MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU
Việt Nam chuyển sang nền kinh tế thị trường vào lúc khu vực hoá, toàn
cầu hoá đã và đang là những xu thế phát triển chủ yếu và tất yếu của quan hệ
quốc tế hiện đại. Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ đã và đang thúc đẩy
mạnh mẽ quá trình chuyên môn hoá và hợp tác hoá giữa các quốc gia, làm
cho lực lượng sản xuất được quốc tế hoá cao độ. Những tiến bộ của khoa học
công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin, đã dưa các quốc gia gắn kết lại
gần nhau, dẫn tới sự hình thành những mạng lưới toàn cầu. Trước những biến
đổi to lớn đó, hầu hết các nước trên thế giới đều phải điều chỉnh lại cơ cấu
kinh tế, điều chỉnh chính sách theo hướng mở cửa và hội nhập, giảm và tiến
tới giỡ bỏ hàng rào thuế quan, phi thuế quan làm cho việc trao đổi hàng hoá,
luân chuyển vốn, lao động và kỹ thuật trên thế giới ngày càng thông thoáng
hơn, mở đường cho kinh té quốc tế phát triển. Trên thế giới đã hình thành
nhiều cường quốc kinh tế như:Mỹ,Nhật tổ chức hợp tác khu vực như: Liên
minh châu âu (EU-1993), Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN-
1967), Hợp Tác Á Âu (ASEM-1996) đặc biệt là WTO.
Công ty cổ phần may 10 – một đơn vị lớn, có tiềm lực mạnh, có năng lực
quản lý và tổ chức sản xuất tốt, có uy tín trên thị trường quốc tế, đã đạt được
những thành công bước đầu khi thâm nhập vào những thị trường này. Trong
môi trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt Công ty sẽ gặp không ít những khó
khăn và thách thức mới. Trong thời gian thực tập, khảo sát và nghiên cứu tại
phòng kinh doanh của công ty cổ phần May 10 thuộc tổng Công ty Dệt may
Việt Nam (VINATEX) em thấy hoạt động xuất khẩu hàng may mặc của Công
ty đã đạt được những thành tựu đáng kể góp phần đưa May 10 trở thành một
trong những công ty may hàng đầu của Việt Nam và Đông Nam Á. Tuy
nhiên, trong Công tác xuất khẩu của Công ty sang những thị trường này còn
một số hạn chế. Vì vậy, em đã lựa chọn đề tài ''Định hưóng phát triển thị
trường của công ty may 10 tại thị trường Mĩ Nhật và một số nước EU''
Bởi vì 3 thị trường này là những thị trường xuất khẩu chính của công ty
Với mục đích :nâng cao thị phần,tăng doanh thu của công ty cũng như
NGÀNH DỆT MAY
Vai trò của xuất khẩu
Đặc điểm của ngành dệt may
- Đặc điểm của sử dụng lao động
ngành dệt may là một nghành công nghiệp sử dụng nhiều lao động.Lao
động trong ngành hiện tại chủ yếu là do tự đào tạo và kèm cặp trong các xí
nghiệp là chính.do vậy chất lượng là rất thấp,và số lượng cũng chưa đủ
yêu cầu.Hiện nay các công ty đã chủ động thành lập các đơn vị đào tạo lao
động để chủ động hơn trong vấn đề nhân lực.
Đặc điểm nguồn nguyên liệu
Nguyên liệu chủ yếu của ngành dẹt may đó là:len,sơi,tơ tự nhiên và
nhân tạo
Sự khác biệt đối với các ngành khác.
Ngành công nghiệp dệt may sử dụng chủ yếu là lao động nữ,chủ yếu là
lao động phổ thông chỉ yêu cầu lành nghề,
Vai trò của ngành đệt may đói với sự phát triển của nền kinh tế
May mặc là hoạt động gắn liền với đời sống con ngời trong mọi thời đại.
Do vậy, có thể nói, may mặc đã xuất hiện ở Việt Nam từ hàng nghìn năm nay.
