1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƢỜNG HÀ VĂN ĐỊNH
BƢỚC ĐẦU NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA NƢỚC
BIỂN DÂNG ĐẾN ĐẤT CANH TÁC LÖA
HUYỆN GÕ CÔNG ĐÔNG – TỈNH TIỀN GIANG LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC MÔI TRƢỜNG Hà Nội, 2012
2
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƢỜNG
MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 2
3. Mục tiêu nghiên cứu 2
4. Ý nghĩa của đề tài 2
5. Kết cấu của luận văn 3
CHƢƠNG I 4
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 4
1.1. BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU, NƢỚC BIỂN DÂNG VÀ CÁC NGHIÊN CỨU
TRÊN THẾ GIỚI 4
1.1.1. Khái niệm về biến đổi khí hậu 4
1.1.2. Diễn biến mực nƣớc biển dâng toàn cầu trong quá khứ 4
1.1.3. Tác động của biến đổi khí hậu đến sản xuất lƣơng thực 6
1.1.4. Ảnh hƣởng của nƣớc biển dâng đến đất canh tác nông nghiệp, đất
canh tác lúa 7
1.1.5. Ảnh hƣởng của BĐKH, NBD đến năng suất, sản lƣợng lúa 8
1.1.6. Các giải pháp thích với BĐKH, nƣớc biển dâng trong sản xuất lúa 9
1.2. NGHIÊN CỨU TRONG NƢỚC 10
1.2.1. Tác động của biến đổi khí hậu đến sản xuất nông nghiệp 10
4
1.2.2. Đánh giá đất canh tác lúa vùng ĐBSCL 11
1.2.3. Diễn biến mực nƣớc biển dâng tại Việt Nam trong quá khứ 11
1.2.4. Các dự báo tác động của nƣớc biển dâng 13
1.2.5. Tác động của xâm nhập mặn, phèn 15
1.2.6. Tác động hạn hán, lũ lụt 16
1.2.7. Nghiên cứu tác động của nƣớc biển dâng, xâm mặn đến sản xuất
lúa 17
1.2.8. Nghiên cứu về giải pháp giảm thiểu tác động của BĐKH, cũng
nhƣ thích ứng với nƣớc biển dâng 18
3.3.1. Giải pháp công trình 76
3.3.2. Giải pháp phi công trình 77
3.3.3. Giải pháp tuyên truyền, vận động, giáo dục và tăng cƣờng năng
lực ứng phó với nƣớc biển dâng 80
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ………………………………………… …82
1. KẾT LUẬN 82
2. KIẾN NGHỊ 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO 84
TIẾNG VIỆT 84
TIẾNG ANH 87
PHỤ LỤC…………………………………… ……… ……………… … ….88
6
DANH MỤC VIẾT TẮT
BĐKH
Biến đổi khí hậu
ĐBSCL
Đồng bằng sông Cửu Long
UBND
Ủy ban nhân dân
HST
Hệ sinh thái
NBD
Nƣớc biển dâng
NN&PTNT
Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn
TN&MT
Tài nguyên & Môi trƣờng
UNCCD NAP
Văn phòng Công ƣớc chống sa mạc hóa
7
DANH MỤC BẢNG
STT
Nội dung bảng
Số trang
Bảng 1.1
Tốc độ thay đổi mực nƣớc biển (mm/năm) tại một số trạm của
Việt Nam trong giai đoạn 1993 – 2008
Trang 13
Bảng 3.1
Hiện trạng sử dụng đất huyện Gò Công Đông năm 2010
Trang 32
Bảng 3.2
Kết quả điều tra biểu hiện của BĐKH huyện Gò Công Đông
Trang 35
Bảng 3.3
Kết quả điều tra, phỏng vấn nguồn tiếp cận thông
tin về biến đổi khí hậu, nƣớc biển dâng
Trang 36
Bảng 3.4
Kết quả phỏng vấn về tình hình xâm mặn tại khu vực sản xuất lúa
Trang 37
Bảng 3.5
Tình hình xâm mặn huyện Gò Công Đông
Trang 37
Bảng 3.6
Diễn biến sản xuất lúa huyện Gò Công Đông giai đoạn 2005-
2011
nghiệp và Phát triển Nông thôn
Trang 69
8 Bảng 3.15
Diện tích đất canh tác lúa bị mất do mặn hóa ứng
với các kịch bản nƣớc biển dâng
Trang 71
Bảng 3.16
Cân đối diện tích đất canh tác lúa ứng với các kịch bản NBD
