Nâng cao chất lượng cho vay hộ nông dân tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Chí Linh - tỉnh Hải Dương - Pdf 25

Website: Email : Tel : 0918.775.368
LỜI NÓI ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Sau khi nước ta gia nhập tổ chức thương mại thế giới -WTO, từng bước hòa
nhập vào nền kinh tế sôi động của thế giới thì thị trường tài chính nói chung và các
ngân hàng nói riêng có những cơ hội thuận lợi cũng như phải đối mặt với những
khó khăn, thách thức lớn, cơ hội được tiếp xúc với khoa học, công nghệ tiên tiến,
hiện đại và thị trường rộng lớn, đa dạng; đồng thời theo nó cũng là thách thức của
sự cạnh tranh quyết liệt, đòi hỏi các ngân hàng phải vươn lên, tự khẳng định mình
với vị thế sân nhà và lớn hơn nữa là với thị trường quốc tế. Tất cả những doanh
nghiệp, dù là trong lĩnh vực nào nếu không đáp ứng được những đòi hỏi trên thì
việc sẽ khó khăn trong hoạt động kinh doanh là khó tránh khỏi. Các ngân hàng
nước ta hầu hết đều khá lạc hậu so với các nước tiên tiến trên thế giới, lạc hậu về
công nghệ, về trình độ, vì vậy mà việc cạnh tranh cũng không phải là dễ dàng.
NHNo Chí Linh đã và đang phải cạnh tranh với các ngân hàng khác nhau
trên địa bàn, có cả chi nhánh ngân hàng trong nước và cả chi nhánh của ngân hàng
nước ngoài, vì vậy việc phải từng bước hoàn thiện công tác tổ chức cũng như
nghiệp vụ phục vụ khách hàng để phát huy và tăng cường lợi thế của chi nhánh là
một việc hết sức quan trọng và cần thiết. Ở một địa bàn có hơn 95% số vốn xin vay
là để sản xuất kinh doanh của kinh tế hộ thì chứng tỏ kinh tế hộ nông dân là một
mảng hết sức quan trọng với ngân hàng, việc phục vụ phát triển kinh tế nông
nghiệp chiếm vị trí quan trọng hàng đầu, vì vậy việc nâng cao chất lượng cho vay
hộ nông dân là một trong những vấn đề được đặc biệt chú ý.
Trên địa bàn huyện Chí Linh có 9 Quỹ Tín dụng nhân dân, 5 Ngân hàng
Thương mại Quốc doanh (Ngân hàng Đầu tư & Phát triển - BIDV, Ngân hàng Nhà
Đồng bằng sông Cửu Long, Ngân hàng công thương - Incombank, Ngân hàng
Ngoại thương - Vietcombank và Ngân hàng No&PTNT Chí Linh), 2 chi nhánh
1
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Ngân hàng Cổ phần (Sacombank, Ocean Bank), cần phải lưu ý rằng một số ngân
hàng đã lắp đặt máy rút tiền tự động – ATM để phục vụ khách hàng của mình trong