Trải qua các thăng trầm lịch sử, kỹ thuật dệt, may của cha ông ta không
ngừng hoàn thiện với những sản phẩm giá trị cao có thể sánh ngang với các
quốc gia giàu truyền thống khác nh Trung Quốc, ấn Độ, Triều Tiên, để lại cho
chúng ta những kinh nghiệm quý báu và niềm tự hào lịch sử.
Ngay từ khi ra đời, ngành may mặc hay nói đúng hơn là sản phẩm của
ngành đã giữ một vị trí hết sức quan trọng trong đời sống xã hội.
Bởi trong bốn nhu cầu cơ bản nhất của con ngời là ăn - mặc - ở - đi lại
thì nó đứng ở vị trí thứ hai, nh thế cũng đã thấy rõ vai trò không thể thiếu đợc
của ngành. Hơn nữa, nhu cầu của đời sống hiện đại không chỉ dừng lại ở đủ
mặc, mà còn phải mặc đẹp. Chính ở đây, ngành may mặc đã góp phần làm
đẹp cho cuộc sống hàng ngày của chúng ta.
5
không chỉ tác động làm gia tăng nguồn thu ngoại tệ mà còn giúp cho việc gia
tăng nhu cầu sản xuất ,kinh doanh ở những ngành liên quan khác.Xuất khẩu
tạo ra khả năng mở rộng thị trường tiêu thụ ,giúp cho Sản xuất ổn định và
kinh tế phát triển.vì có nhiều thị trường=>Phân tán rủi ro do cạnh tranh .Xuất
khẩu tạo điều kiện mở rộng khả năng cung cấp đầu vào cho sản xuất ,nâng
6
cao năng lực sản xuất trong nước.Thông qua cạnh tranh trong xuất khẩu ,buộc
các doanh nghiệp phải không ngừng cải tiến sản xuất ,tìm ra những cách thức
kinh doanh sao cho có hiệu quả ,giảm chi phí và tăng năng suất .
- Xuất khẩu tích cực giải quyết công ăn việc làm và cải thiện đời sống
người dân.Xuất khẩu làm tăng GDP,làm gia tăng nguồn thu nhập quốc dân,từ
đó có tác động làm tăng tiêu dùng nội địa->nhân tố kích thích nền kinh tế tăng
trưởng .Xuất khẩu gia tăng sẽ tạo thêm công ăn việc làm trong nền kinh tế
,nhất là trong ngành sản xuất cho hàng hoá xuất khẩu ,xuất khẩu làm gia tăng
đầu tư trong ngành sản xuất hàng hoá xuất khẩu ->Là nhân tố kích thích nền
kinh tế tăng trưởng .
công nghiệp dệt may cũng là 1 nghành kinh tế vì thế vai trò của xuất
khẩu là rất quan trọng,Đặc biệt là trong thời gian gần đây khi nền công nghiệp
phát triển dẫn đến sự gia tăng lớn về mặt năng xuất.với thị trường trong nước
nhỏ bé không đủ đáp ứng tiêu thụ đươc lượng sản phẩm lớn.trước tình hình
đó xuất khẩu có thể nói là hướng đi sống còn đối với các doanh nghiệp dệt
may.
Những nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của công nghiệp dệt
may
1. Những nhân tố ảnh hưởng:
-Vốn
là điều kiện đầu tiên cho bất cứ 1 ngành công nghiệp nào.nghành dệt
may cũng vậy.tuy không đòi hỏi lượng vốn nhiều nhưng trong thực tế ngành
dệt đang thiếu vốn trầm trọng
''Chúng tôi không lo thiếu đơn hàng, nhiều khó khăn ngành đang gặp
với bất kỳ lô hàng nhập khẩu nào.
Quốc gia cuối cùng nơi mà lô hàng dệt may được xuất khẩu không nhất
thiết là được coi là “quốc gia xuất xứ” của hàng hoá đó. Một sản phẩm hàng
dệt may được xuất khẩu được xem là sản phẩm của một lãnh thổ hoặc quốc
gia nhất định là nơi duy nhất mà sản phẩm đó được trồng, chế biến hay sản
xuất toàn bộ. Cụ thể:
- Với sản phẩm là sợi, chỉ hay tơ: Nước xuất xứ là nơi tơ hay sợi được se
hay được chế biến.
