng của TN là Đoàn TN Cộng sản. Nhiệm vụ
chủ yếu của tổ chức Đoàn là đoàn kết, tập hợp TN, giác ngộ TN đi theo Đảng
làm cách mạng.
Được sự quan tâm giáo dục của Đảng, được sự dìu dắt mà nhiều thế hệ
TN đã trưởng thành. Tiếp tục phát huy vai trò xung kích, không ngại hy sinh
quyết tâm kháng chiến để giữ vững nền độc lập của nước nhà, đã có hàng
triệu TN hăng hái xung phong ở tuyến đầu của cuộc chiến đấu, nhiều TN đã trở
thành cán bộ trung kiên của Đảng như: Võ Thị Sáu, Lê Hồng Phong, Lý Tự
Trọng, Hoàng Văn Thụ, Phan Đình Giót cùng hàng triệu thanh niên dũng cảm
khác đã cống hiến tuổi xuân, sức lực cùng với toàn dân làm nên thắng lợi của
cách mạng Việt Nam.
Sau tháng 7-1954, đất nước bị chia cắt hai miền. Trước kẻ thù mới
hùng mạnh hơn, nhiệm vụ giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc đưa cả
nước tiến lên CNXH càng trở nên khó khăn, phức tạp, nặng nề hơn. Để hoàn

cháu là thế hệ anh hùng trong thời đại anh hùng. Bác mong các cháu đều xứng
đáng là những anh hùng trong sự nghiệp cách mạng tiêu diệt chủ nghĩa đế
quốc và xây dựng xã hội mới” [50, tr. 505].
Thứ tư, thanh niên là đội hậu bị, cánh tay đắc lực của Đảng, đồng thời
là người giáo dục dìu dắt thiếu niên, nhi đồng.
Theo Hồ Chí Minh: “Trong mọi công việc thanh niên ta luôn luôn hăng
hái xung phong và họ xứng đáng là cánh tay đắc lực của Đảng” [49, tr. 271].
TN luôn đi đầu trong việc thực hiện những chủ trương, đường lối do Đảng đề
ra. Thông qua hoạt động, tổ chức Đoàn phát hiện và giới thiệu những đoàn
viên ưu tú cho Đảng. Như vậy, Đoàn TN là nguồn bổ sung lực lượng cho đội
ngũ của Đảng những người trẻ, khỏe. Điều đó làm cho Đảng càng đông và
càng mạnh.
Mối quan hệ giữa Đảng với tổ chức Đoàn cũng được Người bàn đến.
Trong tác phẩm “Đường cách mệnh”, Hồ Chí Minh viết: “Đường chính trị, thì
TN theo Đảng chỉ huy, nhưng việc làm thì TN độc lập” [41, tr. 295]. Nghĩa là
Đoàn do Đảng cộng sản lãnh đạo. Đoàn TN phải lấy mục tiêu, lý tưởng của
Đảng làm tôn chỉ hoạt động của tổ chức mình. Tuy nhiên, Đoàn TN hoàn toàn
tự chủ trong việc đề ra kế hoạch, chương trình hành động. Theo Người, Đoàn
TN cộng sản vừa là tổ chức gần gũi Đảng, vừa là người phụ tá đắc lực cho
Đảng. Trước hết, Đoàn là người trực tiếp giúp Đảng giáo dục chủ nghĩa cộng
sản cho TN, vận động TN đi theo lý tưởng của Đảng. Đoàn còn lôi cuốn, tập
hợp đông đảo TN xung phong thực hiện và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ
mà Đảng giao phó. Được tổ chức Đoàn dìu dắt, giúp đỡ TN không ngừng rèn
luyện, phấn đấu vươn lên xứng đáng là lực lượng kế thừa sự nghiệp cách
mạng của Đảng.
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, Đoàn TN còn có vai trò là người giáo
dục dìu dắt thiếu niên, nhi đồng. Cách mạng là sự nghiệp của nhiều thế hệ nối
tiếp nhau. Việc chuẩn bị thế hệ cách mạng kế tục là một quy luật đảm bảo cho
cách mạng giành thắng lợi trong từng thời kỳ, thúc đẩy xã hội phát triển không
ngừng. Chăm lo, giáo dục, dìu dắt các em thiếu niên, nhi đồng là chiến lược đào