người vay), trong đó một bên(NHTM) chuyển giao tiền hoặc tài sản cho bên kia
(người vay) sử dụng trong một thời gian nhất định, đồng thời bên nhận tiền hoặc
tài sản cam kết hoàn trả vốn (cả gốc và lãi) cho bên cho vay vô điều kiện theo thời
hạn đã thỏa thuận.
Hoạt động chủ yếu của Ngân hàng thương mại là tài trợ cho khách hàng dựa
trên cơ sở tín nhiệm gọi là hoạt động tín dụng.
Hoạt động tín dụng của ngân hàng được phân chia thành nhiều loại khác
nhau, theo những cách khác nhau tùy theo nhu cầu của khách hàng hay mục tiêu
quản lý của ngân hàng. Có những cách phân loại thường dùng như sau:
1.1.1. Phân loại theo thời gian (thời hạn tín dụng)
Phân chia theo thời gian là cách ngân hàng hay sử dụng, nó liên quan trực
tiếp đến hoạt động của ngân hàng, tính sinh lời hay rủi ro, khả năng hoàn trả của
khách hàng cũng như khả năng thanh khoản của ngân hàng. Vì vậy mà phân chia
theo thời hạn tín dụng cần phải tuân thủ quy tắc rất nghiêm túc và chặt chẽ. Theo
thời gian, tín dụng được phân chia thành tín dụng ngắn, trung và dài hạn như sau:
• Tín dụng ngắn hạn: các khoản tín dụng có thời hạn từ 12 tháng trở xuống
3
Website: Email : Tel : 0918.775.368
• Tín dụng trung hạn: các khoản tín dụng có thời hạn từ trên 1 năm đến 5
năm
• Tín dụng dài hạn: các khoản tín dụng có thời hạn trên 5 năm
Các khoản tín dụng có thời hạn khác nhau sẽ được áp dụng các mức lãi suất
khác nhau, theo nguyên tắc thời gian càng dài thì rủi ro càng cao nên lãi suất vì thế
cũng tăng theo, áp dụng đối với cả hoạt động huy động vốn cũng như hoạt động
cho vay. Thông thường, ngân hàng sử dụng một nguồn nào đó để cho vay các
khoản có thời hạn tín dụng tương ứng với nó, ví dụ nguồn trung và dài hạn thường
cấp cho các khoản vay trung, dài hạn, trong trường hợp thiếu hụt nguồn tương ứng,
ngân hàng sẽ chuyển một phần từ nguồn khác sang nhưng với một tỷ lệ quy định
cho phép để đảm bảo khả năng thanh khoản cho ngân hàng.
1.1.2. Phân loại theo tài sản bảo đảm

thế mà ngân hàng cho vay chỉ dựa vào uy tín của khách hàng.
Hiện nay, theo Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính Phủ,
không quy định cụ thể khách hàng được vay không có bảo đảm bằng tài sản, về vấn
đề này tuỳ theo các TCTD khác nhau mà có các quy định khác nhau, chẳng hạn
như NHNo&PTNT Việt Nam có quyết định 1300/QĐ-HĐQT-TDHo ngày 03 tháng
12 năm 2007, trong đó tại điều 2 có giao quyền lựa chon, quyết định việc cho vay
có bảo đảm hay không có bảo đảm bằng tài sản cho Giám đốc chi nhánh. Nói
chung khách hàng muốn vay vốn không cần bảo đảm bằng tài sản thì phải đáp ứng
đủ các điều kiện sau đây:
• Sử dụng vốn vay có hiệu quả và trả nợ gốc, lãi vốn vay đúng hạn trong quan
hệ vay vốn với tổ chức tín dụng cho vay hoặc các tổ chức tín dụng khác.
5
Website: Email : Tel : 0918.775.368
• Có dự án đầu tư, phương án sản xuất kinh doanh, dịch vụ khả thi, có hiệu
quả, hoặc có dự án đầu tư phương án phục vụ đời sống khả thi, phù hợp với quy
định của pháp luật.
• Có khả năng tài chính để thực hiện nghĩa vụ trả nợ.
• Cam kết thực hiện biện pháp bảo đảm bằng tài sản theo yêu cầu của tổ chức
tín dụng nếu sử dụng vốn vay không đúng cam kết trong hợp đồng tín dụng, cam
kết trả nợ trước hạn nếu không thực hiện được các biện pháp đảm bảo bằng tài sản
quy định tại điểm này.
Như vậy, ta có thể nhận thấy rằng những khách hàng được vay theo hình
thức không có tài sản bảo đảm phải tuân thủ những quy định rất chặt chẽ và cụ thể,
vì hình thức này tiềm ẩn rủi ro rất cao. Đối với những khoản cho vay theo chỉ thị
của chính phủ thì không cần có tài sản bảo đảm, hay những khoản vay với các tổ
chức tài chính, các công ty lớn uy tín cao cũng vậy. Nói chung phần lớn những
khách hàng này là những khách hàng có uy tín cao với ngân hàng nên nếu số khách
hàng vay với hình thức này càng nhiều thì càng chứng tỏ hoạt động hiệu quả của
ngân hàng, trong thẩm định cũng như trong quan hệ với khách hàng.
1.1.3. Phân loại theo rủi ro