- Với sản phẩm là vải: Nước xuất xứ là nơi dệt thành vải.
-Với quần áo: Nước xuất xứ là nơi quần áo được lắp ráp toàn bộ. Ở đây
thuật ngữ “lắp ráp toàn bộ ”có nghĩa là tất cả các chi tiết (ít nhất phải có hai
chi tiết) đã có sẵn với cùng tình trạng như được thấy trong thành phẩm và
được kết hợp để tạo thành thành phẩm trong một nước, lãnh thổ hay bán đảo
duy nhất. Các lắp ráp phụ (như cổ áo, tay áo, đường xẻ túi…) và trang trí nhỏ
(miếng đính, dát hạt, trang kim, thêu, nút…) không ảnh hưởng đến nhận diện
của hàng hoá.
- Quy định đặc biệt cho vải nhuộm và in: Nước xuất xứ của vải làm từ tơ
bông, sợi nhân tạo, sợi thiên nhiên là nước nơi vải được nhuộm và in đi kèm
với hai hay nhiều hơn các công đoạn hoàn tất sau: tẩy, định hình khổ, chuội,
cào sợi, xử lý nhiệt, làm hồ cứng, điều chỉnh trọng lượng ép nổi hoặc ép vân
sóng…
Tờ khai xuất xứ hàng hoá được nộp cho Hải quan nước nhập khẩu ngay
khi hàng nhập. Tờ khai xuất xứ đơn được dùng cho việc nhập khẩu hàng dệt
may mà chỉ có nguồn gốc xuất xứ từ một quốc gia hoặc chỉ được gia công tại
một quốc gia khác nơi mà nó được sản xuất Thông tin cần có là ký hiệu nhận
dạng, mô tả hàng và số lượng, quốc gia xuất xứ và ngày nhập khẩu.
8
2.2.Quy định về nhãn hiệu thương mại
Các thương hiệu được sử dụng đều phải được đăng kí,bảo hộ hợp
pháp,nếu không sẽ bị sử phạt nặng.
này là bao nhiêu.
Thuế phối hợp: là mức thuế áp dụng cả hai phương thức tính theo thuế
suất trị giá và thuế suất đặc định. Mý cũng áp dụng thuế suất hạn ngạch để
hạn chế nhập khẩu một số loại mặt hàng. Các hàng hoá này khi nhập khẩu vào
Mỹ sẽ được cắt giảm thuế quan nhưng nếu hàng nhập khẩu vượt quá số lượng
quy định sẽ chịu mức thuế suất cao hơn. Một khi hàng hoá nhập khẩu vào Mỹ
được phân loại đúng thì thuế suất được xác định bằng cách tham chiếu áp với
9
các cột theo mô tả và phân loại của HTS như sau:
Cột 1: Hàng hoá xuất xứ từ các nước được hưởng quan hệ thương mại
bình thường (NTR) nhập khẩu vào Mỹ chịu mức thuế tham chiếu áp tại cột 1.
“Mức thuế suất” hay còn gọi là “Mức thuế suất NTR” được chia thành hai cột
phụ: “Phổ thông” và “Đặc biệt”. Thuế suất ở cột “Phổ thông” là thuế áp dụng
đối với hàng hoá sản xuất tại các nước đang được hưởng NTR nhập khẩu vào
Mỹ. Thuế suất ở cột “Đặc biệt” là thuế suất ưu đãi và đối sử đặc biệt mà Mỹ
dành cho các chương trình thương mại nói riêng. Ở đây chúng ta cần thiết
phải biết một số thông tin về một số Hiệp định liên quan tới vấn đề ưu đãi
thuế quan quan trọng nhất, bao gồm:
- Hiệp định mậu dịch tự do Bắc Mỹ (North American Free Trade
Agreement- NAFTA) theo đó các sản phẩm nhập khẩu từ Canada và Mexico
với các ký hiệu CA, MX sẽ được giảm thuế.