Ngay từ những ngày cách mạng còn trứng nước, cùng với việc tổ chức ra
Hội Việt Nam Thanh niên cách mạng, gửi người vào học trường Quân sự
Hoàng Phố, cử đi đào tạo ở Mátxơcơva… Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh đã
trực tiếp nuôi dạy TN Việt Nam từ Thái Lan sang, tất cả đều mang họ Lý của
Lý Thụy (tên hoạt động của Người ở Quảng Châu) trong đó Lý Tự Trọng đã
được Đảng cử về nước để chuẩn bị tổ chức ra Đoàn TN Cộng sản sau này.
Trong nội dung bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau, Hồ Chí Minh đặt lên
hàng đầu vấn đề bồi dưỡng lý tưởng và đạo đức cách mạng cho TN.
Lý tưởng mà Hồ Chí Minh quan tâm giáo dục cho TN là lý tưởng độc lập
dân tộc và CNXH, tức là kết hợp chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa Mác -
Lênin. Xác định lý tưởng đúng không khó đối với TN hiện nay, vấn đề là phải
kiên định lý tưởng, nghĩa là phải có ý chí. Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho
đời sau là làm cho họ kế thừa được chí lớn của các thế hệ cha anh, biến lý
tưởng cách mạng thành ý chí cách mạng, thành động lực tinh thần mạnh mẽ,
đánh bại âm mưu phá hoại của kẻ thù, chiến thắng nghèo nàn, lạc hâu, đưa sự
nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đến thành công, nhanh chóng
đưa Việt Nam lên hàng các quốc gia phát triển của khu vực thế giới. Trong 5
điều Hồ Chí Minh dạy TN, Người nhấn mạnh điều trước tiên là: “Phải luôn
luôn nâng cao chí khí cách mạng trung với nước, hiếu với dân, nhiệm vụ nào
cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng.”
[50. tr.504].
Lý tưởng và ý chí cách mạng chỉ có thể duy trì và phát triển trên nền
tảng đạo đức cách mạng, đó là đạo đức cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư.
Thiếu nền tảng này, tuổi trẻ chưa trải qua dạn dày đấu tranh sẽ không vượt
qua thăng trầm, khó khăn của hoàn cảnh để kiên trì phấn đấu đến cùng cho lý
tưởng. Thiếu nền tảng đạo đức cách mạng, TN dễ gục ngã trước cám dỗ của
kinh tế thị trường.
Cuối cùng trong nội dung giáo dục, Hồ Chí Minh yêu cầu: “Thanh niên
phải học và học cho giỏi”, “phải ham học”. TN ta ngày nay cần theo được
tấm gương học tập của Hồ Chí Minh: Từ một người yêu nước, tuy không có

quan niệm mang tính cách mạng và khoa học về đạo đức mà quan niệm của
các tôn giáo và các nền đạo đức khác không thể đạt tới.
Vấn đề đạo đức được Hồ Chí Minh đặt ra và xem xét một cách toàn
diện trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người, từ việc tư đến việc công, từ
lao động sản xuất ở hậu phương đến chiến đấu ngoài mặt trận, từ học tập,
công tác đến sinh hoạt hàng ngày. Hồ Chí Minh cũng bàn đến đạo đức ở mọi
phạm vi từ gia đình tới xã hội, từ giai cấp đến dân tộc, từ quốc gia đến quốc
tế. Việc Người xem xét vấn đề đạo đức một cách toàn diện là một cách nhìn
mang tính khách quan, phù hợp với hoạt động phong phú đa dạng của đời
sống xã hội và của mỗi con người.
Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh vừa là đạo đức Việt Nam vừa là đạo
đức cộng sản, vừa tiếp thu văn hóa đạo đức phương Đông và đạo đức phương
Tây.
Hồ Chí Minh không đưa ra định nghĩa đạo đức là gì, nhưng trong sử
dụng, thuật ngữ đạo đức được dùng với 3 nghĩa: rộng, hẹp, và rất hẹp. Nghĩa
rộng, đạo đức là hình thái ý thức xã hội, nhờ đó con người tự giác điều chỉnh
hành vi cho phù hợp với lợi ích, hạnh phúc và làm giàu tính người trong các
quan hệ xã hội, kể cả trong các quan hệ chính trị, tư tưởng. Nghĩa hẹp, đạo
đức là các qui tắc, chuẩn mực dùng điều chỉnh hành vi con người trong quan
hệ giữa người với người trong hoạt động sống. Nghĩa rất hẹp đó là hành vi
đạo đức. Hành vi đạo đức là hành động cá nhân thể hiện quan niệm của cá
nhân về nghĩa vụ đối với xã hội và đối với người khác, thể hiện lương tâm
hoặc bổn phận cá nhân trong những hoàn cảnh đặc thù không lặp lại. Hồ Chí
Minh tập trung bàn nhiều về đạo đức theo nghĩa hẹp với 3 mối quan hệ cơ bản
của mỗi con người (với mình, với người và với việc) và đạo đức cách mạng.
Hồ Chí Minh quan niệm đạo đức cách mạng là đạo đức của người cách
mạng xuất hiện trong quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc và đi lên CNXH
ở Việt Nam. Đạo đức cách mạng là nền đạo đức do Hồ Chí Minh đề xướng và
cùng với Đảng ta xây dựng, lãnh đạo, phát triển. Là nền đạo đức mang bản
chất giai cấp công nhân, được xây dựng và phát triển trên cơ sở những quan