Việc phân chia nhóm và trích lập dự phòng như vậy giúp ngân hàng chủ
động được trước những rủi ro và khi chúng xảy ra thì không làm ảnh hưởng nhiều
đến hoạt động của ngân hàng.
Ngoài những cách phân loại trên, ngân hàng có thể phân loại theo một số
phương thức khác như sau:
• Theo ngành kinh tế (công nghiệp, nông nghiệp, thương mại, dịch vụ, …).
• Theo đối tượng khách hàng (cá nhân, doanh nghiệp…).
• Phương thức cho vay (từng lần, hạn mức, thấu chi…)
• Theo số lượng các bên tham gia (trực tiếp, gián tiếp, đồng tài trợ…)
• Theo mục đích sử dụng (tiêu dùng, kinh doanh, tài trợ dự án,…).
Các cách phân loại này cho thấy tính đa dạng của ngân hàng, càng phân chia
thành nhiều nhóm nhỏ thì càng chứng tỏ đối tượng của ngân hàng là đa dạng, hay
cũng có những ngân hàng chỉ chú tâm vào một đối tượng khách hàng, ví dụ như
khách hàng nhỏ (ngân hàng bán lẻ), …trường hợp này thì lại chứng tỏ được tính
chuyên môn hóa cao của ngân hàng.
1.2. Vai trò của hoạt động cho vay của NHTM
Cho vay là một hoạt động có vai trò vô cùng quan trọng đối với cả ngân
hàng và với nền kinh tế nói chung.
7
Website: Email : Tel : 0918.775.368
1.2.1. Đối với Ngân hàng
Cho vay là hoạt động đem lại nguồn thu chủ yếu cho ngân hàng thương mại.
Để đảm bảo NHTM có thể duy trì và phát triển bền vững thì đòi hỏi hoạt động cho
vay của ngân hàng phải an toàn và hiệu quả.
Thông qua cho vay, ngân hàng có thể mở rộng các mối quan hệ và vị thế của
mình để có thể thu hút nhiều khách hàng hơn, nhằm thu được nhiều lợi nhuận hơn.
Một khách hàng được ngân hàng phục vụ, vị khách đó hài lòng, giới thiệu cho bạn
bè, người thân, thì chắc chắn ngân hàng sẽ có lợi thế hơn so với các ngân hàng
khác.
1.2.2. Đối với nền kinh tế

tuân thủ chặt chẽ các quy định có liên quan.
Ngân hàng chỉ cho vay khi khách hàng đảm bảo được các nguyên tắc sau:
1. Sử dụng vốn vay đúng mục đích đã thỏa thuận trong Hợp đồng tín
dụng. Đây là nguyên tắc cơ bản và đòi hỏi việc thực hiện chặt chẽ, vì khách hàng
có sử dụng vốn vay đúng mục đích, thực hiện đúng phương án đã đưa ra thì mới có
khả năng thu hồi được vốn để trả cho ngân hàng, đồng thời có lãi để phục vụ cho
đời sống của mình, tiếp tục việc sản xuất.
Quy định này nhằm hạn chế rủi ro đạo đức có thể xảy ra khi khách hàng sử
dụng vốn sai mục đích, trong một số trường hợp còn có thể là thực hiện các hành vi
trái với pháp luật.
2. Khách hàng phải đảm bảo hoàn trả cả gốc và lãi đúng hạn. Bởi ngân
hàng cũng là người đi vay của dân cư hay một chủ thể nào khác và phải hoàn trả
cho họ khi đến hạn. Khi ngân hàng cho vay, họ phải tính toán xem sử dụng nguồn
nào là hợp lý để có thể thu được hiệu quả tốt nhất, thường là kỳ hạn của món vay
9
Website: Email : Tel : 0918.775.368
giống với kỳ hạn của nguồn thì sẽ là tốt nhất. Vì vậy mà khi món vay đến hạn, nếu
khách hàng không trả được nợ hoặc trả không đủ thì chắc rằng hoạt động của ngân
hàng sẽ ít nhiều bị ảnh hưởng, nếu số lượng các món vay như vậy là nhiều và lượng
vốn lại lớn thì chắc chắn ngân hàng sẽ gặp rắc rối.
1.3.2. Điều kiện vay vốn
Điều kiện vay vốn là những quy định cụ thể của ngân hàng đối với khách
hàng có nhu cầu vay vốn và ngân hàng chỉ cho vay đối với những khách hàng đáp
ứng được các điều kiện này. Thông thường, điều kiện vay vốn bao gồm:
1. Địa vị pháp lý của khách hàng: Khách hàng vay vốn phải có năng lực
pháp luật, năng lực hành vi dân sự và chịu trách nhiệm dân sự theo quy định của
pháp luật.
Khách hàng của ngân hàng là đa dạng và có địa vị pháp lý khác nhau nên
tùy từng khách hàng cụ thể mà ngân hàng lại có những quy định riêng phù hợp với
quy định chung của pháp luật.