Trang 72
Bảng 3.17
Chuyển đổi trong nội bộ đất canh tác lúa
Trang 74
9
DANH MỤC CÁC HÌNH
STT
Nội dung hình
Số trang
Hình 1.1
So sánh số liệu mực nƣớc biển giữa các trạm hải văn với vệ tinh
Trang 12
Hình 2.1
Sơ đồ nghiên cứu về thích ứng với BĐKH, NBD
Trang 25
Trang 54
Hình 3.9
Sơ đồ xâm mặn Đồng bằng Sông Cửu Long - Kịch bản nƣớc
biển dâng 17 cm
Trang 55
Hình 3.10
Sơ đồ xâm mặn Đồng bằng Sông Cửu Long - Kịch bản nƣớc
biển dâng 75 cm
Trang 56
Hình 3.11
Sơ đồ ngập lụt và xâm mặn Gò Công Đông - Kịch bản nƣớc
biển dâng 12 cm
Trang 65
Hình 3.12
Sơ đồ ngập lụt và xâm mặn Gò Công Đông - Kịch bản nƣớc biển
dâng 17 cm
Trang 66
STT
Nội dung hình
Số trang
Hình 3.13
Sơ đồ ngập lụt và xâm mặn Gò Công Đông - Kịch bản nƣớc biển
dâng 75 cm
Trang 67
Hình 3.14
Sơ đồ ứng phó, giảm thiểu và thích ứng với nƣớc biển dâng
BĐKH gây nên nhƣ: bão, lũ lụt, hạn hán, xâm nhập mặn.
Theo dự báo của Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng thì trong điều kiện sóng lớn
cộng với triều cƣờng có thể gây vỡ đê biển và ngập lụt nghiêm trọng. Ngay khi
không có nƣớc biển dâng, nếu đê biển bị vỡ trong điều kiện bão, sóng lớn kết hợp
triều cƣờng, cũng sẽ có khoảng 33,55% tổng diện tích đất của huyện Gò Công Đông
bị ngập lụt. Nếu mực nƣớc biển dâng 1m, tổng diện tích ngập trong điều kiện tƣơng
ứng là 82,23% đất đai, hoa màu, trong đó diện tích sản xuất lúa sẽ bị ảnh hƣởng
nặng nề nhất.
12
Xuất phát từ những lý do trên thì việc tiến hành việc nghiên cứu đề tài
“Bước đầu nghiên cứu tác động của nước biển dâng đến đất canh tác lúa huyện
Gò Công Đông – tỉnh Tiền Giang” là cấp thiết. Việc tiến hành nghiên cứu đề tài
nhằm dự báo đƣợc mức độ ảnh hƣởng của nƣớc biển dâng đến vùng sản xuất lúa
của huyện Gò Công Đông từ đó đề xuất các giải pháp giảm thiểu và thích ứng, nâng
cao hiệu quả sử dụng đất lúa.
2. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
2.1. Đối tƣợng nghiên cứu
- Ảnh hƣởng của nƣớc biển dâng, xâm mặn.
- Đất canh tác lúa: đất chuyên trồng lúa nƣớc (3 vụ, 2 vụ), đất trồng lúa nƣớc
còn lại (1 vụ).
2.2. Phạm vi nghiên cứu
- Huyện Gò Công Đông – tỉnh Tiền Giang.
3. Mục tiêu nghiên cứu
- Dự báo tác động của nƣớc biển dâng đến đất canh tác lúa huyện Gò Công
Đông.
- Đề xuất các giải pháp giảm thiểu, thích ứng và nâng cao hiệu quả sử dụng đất
lúa.
4. Ý nghĩa của đề tài
4.1.Ý nghĩa khoa học
THẾ GIỚI
1.1.1. Khái niệm về biến đổi khí hậu
Biến đổi khí hậu: theo Từ điển Bách khoa các khoa học khí quyển và đại
dƣơng của Nhà xuất bản Mc Graw - Hill là: “Sự nhiễu động dài hạn trong nhiệt độ,
mƣa, gió và mọi khía cạnh khác của khí hậu trái đất. Những quá trình bên ngoài nhƣ
biến thiên của bức xạ mặt trời, biến thiên của các tham số quỹ đạo trái đất (độ lệch
tâm, tuế sai và độ nghiêng của trục), chuyển động của thạch quyển và hoạt động của
núi lửa là những nhân tố trong việc làm thay đổi khí hậu”. Biến thiên bên trong của
hệ thống khí hậu cũng tạo ra những dao động có tính biến động và biên độ đáng kể
và tạo ra sự biến đổi thông qua các quá trình hồi tiếp quan hệ với các thành phần
của hệ thống khí hậu (Kutzbach 1977).