- Hiệp định CBERA (The Carebian Basin Economic Recovery Act) dành
cho các sản phẩm nhập khẩu từ các nước vùng vịnh Caribê với ký hiệu E hoặc
E * sẽ được miễn thuế và một số sản phẩm khác sẽ được giảm thuế.
- Hiệp định IFTA (US- Israel Free Trade Area) cho các sản phẩm của
Irael có ký hiệu IL sẽ được miễn thuế.
- Hiệp định ATPA (Andean Trade Preference Act) cho các sản phẩm
vùng Andean có ký hiệu J hoặc J * sẽ được giảm thuế.
Đạo luật về liên kết thương mại giữa Mỹ và các nước Caribe là một phần
của đạo luật thương mại và phát triển năm 2000 cho phép một số nước nhất
đây không phải giá trên hoá đơn mà phải cộng thêm nhiều chi phí khác như
tiền đóng gói, tiền hoa hồng cho trung gian nếu người mua phả trả, tiền máy
móc thiết bị cùa nhà nhập khẩu mua cấp cho nhà sản xuất để giúp nhà sản
xuất làm ra được món hàng cần đặt, tiền lệ phí bản quyền, tiền thưởng thêm
cho người bán nếu có. Ngoài ra, giá giao dịch để tính thuế không tính thuế
vận cguyển và phí bảo hiểm lô hàng.
Tuy nhiên, có nhiều trường hợp không xác định được giá giao dịch hoặc
hải quan Mỹ không chạp nhận giá giao dịch dể xác định thuế thì sẽ phải dùng
các nguyên tắc định giá khác. Có bốn nguyên tắc định giá được Hải quan Mỹ
áp dụng theo thứ tự ưu tiên:
- Định giá theo món hàng giống hệt hoặc tương tự.
- Tính giá suy ngược, nghĩa là lấy giá bán lẻ trên thị trường trừ đi các chi
phí sản xuất ra món hàng để suy ra giá gắn với giá nhập khẩu.
- Xác định giá thành, nghĩa là tính toán các chi phí sản xuất ra món hàng
để suy ra giá gắn với giá nhập khẩu.
- Biện pháp tổng hợp nhiều yếu tố để suy ra giá nhập. Biện pháp này rất
hiếm khi sử dụng đến.
Những quy định về hạn ngạch và visa
a. Những quy định về hạn ngạch nhập khẩu.
Nói chung Mỹ không có giới hạn về hạn ngạch trừ khi trong hiệp định
hàng dệt may có quy định về hạn ngạch. Tuy nhiên Luật thương mại Mỹ cho
phép Chính phủ đơn phương áp đặt các hạn ngạch mang tính hành chính đối
với các loại hàng dệt may.
Có hai loại hạn ngạch: hạn ngạch tuyệt đối và hạn ngạch theo thuế suất.
11
Hạn ngạch tuyệt đối: là hạn ngạch hạn chế về số lượng. Vì vậy trong
suốt thời gian áp dụng hạn ngạch, chỉ một số lượng hàng hoá đã được ấn định
trong hạn ngạch mới được phép nhập khẩu. Các hiệp định về hàng dệt may có
quy định gia tăng hạn gạch theo từng thời điểm.
Hạn ngạch tính theo thuế suất: áp dụng cho một số lượng hàng hoá nhập
Đặc biệt là trong tình trạng cạnh tranh gay gắt giữa các doanh nghiệp xuất
khẩu mặt hàng may mặc ở Việt Nam nh hiện nay.