Quy định đầu tiên và cần thiết nhất là hoạt động cho vay của ngân hàng phải
lành mạnh và có hiệu quả. Vì thế, ngân hàng phải thực hiện tốt việc kiểm tra, đánh
giá khả năng hoàn trả của người đi vay trước khi cho vay và trong quá trình người
đó sử dụng vốn vay, người vay phải đáp ứng được các điều kiện vay như đã trình
bày.
Các hạn chế để đảm bảo an toàn tín dụng có vai trò quan trọng trong việc
thực hiện cho vay, bởi nó quy định giới hạn cho vay của ngân hàng với mỗi khách
hàng, mỗi lĩnh vực, nhờ đó mà ngân hàng tránh được rủi ro lớn và phân tán được
rủi ro.
Các biện pháp đảm bảo trong cho vay nhằm phòng ngừa rủi ro, tạo cơ sở
kinh tế và pháp lý để thu hồi được các khoản nợ đã cho khách hàng vay.
1.3.5. Hợp đồng
11
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Hợp đồng tín dụng là văn bản pháp lý thể hiện mối quan hệ tín dụng giữa
ngân hàng và người vay, là cơ sở để ngân hàng thực hiện việc cho vay, quản lý các
khoản vay, thu hồi nợ và xử lý các tranh chấp nếu xảy ra. Vì vậy mà hợp đồng phải
quy định cụ thể, rõ ràng các nội dung chính như sau:
1. Điều kiện vay
2. Mục đích sử dụng tiền vay
3. Hình thức vay
4. Số tiền vay
5. Lãi suất
6. Thời hạn vay
7. Hình thức bảo đảm
8. Giá trị tài sản bảo đảm
9. Phương thức trả nợ
Và các cam kết khác được các bên thoả thuận.
Nội dung của hợp đồng phải logic, thống nhất, phản ánh đầy đủ điều khoản
và điều kiện tín dụng, quyền và nghĩa vụ giữa các bên, cam kết giữa các bên và

Một khoản cho vay của ngân hàng phải đáp ứng được nhu cầu kinh tế của
khách hàng, giúp họ có tiền để đáp ứng cho hoạt động sản xuất kinh doanh, cũng
như phục vụ các nhu cầu khác trong cuộc sống của họ. Bên cạnh đó, khoản vay ấy
còn phải đảm bảo khả năng an toàn và sinh lời cho ngân hàng, có như vậy thì ngân
hàng mới có thể tiếp tục duy trì và phát triển hoạt động của mình, tiếp tục cung cấp
các khoản vay cũng như những dịch vụ khác cho khách hàng.
2.2. Chỉ tiêu phản ánh chất lượng cho vay của NHTM
13
Website: Email : Tel : 0918.775.368
2.2.1. Các chỉ tiêu giới hạn trong cho vay
Theo các quy định tại:
1. QĐ số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2002
2. TT số 03/2005/TT-NHNN năm 2005
3. QĐ số 72/QĐ-HĐQT-NHNo
4. Văn bản số 1163/NHNo-TD
Thì việc cho vay không có bảo đảm bằng tài sản được giới hạn như sau:
• Tổng dư nợ cho vay đối với một khách hàng không vượt quá 15% vốn
tự có của ngân hàng.
• Đối với hộ nông dân trang trại và hợp tác xã: Hộ nông dân được vay
vốn đến 10 triệu đồng, với những hộ là chủ trang trại có dự án khả thi hoặc đã được
ký hợp đồng tiêu thụ sản phẩm sản xuất ra thì được vay đến 30 triệu đồng mà
không phải áp dụng các biện pháp bảo đảm bằng tài sản.
Hợp tác xã làm dịch vụ cung ứng vật tư, cây, con giống có dự án đầu tư,
phương án sản xuất kinh doanh khả thi, có hợp đồng tiêu thụ sản phẩm, NHNo xem
xét cho vay đến 100 triệu đồng không phải bảo đảm bằng tài sản.
HTX sản xuất hàng xuất khẩu, làm nghề truyền thống có dự án đầu tư,
phương án sản xuất kinh doanh khả thi, có hợp đồng xuất khẩu hoặc đơn đặt hàng
khả thi thì NHNo xem xét cho vay đến 500 triệu đồng không phải thế chấp bàng tài
sản.
2.2.2. Chỉ tiêu doanh số cho vay