1.1.2. Diễn biến mực nƣớc biển dâng toàn cầu trong quá khứ
Mực nƣớc biển toàn cầu đã dần tăng trong thế kỷ 20 và tỷ lệ tăng ngày
một lớn hơn. Có hai nguyên nhân chính gây ra mực nƣớc biển tăng là sự giãn nở
vì nhiệt của đại dƣơng (nƣớc sẽ giãn ra và chiếm nhiều không gian hơn khi nó
ấm lên) và sự tan chảy băng trên lục địa. Mực nƣớc biển toàn cầu đã tăng khoảng
120m trong suốt hàng thiên niên kỉ tính từ thời kỳ kỉ băng hà (khoảng 21.000
năm trƣớc đây), trở nên ổn định vào khoảng giữa thời gian 3.000 và 2.000 năm
trƣớc đây và không có sự thay đổi đáng kể từ đó tới tận cuối thế kỷ 19 (Josef
Schmidhuber and Fracesco N.Tubiello, 2006).
Theo báo cáo đánh giá lần thứ 4 của Ban Liên Chính phủ về Biến đổi khí hậu
(IPCC, 2007): “sự nóng lên của hệ thống khí hậu đã rõ ràng đƣợc minh chứng thông
qua số liệu quan trắc ghi nhận sự tăng lên của nhiệt độ không khí và nhiệt độ nƣớc
15
biển trung bình toàn cầu, sự tan chảy nhanh của lớp tuyết phủ và băng, làm tăng
mực nƣớc biển trung bình toàn cầu” (IPCC, 2007).
Mực nƣớc biển tăng phù hợp với xu thế nóng lên do có sự đóng góp của các
thành phần chứa nƣớc trên toàn cầu đƣợc ƣớc tính gồm: (a) hiện tƣợng nở vì nhiệt
của đại dƣơng; (b) tan băng ở Greenland và Nam Cực (thêm vào từ đóng góp của
xuân giảm tới 15%.
Mới đây, tại Hội nghị quốc tế về biến đổi khí hậu họp ở Bruxen (Bỉ, 2009),
các báo cáo khoa học cho biết, ở Bắc cực, khối băng dày trên 3 km đang mỏng dần và
đã mỏng đi 66cm. Ở Nam cực, băng cũng đang tan với tốc độ chậm hơn và những núi
băng ở Tây Nam cực đổ sụp. Những lớp băng vĩnh cửu ở Greenland tan chảy. Ở
Alaska (Bắc Mỹ), trong những năm gần đây nhiệt độ đã tăng 1,5
o
C so với trung bình
nhiều năm, làm tan băng và lớp băng vĩnh cửu đã giảm 40%, những lớp băng hằng
năm dày khoảng 1,2m đã giảm 4 lần, chỉ còn 0,3m. Báo cáo cũng cho biết, các núi
băng cao nguyên Thanh Hải (Trung Quốc) ở độ cao 5000m mỗi năm giảm trung
bình 7% khối lƣợng và 50 – 60m độ cao, uy hiếp nguồn nƣớc (International
Conference in Belgium, 2009).
1.1.3. Tác động của biến đổi khí hậu đến sản xuất lƣơng thực
Báo cáo đánh giá thứ 4 của IPCC (2007) đã cho thấy một số tác động chính
của BĐKH lên cây lƣơng thực. Ở những vùng ôn đới, nhiệt độ trung bình tăng từ 1
đến 3
0
C cùng với lƣợng CO
2
và lƣợng mƣa tăng có đƣợc ích lợi nhỏ từ sản lƣợng
lúa mì, ngô, lúa nƣớc (Easterling et al 2007). Ở vùng nhiệt đới, nhiệt độ trung bình
tăng lên ảnh hƣởng xấu tới năng suất của phần lớn cây ngũ cốc (1
0
C đối với lúa mì,
ngô, 2
0
C cho lúa nƣớc). Nếu nhiệt độ tăng trên 3
0
C thì sẽ gây ra tình trạng căng
Ấn Độ diện tích đất canh tác chiếm 80% và 60%. Nhƣng hiện nay nền nông nghiệp
toàn cầu đang phải đối mặt với nhiều thách thức trong đó có tác động của BĐKH,
mà rõ nét nhất là các quốc gia ven biển phụ thuộc vào nông nghiệp (IRRI, 2010).