12
Cụng ty ó s dng nhiu ngun thụng tin khỏc nhau, bng cỏc hỡnh thc
v bin phỏp khỏc nhau trờn khp cỏc Chõu Lc. Riờng th trng xut khu
hng may mc hin ó cú ti 10 th trng v trong tng lai con s ú chc
chn s cũn tng thờm. Xem s liu trong bng sau:
Bảng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may
của công ty theo thị trờng
Thị trờng 1997 1998 1999 2000 2001
SNG 1.848.300 2.854.427 2.762.430 3.784.694 3.935.356
Đức 200.109 215.048 347.150 330.052 456.958
Pháp 105.256 120.235 199.672 209.782 254.436
Nhật Bản 180.150 265.016 106.010 121.383
Ba Lan 313.993 17.665 61.432 72.910 79.342
Hungary 150.303 121.038 47.150 85.178 73.749
Hồng Kông 87.476 295.334 297.374 303.134
Khác 9.039 11.961 2.194 2.430 286.643
Tổng cộng
2.627.000 2.862.000 2.976.000 3.850.000 4.400.000
Nguồn: Phòng Tài chính kế toán - Công ty TEXTACO
Qua nhng s liu trờn ta cú th thy th trng n nh nht ca cụng ty
l th trng SNG. Th hiu tiờu dựng ca th trng ny khụng khú tớnh nh
th trng EU. Cỏc tiờu chun v mu mó, kớch thc, cht lng, mu sc, cỏc
tiờu chun v sinh an ton, khụng b ũi hi kht khe nh th trng EU. Mt
khỏc ngi dõn Nga v cỏc nc SNG vn cha cú nhu cu tiờu dựng cỏc sn
phm cao cp m a phn a s dng hng dt may mang tớnh cht bỡnh dõn
hn, giỏ c hp vi tỳi tin ca h hn. õy cng l mt th trng quen thuc
i vi cỏc cỏn b kinh doanh ca cụng ty do h ó cú nhiu nm hot ng
trờn th trng ny v ó xõy dng c nhng mi quan h bn hng bn vng,
hàng may mặc của công ty đợc thực hiện thông qua hình thức này. Xuất khẩu
trực tiếp là ngời xuất khẩu thông qua việc mua đứt bán đoạn, mua của ngời
bán trong nớc rồi bán cho ngời mua nớc ngoài. Thông thờng, khi giao dịch
kinh doanh với các bạn hàng nớc ngoài, công ty sẽ phát hiện ra những nhu cầu
của họ trong các mặt hàng dệt may với số lợng, kiểu dáng, mẫu mã, màu
sắc, Sau đó, công ty sẽ đàm phán với họ để ký kết hợp đồng. Song song với
việc chuẩn bị hợp đồng, công ty lại phải tiến hành cùng lúc hoạt động thu mua
hàng hoá đó trong nớc, thậm chí phải đặt hàng theo đúng yêu cầu của khách
hàng. Việc thoả thuận và xác định giá cả mua vào và bán ra phải đảm bảo cho
công ty có thể thu đợc một mức lợi nhuận nhất định. Mức lợi nhuận đó thờng
là từ 3 đến 5% trị giá hợp đồng xuất khẩu
2.2.Xut khu u thỏc
Công ty TEXTACO thờng ký kết các hợp đồng xuất khẩu uỷ thác cho các
đơn vị sản xuất hàng dệt may nh công ty dệt kim Hà Nội, công ty may 20
(quân đội), Nhng phơng thức này không chiếm tỷ trọng cao trong hoạt động
kinh doanh xuất khẩu hàng may mặc của công ty TEXTACO. Mặt hàng xuất
khẩu theo phơng thức này cũng không đa dạng phong phú nh phơng thức xuất
khẩu trực tiếp. Chủ yếu là khăn bông, áo dệt kim đông xuân.
2.3.Xut khu thụng qua hỡnh thc i hng
đây là một phơng thức kinh doanh quốc tế mới đối với các doanh nghiệp
Việt Nam nói chung cũng nh đối với công ty TEXTACO nói riêng. Phơng thức
này giúp công ty trao đổi hàng may mặc lấy những mặt hàng nhập khẩu khác
và thanh toán bù trừ cho nhau. Đây là phơng thức xuất khẩu đem lại hiệu quả
cao do tiết kiệm đợc ngoại tệ cho hai công ty. Tuy nhiên để xuất khẩu đợc theo
phơng thức này đòi hỏi hai bên đối tác phải có hàng hoá tơng ứng để trao đổi.