Tổng số hộ vay vốn càng lớn thì càng chứng tỏ được quy mô mạng lưới hoạt
động của ngân hàng là rộng lớn và vị thế của ngân hàng đối với khách hàng càng
cao. Tuy nhiên, cũng giống như chỉ tiêu tổng dư nợ cho vay, số hộ cho vay nhiều
chưa hẳn đã là tốt nếu trong số đó lại có nhiều hộ dư nợ xấu.
15
Website: Email : Tel : 0918.775.368
2.2.6. Chỉ tiêu về tỷ lệ thu nợ bằng nguồn thu thứ nhất
Nguồn thu thứ nhất là nguồn thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh của người
vay, trong trường hợp nguồn này không đủ để trả nợ thì ngân hàng mới buộc phải
thi bằng nguồn thu thứ hai, đó là tài sản bảo đảm (trong thường hợp vay có tài sản
bảo đảm)
Doanh số thu nợ bằng
Tỷ lệ thu nợ bằng nguồn thu thứ nhất
nguồn thu thứ nhất =
Tổng doanh số thu nợ
Tỷ lệ này càng tiến tới 1 thì càng chứng tỏ chất lượng tín dụng của ngân
hàng là tốt, tỷ lệ càng nhỏ thì chất lượng tín dụng của ngân hàng cần phải xem xét
và kiểm tra, tổ chức lại.
2.2.7. Chỉ tiêu tỷ lệ thu lãi
Tổng số lãi thu được
Tỷ lệ thu lãi = x 100
Tổng số lãi phải thu
Tỷ lệ này càng cao thì càng phản ánh rằng hoạt động kinh doanh của ngân
hàng là tương đối tốt và chất lượng tín dụng cao, bởi việc cho khách hàng vay để
sản xuất mà họ hoạt động có hiệu quả thì mới trả được lãi ngân hàng đúng thời hạn
đã thoả thuận.
2.2.8. Chỉ tiêu vòng quay vốn tín dụng
Doanh số thu nợ trong kỳ
Vòng quay vốn tín dụng =
Dư nợ bình quân trong kỳ

tiêu cụ thể đã đề ra.
17
Website: Email : Tel : 0918.775.368
• Công tác tổ chức, nhân sự của ngân hàng
Công tác tổ chức, nhân sự của ngân hàng cũng là nhân tố hết sức quan trọng,
tổ chức của ngân hàng được sắp xếp một cách khoa học, hợp lý, sao cho mỗi người
đều phát huy được hết khả năng, sở trường và tính sáng tạo của mình cũng như
phối hợp chặt chẽ với các nhân viên, phòng ban khác thì chắc chắn hoạt động của
ngân hàng sẽ hết sức nhịp nhàng, đem lại hiệu quả cao, vì vậy mà chất lượng tín
dụng cũng được nâng cao hơn.
• Việc xây dựng và tuân thủ quy trình nghiệp vụ
Mỗi ngân hàng đều có một quy trình làm việc riêng, chỉ có các bước cơ bản
là cần tuân thủ chung, việc xây dựng một quy trình nghiệp vụ chuẩn là cơ sở thực
hiện cho mọi thao tác được chính xác và nhịp nhàng, tiết kiệm thời gian và chi phí
cho ngân hàng cũng như khách hàng. Vì vậy mà việc tuân thủ nghiêm ngặt theo
quy trình nghiệp vụ đã được xây dựng chắc chắn hoạt động cho vay của ngân hàng
sẽ có chất lượng cao.
• Công tác kiểm tra, giám sát tín dụng
Đây cũng là một nhân tố vô cùng quan trọng, mang tính bao quát chung cho
toàn ngân hàng. Việc kiểm tra giúp ngân hàng phát hiện được những sai sót của
cán bộ tín dụng cũng như của khách hàng để có các biện pháp xử lý thích hợp và
kịp thời, tránh được những rủi ro do phát hiện chậm mà đem lại hậu quả xấu cho
ngân hàng
• Hệ thống thông tin
Trong cho vay, việc thu thập thông tin về khách hàng là rất quan trọng,
nguồn thông tin lại rất phong phú, như: gặp phỏng vấn trực tiếp, qua hồ sơ cho vay,
qua các ngân hàng khác, qua các cơ quan quản lý địa phương, …Nếu ngân hàng có
được thông tin kịp thời, đầy đủ và chính xác về khách hàng thì việc phân tích đánh
18
Website: Email : Tel : 0918.775.368