ngày càng tiến bộ và thoát khỏi ách áp bức, bóc lột, luôn luôn giữ vững tinh
thần chí công vô tư”; “Lo, thì trước thiên hạ; hưởng, thì sau thiên hạ” , “Vô
luận trong hoàn cảnh nào, người đảng viên cũng phải đặt lợi ích của Đảng lên
trên hết”, “là hòa mình với quần chúng thành một khối, tin quần chúng, hiểu
quần chúng, lắng nghe ý kiến của quần chúng” [46, tr. 568].
Theo Người: Có đạo đức cách mạng thì dù gặp khó khăn, gian khổ, thất
bại cũng không sợ sệt, rụt rè, lùi bước; khi cần hy sinh cả tính mệnh cũng
không tiếc; khi gặp thuận lợi và thành công vẫn giữ vững tinh thần chất phác,
khiêm tốn, không kèn cựa về mặt hưởng thụ, không công thần, không quan
liêu, không kiêu ngạo, không hủ hoá. Đạo đức cách mạng là động lực giúp
con người vượt qua cạm bẫy của chủ nghĩa cá nhân, vượt qua gian khổ phấn
đấu vì lợi ích của Đảng, của cá nhân, của dân tộc và của loài người.
Đối với cán bộ, đảng viên, Hồ Chí Minh cho rằng đạo đức cách mạng
“là gốc, là nền tảng của người cách mạng”, là nguồn nước làm cho tinh thần
cách mạng không bao giờ cạn. Người còn ví đạo đức đối với người cách mạng
như sức khỏe của người gánh nặng và đi xa: “Có sức mới gánh được xa, có đức
mới hoàn thành nhiệm vụ”, “phải có cái đức để di đến cái trí, và khi đã có cái trí,
hiểu biết về khoa học, chủ nghĩa Mác, phương pháp cách mạng thì cái đức chính
là cái đảm bảo cho người cách mạng giữ vững được chủ nghĩa mà mình đã chấp
nhận, đã giác ngộ, đã đi theo”. Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ: “Cũng như sông thì có
nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có
gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì tài
giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân” [44, tr. 5]. Theo Người, nhiệm
vụ cách mạng bao giờ cũng khó khăn, phức tạp. Thực hiện nhiệm vụ cách mạng,
đòi hỏi người cách mạng phải có quyết tâm phấn đấu thật cao, phải dám hy sinh,
phải kiên trì bền bỉ “thắng không kiêu, bại không nản”. Vì thế “Người cách
mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ
vẻ vang” [48, tr. 283].
Theo quan điểm của Hồ Chí Minh, Đảng phải “là đạo đức, là văn minh”
thì mới hoàn thành sứ mệnh lịch sử vẻ vang của mình là lãnh đạo cuộc đấu tranh

- Dũng cảm: Không sợ khổ, không sợ khó, thực hiện đâu cần thanh niên
có, việc gì khó có thanh niên làm, gian khổ đi trước, hưởng thụ sau mọi người.
- Khiêm tốn: Không nên tự cho mình là tài giỏi, không được khoe công,
không được tự phụ [49, tr. 106].
Người dạy TN phải yêu Tổ quốc, yêu nhân dân, yêu lao động, yêu
CNXH, yêu khoa học… Đó là đạo đức mới và chỉ có thông qua phấn đấu, rèn
luyện mới trở thành những con người phát triển toàn diện, có tư tưởng đúng,
tình cảm đẹp, có kiến thức, có sức khoẻ để làm chủ thiên nhiên, làm chủ bản
thân, làm chủ xã hội. Để làm được như vậy, Người khuyên TN: “Không có
việc gì khó, chỉ sợ lòng không bền, đào núi và lấp biển, quyết chí ắt làm nên”
[45, tr. 95].
Đối với TN trong lực lượng vũ trang, theo Hồ Chí Minh, đạo đức của
họ thể hiện ở 5 điều: Trí, Tín, Nhân, Dũng, Liêm:
- Trí: Là sáng suốt, biết địch biết mình, biết người tốt thì nâng đỡ, biết
người xấu thì không dùng, biết cái tốt của mình mà phát triển lên, biết cái xấu
của mình để mà tránh.
- Tín: Nói cái gì phải cho tin. Nói và làm cho nhất trí, làm thế nào cho
dân tin, cho bộ đội tin ở mình.
- Nhân: Là phải có lòng bác ái, yêu nước, yêu đồng bào, yêu bộ đội của
mình.
- Dũng: Là phải mạnh dạn, quả quyết nhưng không phải làm liều. Phải
có kế hoạch. Phải kiên quyết làm ngay. Nguy hiểm cũng phải làm. Nghĩa là
phải có lòng dũng cảm trong công việc.
- Liêm: Là không tham danh vị, không tham sống, không tham tiền, không
tham sắc. Người cán bộ đã dám hy sinh cho Tổ quốc, hy sinh cho đồng bào, hy
sinh vì nghĩa không tham gì hết [44, tr. 223-224].
Đối với đoàn viên TN cộng sản, theo Hồ Chí Minh, đạo đức cách mạng
của họ khác các TN bình thường ở chỗ: “Bất kỳ ở cương vị nào, bất kỳ làm
công việc gì đều không sợ khó, không sợ khổ, đều một lòng một dạ phục vụ
lợi ích chung của giai cấp, của nhân dân, đều nhằm mục đích xây dựng chủ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status