Trong những năm tới, do chính sách của Nhà nớc khuyến khích trao đổi hàng
hoá với Lào, công ty có thể cố gắng khai thác thị trờng này để đổi lấy xe gắn
máy hai bánh dạng CKD đem lại lợi nhuận cao
14
2.4.Gia cụng xut khu
mẫu mã của nớc ngoài đặt mà ít có hàng dệt may đợc thiết kế và sản xuất
theo kiểu mẫu của Việt Nam. Kỹ thuật dệt may cũng cha cao nên sản phẩm
cha đẹp. Điều này làm giảm giá thành sản phẩm xuống rất nhiều.
5.Cỏc nguyờn nhõn dn n nhng mt hn ch trờn
Khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực và trên thế giới làm ảnh hởng
không ít tới đầu t của các nớc trong khu vực trong đó có Việt Nam, do đó ảnh
hởng đến nguồn vốn kinh doanh của công ty.
15
- Công nghệ và kỹ thuật sản xuất của ngành may mặc Việt Nam còn thấp
nên chất lợng hàng may mặc cha cao.
- Ngành công nghiệp may mặc Việt Nam tuy đã có từ lâu đời song còn
lạc hậu, mới chỉ đợc phát triển trong mấy năm gần đây, ảnh hởng đến các
hoạt động tạo mẫu thời trang và sự phát triển của hàng may mặc trong nớc.
- Công ty còn có nhiều khó khăn nên cha có điều kiện đầu t cho cơ sở
hạ tầng cũng nh công nghệ kỹ thuật để sản xuất.
- Hạn chế về trình độ của cán bộ thực hiện các hoạt động kinh doanh
xuất khẩu gây ảnh hởng không nhỏ đến kết quả hoạt động kinh doanh của
công ty.
16
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU CỦA CÔNG TY
TẠI MĨ NHẬT VÀ MỘT SỐ NƯỚC EU
Thực trạng xuất khẩu hàng dệt may ở VN tại thi trường Mỹ nhật và
một số nước Eu
1.Thị trường Mỹ
Mỹ là thị trường nhập khẩu hàng may mặc lớn nhất thế giới, tương đối
dễ tính và nhập khẩu đa dạng.
Năm 2005, nhập khẩu hàng may mặc dệt kim vào thị trường Mỹ đạt 33,
291 tỷ USD, tăng 5,41% so với năm 2004. Trung Quốc là nước đứng đầu về
xuất khẩu hàng may mặc dệt kim sang thị trường Mỹ với giá trị đạt 6, 576 tỷ
Mặc dù mức tăng tiêu thụ ít nhiều chịu ảnh hưởng bởi xu hướng suy giảm
thu nhập, nhưng giá sản phẩm dệt may cũng có xu hướng giảm do nhiều nhà
sản xuất Mỹ đã chuyển cở sở sản xuất ra nước ngoài, để giảm chi phí cũng như
do tỷ trọng hàng may mặc giá rẻ nhập khẩu từ các nước có chi phí sản xuất
thấp gia tăng. Các sản phẩm mang nhãn mác riêng của nhà sản xuất cũng như
các tập đoàn bán lẻ nổi tiếng vẫn là lựa chọn ưu tiên của người tiêu dùng Mỹ.
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng tới mức tiêu dùng hàng may mặc tại Mỹ như:
Sự tăng trưởng kinh tế trong nước, hệ thống bán lẻ, cơ cấu dân số, khuynh
hướng thời trang, sự thay đổi thói quen làm việc…
Hiện nay, thanh thiếu niên đang trở thành lực lượng tiêu thụ quan trọng
ở Mỹ do họ có thu nhập cao hơn và tỷ lệ dành cho mua sắm rất lớn. Họ chú
18
trọng tới thời trang, nhãn hiệu hàng hoá, đây là một tín hiệu tốt cho các công
ty tiếp thị thương hiệu
Người tiêu dùng Mỹ hiện nay có khuynh hướng mặc quần áo theo phong
cách tự do như: áo thể thao, áo thun, sơ mi ngắn tay họ không thích loại quần
áo cổ điển.