Các quy định pháp lý về hoạt động ngân hàng cũng chi phối trực tiếp đến
hoạt động của ngân hàng, vì thế mà ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động tín dụng.
3. Nhân tố thuộc về khách hàng
Khách hàng là nhân tố khách quan ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng hoạt
động tín dụng. Khách hàng có trình độ lao động cao, hoạt động sản xuất tiên tiến
thì chắc chắn việc vay và hoàn trả nợ cho ngân hàng là việc không khó. Nhưng
khách hàng có trình độ thấp sẽ khó tiếp cận được với công nghệ sản xuất tiên tiến,
hiện đại nên có thể việc sản xuất sẽ có kết quả không cao, thậm chí là thấp hơn so
với sự phát triển chung của nền kinh tế, vì vậy mà việc trả nợ ngân hàng có thể gặp
nhiều khó khăn.
Đạo đức của khách hàng cũng là vấn đề mà cán bộ tín dụng cần chú ý, nếu
khách hàng vay sử dụng không đúng với mục đích trong hợp đồng tín dụng thì rủi
ro không trả được nợ sẽ là rất cao. Ngoài việc giám sát thường xuyên của cán bộ tín
dụng thì đòi hỏi khách hàng phải có ý thức sử dụng vốn vay đúng mục đích, bởi
không có ngân hàng nào, cán bộ tín dụng nào có thể giám sát được hết hoạt động
của tất cả các khách hàng của mình. Đạo đức khách hàng cao thì chắc chắn chất
lượng hoạt động cho vay của ngân hàng cũng sẽ cao và ngược lại,
Chính khách hàng là người có vai trò quyết định trong sự tồn tại và phát triển
của ngân hàng nên đây là yếu tố vô cùng quan trọng mà bản thân ngân hàng cần
phải chú ý. Ngân hàng có thể tranh thủ sự quan tâm, ủng hộ và phối hợp tạo điều
kiện của các cấp uỷ, Đảng, chính quyền, tổ chức đoàn thể, cơ quan chức năng tại
địa phương để tuyên truyền về hoạt động của ngân hàng cũng như giúp người dân
có nhận thức và hiểu biết tốt hơn trong việc thực hiện quan hệ tín dụng với ngân
hàng.
20
Website: Email : Tel : 0918.775.368
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG CHO VAY HỘ NÔNG DÂN TẠI
CHI NHÁNH NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP CHÍ LINH
1. Giới thiệu về ngân hàng

Phòng, Quảng Ninh.
• Có khu di tích được xếp hạng Quốc gia, hàng năm thu hút rất nhiều khách
thăm quan (Côn Sơn-Kiếp Bạc, đền thờ Nguyễn Trãi, Chu Văn An).
• Đất đồi, rừng nhiều, khí hậu thích nghi với sự phát triển của các loại cây ăn
quả tại địa phương như: vải, nhãn, na, … và chăn nuôi các loại gia súc lớn: trâu, bò,