Tác động của BĐKH ở các quốc gia châu Á vùng nhiệt đới có thể xảy ra ở
một vài nơi hoặc toàn khu vực. Nicholls ƣớc tính rằng cứ 1m nƣớc biển tăng lên có
thể làm Băngladesh, Ấn Độ, Indonesia và Maylaysia có thể mất lần lƣợt là 30.000,
6.000, 34.000 và 7.000 km
2
diện tích đất. Còn ở Việt Nam, khoảng 5.000 km
2
18
ĐBSH và 15.000 - 20.000 km
2
ĐBSCL bị ngập. Các vùng đất canh tác bị mất ở hầu
hết các nƣớc chính là những vùng đất nông nghiệp, những vựa lúa lớn của các quốc
gia đó (Nicholls, 2003).
Những châu thổ rộng lớn khác ở các quốc gia nhiệt đới nhƣ châu thổ
Irrawaddy ở Myanmar, châu thổ sông MeKông và sông Hồng ở Việt Nam cũng nhƣ
những vùng châu thổ nhỏ hơn và nằm thấp hơn mực nƣớc biển ở Thái Lan,
Campuchia, Malaysia, Indonesia và Phillipin sẽ bị ảnh hƣởng tƣơng tự Thông
thƣờng khi nhiệt độ tăng, độ ẩm của đất giảm, đất cằn có độ ẩm thấp hơn 3 lần đất
rừng (UNCCD NAP, 2002). Từ giảm diện tích đất đến suy giảm chất lƣợng đất rồi
sẽ dẫn đến giảm năng suất sản lƣợng.
1.1.5. Ảnh hƣởng của BĐKH, NBD đến năng suất, sản lƣợng lúa
Theo kết quả nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Lúa quốc tế (IRRI,2010) thì:
- Hạn hán là sự cố phổ biến nhất, nó tác động bất lợi 23 triệu mẫu lúa SX nhờ
nƣớc trời của Nam và Đông Nam châu Á. Trong vài tiểu bang của Ấn Độ, hạn hán
có thể gây ra thiệt hại năng suất tới 40 % tƣơng đƣơng khoảng 800 triệu đô la Mỹ;
đổi gen mới với các giống cây mới nếu các chƣơng trình quốc gia có khả năng hỗ
trợ (Borton and Lim, 2005).
FAO và các cơ quan nghiên cứu khác (2007) đã thực hiện một chƣơng trình
lai tạo giống mới cho toàn cầu (Global Initiative on Plant Breeding Capcity Build –
GIPB), và đã đƣa ra tại cuộc họp của các Chính phủ bàn về Hiệp định về các nguồn
gen cây trồng để cung cấp cho nông nghiệp ở Madrid. Công việc của FAO trong
việc phổ biến cây trồng bao gồm cả các công cụ trợ giúp quyết định nhƣ từ cây
trồng sinh thái đến chọn lựa cây thay thế cho các hệ sinh thái cụ thể. Lựa chọn cây
thích ứng không thể tách rời các biện pháp quản lý với các hệ sinh thái nông nghiệp.
Ví dụ cây lúa vừa bị ảnh hƣởng bởi khí hậu nhƣng cũng ảnh hƣởng lên khí hậu,
BĐKH có ảnh hƣởng rất lớn đến năng suất lúa.
Viện Nghiên cứu Lúa quốc tế (IRRI,2007) đang phát triển những giống lúa
mà có thể chịu đựng đƣợc môi trƣờng có tác động bất lợi (stress) – giống chịu hạn
hán (Các giống đó là: Sahbahagi dhan ở Ấn Độ, giống “5411” ở Philippines và
20
Sookha dhan ở Nepal), giống chịu ngập sâu (những giống chống chịu ngập đã đƣợc
phóng thích và hiện nay đƣợc trồng nhƣ Swarna Sub1 ở Ấn Độ, Samba Mashuri ở
Bangladesh và IR 64 –Sub1 ở Philippines), giống chịu nóng (Điều này được tìm
thấy ở O.glaberrima, một loài lúa hoang, nó có nguồn gen hữu dụng này, nó có đặc
tính là trổ vào sáng sớm và bốc thoát hơi nước cao khi nước dư, cả hai đặc tính này
là những tính trạng thuận lợi cho việc tránh nhiệt độ nóng) , giống chịu lạnh
(Chương trình hợp tác quản lý và phát triển nông thôn giữa IRRI với Hàn quốc là
bước đệm để khám phá dòng lúa lai chống chịu lạnh- IR66160-121-4-4-2- mà thừa
hưởng gen chống chịu lạnh từ giống Jimbrug thuộc loài japonica nhiệt đới của
Indonesia và giống chống chịu lạnh của Bắc Trung Quốc là Shen-Nung 89-366)
hoặc đất có vấn đề nhƣ có nhiều độc chất sắt, mặn, để giúp nông dân hạn chế sự mất
mát và duy trì mức độ thu hoạch ngay cả dƣới điều kiện không thuận hợp.