Sự phân hoá nhu cầu thành những phân đoạn thị trường đặc trưng là tín
hiệu cho phép các nhà sản xuất tập trung phát huy ưu thế trong từng phân
đoạn thị trường mục tiêu.
Một xu hướng đang làm thay đổi nhu cầu về hàng may mặc là người tiêu
dùng có ít thời gian đến cửa hàng hơn trước, vì vậy việc mua sắm từ nhà qua
ti vi, video, catalogue, đặc biệt là qua internet .ngày càng gia tăng.
2.Thị trường Nhật bản
Khoảng một thập kỷ nay, ngành may mặc Nhật Bản luôn rơi vào tình
trạng nhập siêu, bởi nớc này cũng nằm trong sự chuyển dịch sản xuất lớn từ
các nớc có ngành công nghiệp dệt tiên tiến sang các nớc Châu Á đang phát
triển để tận dụng lợi thế nhân công rẻ, dồi dào, sau đó lại nhập khẩu sản phẩm
giá thành hạ của mình trở về nớc làm cho hàng loạt các cơ sở sản xuất vừa và
nhỏ phải đóng cửa vì không thể cạnh tranh, do đó phải tăng nhập khẩu để đáp
yêu cầu cao về chất luợng sản phẩm. Không những thế, đây cũng là khu vực
có kỹ thuật sản xuất vào loại tiên tiến nhất hiện nay. Tuy nhiên, do giá nhân
công ở khu vực này ngày càng cao và các nguyên nhân khác khiến cho giá
thành sản xuất trong nội bộ EU lên cao nên các nớc thành viên EU tăng cờng
nhập khẩu dới hình thức thuê gia công tại nớc ngoài để thoả mãn nhu cầu
trong nớc.
20
Chính vì những đặc điểm đó của thị trờng EU mà đã lôi cuốn các doanh
nghiệp sản xuất hàng may mặc Việt Nam cố gắng tìm chỗ đứng trong thị
trường này.
Trớc năm 1992, chúng ta đã xuất khẩu một số chủng loại mặt hàng vào
EU (khi đó là Cộng đồng Châu Âu - EC) mặc dù mới chỉ là quan hệ mậu dịch
song phuơng và kim ngạch rất nhỏ bé. Đến năm 1992, việc ký Hiệp định về
hàng may mặc giữa Chính phủ Việt Nam và EU đã mở ra một giai đoạn phát
triển mới trong quan hệ kinh tế nói chung và của ngành may mặc nói riêng.
Đặc biệt, Hiệp định dành cho Việt Nam 13 mặt hàng để gia công theo phơng
thức gia công thuần tuý (Trafic de Perfectionnement Passif - TPP) có nghĩa là
nguyên liệu đợc gửi từ các nớc thành viên EU để gia công tại Việt Nam rồi
nhập lại sản phẩm vào EU. Ngay từ năm đầu tiên thực hiện Hiệp định, dù gặp
phải không ít khó khăn nhng 93 doanh nghiệp của ta đã xuất khẩu đợc 55
chủng loại mặt hàng với khối lợng tổng cộng 13.000 tấn. Đến năm 1996,
1997, số doanh nghiệp đợc phân bổ hạn ngạch và số doanh nghiệp trực tiếp
tham gia xuất khẩu đã tăng lên đến 380 và 260 đơn vị, đa tổng lợng hạn
ngạch đã thực hiện theo Hiệp định lên đến 325 và 395 triệu đơn vị. Đến năm
1997 tình hình thực hiện hạn ngạch may mặc với EU đạt 395 triệu USD
(6)
.