Từ những thuận lợi trên đã tạo ra nhu cầu và điều kiện để phát triển các
ngành, các loại hình phát triển kinh tế khác nhau, như: vận tải (hàng hoá, dịch vụ),
đầu tư và chăm sóc cây ăn quả, chăn nuôi gia súc, gia cầm, …Việc phát triển đa
dạng loại hình kinh tế giúp cho NHNo_CL có thuận lợi lớn trong việc đầu tư triển
khai các dịch vụ của mình.
Những khu công nghiệp, khu thương mại dịch vụ và đô thị mới mọc lên
nhanh chóng (Sao đỏ, Trường Linh, Tiên Sơn, …) làm thay đổi cơ cấu nền kinh tế
trong huyện theo hướng công nghiệp, xây dựng, nông nghiêp và dịch vụ nên nền
kinh tế địa phương đang từng bước phát triển theo hướng nhanh chóng và tích cực.
Diện tích đất đồi rộng lớn lại đã tiến hành giao đất cho từng hộ dân nên rất
thuận lợi cho việc phát triển mạnh kinh tế vườn đồi (trồng trọt và chăn nuôi).
22
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Kinh tế của huyện phát triển nhanh chóng là động lực, tiền đề mà cũng là
thách thức với NHNo_CL trong việc đồng hành với sự phát triển của địa phương.
Trải qua 20 năm xây dựng và phát triển, nay đã trở thành một ngân hàng thương
mại hàng đầu huyện Chí Linh với uy tín, truyền thống và mạng lưới rộng khắp đến
tận các xã, là bạn đồng hành của người nông dân.
NHNo_CL là ngân hàng hoạt động tại một huyện miền núi, đa số nhân dân
hoạt động sản xuất nông nghiệp nên trình độ dân trí còn chưa cao, việc tiếp cận với
những tiến bộ công nghệ mới vấp phải nhiều khó khăn, công nghệ sản xuất còn khá
lạc hậu, hoạt động nông nghiệp lại chịu nhiều chi phối của thời tiết nên việc kinh
doanh của ngân hàng cũng còn rất nhiều thách thức phải vượt qua.
Với những thuận lợi và khó khăn như vậy nên NHNo_CL vừa tiến hành kinh

sản xuất bằng cách nhận việc thủ công về làm tại nhà hoặc xưởng tập trung như
may, thêu,… hoặc làm công nhật cho các xưởng vật liệu xây dựng (nhà máy gạch
chịu lửa Trúc Thôn, mỏ đất cao lanh, xưởng giầy xuất khẩu,…)
Có nhiều hộ dân phát triển sang hoạt động nuôi rắn, ong lấy mật,… đã đạt
được hiệu quả cao, một hộ ở Cộng Hoà, nuôi ong nay đã hình thành cả một công ty
chuyên các sản phẩm về ong như: mật, sữa ong chúa, rượu nhân sâm mật ong,…tạo
công ăn việc làm cho nhiều người góp phần phát triển kinh tế của địa phương.
Người nông dân ngày nay đã có điều kiện thuận lợi hơn để phát triển chăn
nuôi sản xuất do nền kinh tế hàng hoá phát triển, dịch vụ được mở rộng nên các sản
phẩm phục vụ nông nghiệp đến tay người nông dân nhanh chóng và thuận lợi.
Các chợ tiêu thụ nông thuỷ sản được hình thành ở nhiều nơi nên người nông
dân cũng không còn phải quá lo lắng cho việc tiêu thụ sản phẩm của mình nữa.
Người nông dân trong huyện cũng như các thành phần kinh tế khác đoàn kết
cùng nhau xây dựng kinh tế địa phương phát triển nhanh chóng và ổn định.
24
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Năm 2006 đã có 59% số hộ nông dân trong huyện đạt sản xuất kinh doanh
giỏi, toàn huyện chỉ có 12,4% hộ nghèo, hiện đang được các cấp hội vận động nông
dân đoàn kết giúp đỡ nhau phát triển kinh tế, những hộ sản xuất kinh doanh giỏi đã
đăng ký giúp đỡ hộ nghèo về kinh nghiệm sản xuất, hướng dẫn kỹ thuật sản xuất để
thoát nghèo, hướng tới xoá nghèo ở Chí Linh trong thời gian không xa.
Hệ thống đường giao thông và các công trình thuỷ lợi được đầu tư kiên cố
nên người nông dân yên tâm sản xuất nông nghiệp.
Người nông dân được nâng cao trình độ hiểu biết nên rất có ý thức trong việc
học tập của con em mình, chỉ trong trường hợp không có khả năng học tập thôi còn
những em có khả năng đều được bố mẹ cố gắng lo cho ăn học đầy đủ. Những đối
tượng nhàn rỗi, không có việc làm tại địa phương được chính quyền tổ chức dạy
nghề cho họ để họ có điều kiện làm việc cũng như có thể đi xuất khẩu lao động ở
nước ngoài.
Trình độ sản xuất của người nông dân đã được nâng cao nên việc làm kinh tế


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status