1.2. NGHIÊN CỨU TRONG NƢỚC
1.2.1. Tác động của biến đổi khí hậu đến sản xuất nông nghiệp
tiến hành triển khai ở 14 huyện điểm thuộc 7 vùng KTNN của cả nƣớc. Riêng vùng
ĐBSCL, dự án đã tiến hành điều tra khảo sát ở 4 huyện: Đầm Dơi (Cà Mau), Phụng
Hiệp (Hậu Giang và Châu Thành - Long An) để một mặt phục vụ trực tiếp công tác
chuyển đổi cơ cấu cây trồng.
1.2.3. Diễn biến mực nƣớc biển dâng tại Việt Nam trong quá khứ
Biến đổi khí hậu ở Việt Nam là một bộ phận của biến đổi khí hậu trên thế
giới. Đặc điểm và mức độ biến đổi của các yếu tố khí hậu ở Việt Nam vừa phản ánh
xu thế nóng lên trên phạm vi toàn cầu, vừa thể hiện tính bất ổn định trong cơ chế
khí hậu nhiệt đới gió mùa của một lãnh thổ nằm ở rìa đông nam đại lục châu Á với
bờ biển dài trên 3200 km (Bộ Tài Nuyên và Môi trƣờng, 2008).
Trƣớc hết, số liệu quan trắc do Bộ Tài nguyên Môi trƣờng quản lý hiện nay
đƣợc sử dụng và so sánh với số liệu quan trắc bằng vệ tinh. Hình 1.1 cho thấy xu
22
thế của 5 trạm đặc trƣng dọc bờ biển Việt Nam. Vì các mốc cao độ khác nhau nên
hình này chỉ dùng để đánh giá biên độ và pha của dao động. Có thể nói xu thế dao
động mực nƣớc giữa các năm đo đạc từ các trạm mực nƣớc và vệ tinh khá phù hợp
về biên độ và pha trong giai đoạn 1993 – 2006 (Bộ Tài Nguyên và Môi trƣờng,
2008).
Trên cơ sở số liệu vệ tinh nói trên (không dùng trạm Hòn Ngƣ), tốc độ tăng
trung bình của mực nƣớc biển dọc bờ biển Việt Nam trong giai đoạn 1993-2008 là
khoảng 3,0 mm/năm và có mức độ tăng gần gấp đôi so với mức tăng tính theo số
liệu đo đạc mực nƣớc tại trạm (Bảng 1.1).
Chuẩn sai mực nước biển tại trạm Hòn Dấu và vệ tinh
TOPEX/JASON-1
-250
-200
-150
-100
-50
0
50
100
1975 1980 1985 1990 1995 2000 2005 2010
Thời gian (năm )
Chuẩn sai mực nước biển (mm)
Sơn Trà: 2.15mm/năm Topex/jason: 1.34 mm/năm
Chuẩn sai mực nước biển tại trạm Quy Nhơn và vệ tinh
TOPEX/JASON-1
-100
-50
0
50
100
1970 1975 1980 1985 1990 1995 2000 2005 2010
Thời gian (năm )
Chuẩn sai mực nước biển (mm)
Quy Nhơn: -1.44 mm/năm Topex/jason: 3.84 mm/nămChuẩn sai mực nước biển tại trạm Vũng Tàu và vệ tinh
TOPEX/JASON-1
-200
-150
-100
-50
0
50
100
1,83
3,06
Trung bình
1,64
3,00
Nguồn: Bộ Tài Nguyên và Môi trường, 2008.
1.2.4. Các dự báo tác động của nƣớc biển dâng
UNDP (2007 – 2008), nếu nhiệt độ trái đất tăng thêm 2
0
C thì 45% diện tích
đất nông nghiệp vùng ĐBSCL sẽ chìm trong nƣớc biển.