Và gần đây, việc ký thêm Hiệp định về hàng may mặc cho năm 1999-
2001 giữa Việt Nam và EU đã mở ra cho chúng ta nhiều cơ hội thâm nhập sâu
hơn nữa vào thị trờng này. Vấn đề còn lại là toàn ngành may mặc Việt Nam
các khu công nghiệp lớn của Hà Nội và Hưng Yên, giá gia công giảm, chi phí
đầu vào như: điện, xăng dầu tăng dẫn đến thu nhập không hấp dẫn, trong
22
quá trình cổ phần hoá lao động lành nghề có nhiều biến động. Đội ngũ cán bộ
quản lý có trình độ Cao đẳng, Đại học trở lên hơn 200 người cơ bản đáp ứng
các yêu cầu hiện tại nhưng quản lý bằng kinh nghiệm là chủ yếu. Các biến
động của tình hình kinh tế thế giới, chính sách thượng tầng của Nhà nước về
hạn ngạch xuất khẩu, hoàn thuế giá trị gia tăng, thủ tục hải quan, vay ưu đãi
đầu tư hàng hoá nhập lậu ảnh hưởng rất lớn hiệu quả sản xuất kinh doanh
của Doanh nghiệp.
2.Về nguồn vốn
Cơ cấu vốn của công ty duy trì với tỉ lệ không chênh lệch đáng kể giữa
các năm. Nguồn huy động nhiều nhất là nguồn vốn vay ngắn hạn. Điều này
cho thấy, sự chung chuyển vốn trong công ty rất linh hoạt, không có vốn bị ứ
đọng nhiều. Cơ cấu vốn được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 1: Cơ cấu vốn của công ty
Số vốn: tỉ VND
Tỉ lệ: %
Năm 2004 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007
Số vốn Tỉ lệ Số vốn Tỉ lệ Số vốn Tỉ lệ Số vốn Tỉ lệ
Nợ ngắn hạn 116,263 57,17 145,319 59,04 122,618 53,59 125,659 53,95
Nợ dài hạn 28,405 13,96 35,874 14,57 34,249 14,96 33,896 14,55
Vốn chủ sở
hữu
54,011 26,55 61,5998 25,02 68,886 30,10 70,125 30,11
Nguồn kinh phí
và các quỹ
khác
4,679 2,32 3,3316 1,37 3,041 1,35 3,203 1,39
Tổng nguồn
may sơmi nam, veston, quần âu đưa năng suất tăng gấp đôi so với trước đây.
24
Do đó, Công ty đã chuyển sản xuất từ 2 ca sang một ca/ ngày, không những
giảm đựơc chi phí đầu tư (khoảng 30 %) mà còn tăng năng suất từ 8 đến 10%.
May 10 đang thực hiện nhiều dự án đầu tư trị giá trên 200 tỷ đồng để trang bị
đồng bộ máy móc thiết bị công nghệ cao và mở rộng năng lực sản xuất.Thiết
bị được sử dụng ở may 10 hầu hết là những công nghệ tiên tiến được nhập
khẩu từ năm 2004 từ Nhật Bản, Mỹ và một số từ Trung Quốc. Công ty có đầy
đủ các chủng loại thiết bị hiện đại đủ phục vụ cho quá trình sản xuất đáp ứng
được nhu cầu đa dạng của khách hàng.
Bảng 2: Máy móc thiết bị của công ty bao gồm:
STT Tên máy Đơn vị Số lượng
1 Máy 1 kim Chiếc 2800
2 Máy 2 kim Chiếc 232
3 Máy 4 kim Chiếc 50
4 Máy bổ túi Con 8
5 Máy may nhãn Con 130
6 Máy ép mếch Chiếc 5
7 Máy ép thân Chiếc 9
8 Máy cắt tay Chiếc 90
9 Máy cắt vải Chiếc 60
10 Máy kiểm tra vải Chiếc 10
11 Nồi hơn Chiếc 20
Nguồn: phòng kĩ thuật –cơ địa, công ty cổ phần may 10
4.Tình hình hoạt động kinh doanh chủ yếu của công ty:
Trong nhiều năm liền, may 10 luôn là doanh nghiệp có tốc độ tăng
trưởng và hiệu quả kinh doanh ở mức cao so với các doanh nghiệp khác trong
nước. Từ năm 1992 đến nay, công ty luôn đạt tốc độ tăng trưởng 20-
30%/năm. Số liệu về một số chỉ tiêu của công ty được trình bày dưới bảng
25