Theo cảnh báo của Ngân hàng Thế giới (WB, 2008), Việt Nam là một trong
những nƣớc phải chịu sự tác động tồi tệ nhất do sự BĐKH toàn cầu gây ra. Dự báo
đến năm 2030, nếu Việt Nam không có những giải pháp hữu hiệu để ngăn ngừa
mực nƣớc biển dâng cao, thì có thể 4,4% diện tích đất đai bị ngập. Trong đó, ở
ĐBSCL 45% diện tích đất bị nhiễm mặn.
Viện Nghiên Cứu Lúa Quốc Tế (IRRI,2007) tại Philippines cảnh báo, nƣớc
biển dâng cao do khí hậu thay đổi sẽ ảnh hƣởng “xấu” đến các vùng trồng lúa có
năng suất cao trên thế giới. Nhà khoa học cao cấp về khí hậu Reiner Wassman
(2006) cho biết, IRRI đang nỗ lực tìm biện pháp giảm thiểu mối đe dọa này, “Một
số khu vực trồng lúa quan trọng tại châu Á nằm ở các đồng bằng thấp, đóng vai trò
quan trọng đối với an ninh lƣơng thực trong khu vực và xuất khẩu. Với Việt Nam,
phụ thuộc nhiều vào trồng lúa ở trong và xung quanh các khu vực đồng bằng châu
thổ nằm thấp thì mực nƣớc biển dâng cao thực tế rất đáng lo ngại”.
Theo dự báo của Uỷ ban Liên chính phủ về BĐKH (IPCC, 2007) thì đến năm
2100, trung bình hơn 50cm và cao nhất 95cm. Theo Viện Hàn lâm Quốc gia Hoa
Kỳ (NASA) và Cục Bảo vệ Môi trƣờng Mỹ (EPA,2004) thì đến cuối thế kỷ này,
mực nƣớc biển tăng thấp nhất 56cm và cao nhất 245cm. Nếu căn cứ vào dự báo của
24
Tại hội thảo:”Biến đổi khí hậu toàn cầu và giải pháp ứng phó của Việt Nam”
(2008): nƣớc biển dâng cao nhƣ dự báo vào năm 2030 sẽ khiến 45% diện tích đất
khu vực này có nguy cơ nhiễm mặn và thiệt hại mùa màng do lũ lụt. Năng suất lúa
dự báo giảm 9%. Nếu mực nƣớc biển dâng cao 1 m, phần lớn ĐBSCL sẽ hoàn toàn
bị ngập trắng.
25
Nguyễn Thế Tƣởng (2007) đƣa ra dẫn chứng, nhiệt độ trung bình của Việt
Nam tăng khoảng 0,3
o
C; hiện tƣợng ENSO ngày càng tác động gây ra những biến
động mạnh mẽ về thời tiết khí hậu năm này qua năm khác. Theo tác giả, trong vòng
40 năm qua mực nƣớc biển đã dâng lên khoảng 20 cm. Dự báo nƣớc biển dâng cao
lên 1m, khoảng ¾ diện tích vùng ĐBSCL sẽ bị ngập trong nƣớc, sản lƣợng nông
nghiệp của nƣớc mất đi khoảng 50%, hệ sinh thái thay đổi, nền kinh tế bị ảnh
hƣởng lớn.
1.2.5. Tác động của xâm nhập mặn, phèn
Sự nhiễm mặn, phèn đã tác động không nhỏ tới sản xuất lúa vùng ĐBSCL.
Để dự báo độ mặn nền trên các hệ thống sông chính vùng ĐBCL, Nguyễn Hữu
Nhân (2003) đã xây dựng phần mềm thủy lực Hydrogis bao gồm các cơ sở dữ liệu
để lập bản đồ ngập lụt và mô phỏng vùng lũ, xâm nhập mặn vùng ĐBSCL.
Lã Thanh Hà (2008) đã sử dụng phần mềm VISUAL MODFLOW 2.8.2,
bằng phƣơng pháp mô hình số có thể giải đƣợc các bài toán đánh giá dự báo sự xâm
nhập mặn, dự báo sự dịch chuyển của các chất thải gây ra ô nhiễm đến nƣớc ngầm
theo thời gian và theo không gian với độ chính xác cao.
Trần An Phong, Nguyễn Võ Linh (1990) khi xây dựng bản đồ đất đai
ĐBSCL tỷ lệ 1/250.000 bằng kỹ thuật GIS đƣa ra kết luận về vùng đất phèn
ĐBSCL:
+ Vùng đất phèn nặng: Diện tích đƣợc tƣới rất ít, quy mô ngập lũ sâu (trên
60cm) trong mùa mƣa rất lớn. Hạn chế chủ yếu của các đơn vị đất đai ở vùng này là