MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Thủ đô Hà Nội là một trong những trung tâm phát triển kinh tế, chính trị, xã hội
lớn nhất nƣớc ta (cùng với TP. Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng…). Bên
cạnh vai trò và vị trí quan trọng của mình trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị
và xã hội, Hà Nội còn đƣợc biết đến nhƣ là một thành phố của ao, hồ, sông
ngòi… với khoảng 20 hồ trong khu vực nội thành có diện tích mặt nƣớc khoảng
765ha (Hoàng Văn Thắng, Lê Diên Dực, 2010). Trong các thủy vực đó, hồ là
loại thủy vực khá lớn với vai trò và có tầm quan trọng liên quan trực tiếp đến
đời sống văn hóa, phong tục tập quán và nuôi trồng thủy sản của cƣ dân sống
trong khu vực.
Trong số các ao hồ tại thủ đô Hà Nội, Hồ Tây tại quận Tây Hồ là hồ tự nhiên
lớn nhất với diện tích đƣợc xác định là 527,517ha (theo nghiên cứu của Viện
ST Tài nguyên và Sinh Vật, 2011), dung tích nƣớc khoảng 9 triệu m
3
(một số ý
kiến khác cho rằng hiện nay diện tích của Hồ Tây nhỏ hơn - ƣớc đạt chỉ còn
khoảng 517ha).
Hồ Tây đƣợc xem là một cảnh quan thiên nhiên đẹp và độc đáo ở ngay nội
thành Hà Nội, đây là địa danh gắn liền với lịch sử của dân tộc Việt Nam nói
chung và lịch sử của thủ đô Hà Nội nói riêng. Với vị trí nằm ở trung tâm của
thủ đô Hà Nội, ngoài chức năng điều hòa không khí, Hồ Tây còn có nhiều giá
trị/chức năng khác nhƣ: nuôi trồng thủy sản, tiếp nhận và điều tiết nƣớc ngầm,
kiểm soát ngập lụt và dòng chảy, tiếp nhận và giữ chất lắng đọng, tiếp nhận và
giữ chất dinh dƣỡng, vui chơi giải trí và du lịch… (Hoàng Văn Thắng, 2003).
Có thể thấy rằng Hồ Tây là một sinh cảnh rất quan trọng trong cân bằng sinh
thái và bảo vệ môi trƣờng của thủ đô. Vì vậy, việc bảo tồn và phát huy các giá
trị của Hồ Tây cần đƣợc tiến hành cùng với sự phát triển kinh tế xã hội, văn hóa
và du lịch của thủ đô Hà Nội. Tuy nhiên, trong bối cảnh phát triển đô thị và đặc
biệt là quá trình đô thị hóa hiện nay, diện tích hồ ngày càng bị thu hẹp. Các
Hà Nội - Năm 2012 ii
ĐẤT NGẬP NƢỚC HỒ TÂY VÀ NHỮNG ẢNH HƢỞNG
CỦA PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ TỚI CÁC CHỨC NĂNG ĐÓ
Chuyên ngành: Môi trƣờng trong Phát triển bền vững
(Chƣơng trình đào tạo thí điểm)
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC MÔI TRƢỜNG NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. HOÀNG VĂN THẮNG
Hà Nội - Năm 2012
iv
iv
MỤC LỤC
1.2. Các nghiên cứu về ĐNN và phát triển đô thị trên thế giới ………
8
1.3. Nghiên cứu về ĐNN và phát triển đô thị tại Việt Nam nói chung và
Hà Nội nói riêng ………………………………………………
11
1.4. Các nghiên cứu liên quan tới Hồ Tây …………………………
13
CHƢƠNG 2. ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN, PHƢƠNG PHÁP LUẬN VÀ
PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
17
2.1. Địa điểm và thời gian nghiên cứu …………………………………
17
2.2. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu …………………
17
2.2.1. Phƣơng pháp luận ……………………………………………
17
2.2.2. Các phƣơng pháp nghiên cứu
20
v
MỤC LỤC Trang
CHƢƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
22
3.1. Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội ……………………………
22
3.1.1. Điều kiện tự nhiên của Hồ Tây ……………………………….
22
77
Phụ lục 2. Các doanh nghiệp cùng với số tàu du lịch, xuồng và thuyền
hoạt động trên Hồ Tây
82
Phụ lục 3. Tổng hợp các di tích lịch sử khu vực Hồ Tây
83
Phụ lục 4. Một số làng nghề xƣa ở ven Hồ Tây
90
vi
MỤC LỤC Trang
Phụ lục 5. Thành phần loài thực vật nổi tại Hồ Tây ………….
98
Phụ lục 6. Thành phần loài động vật nổi Hồ Tây
101
ĐDSH Đa dạng sinh học
ĐNN Đất ngập nƣớc
ĐVKSXCL Động vật không xƣơng sống cỡ lớn
GHCP Giới hạn cho phép
GT Giao thông
HST Hệ sinh thái
KS Khách sạn
KLN Kim loại nặng
KTTV Khí tƣợng thủy văn
KT-XH Kinh tế - xã hội
nnk Những ngƣời khác
NXB Nhà xuất bản
PTCS Phổ thông cơ sở
PTTH Phổ thông trung học
QCVN Quy chuẩn Việt Nam
QĐ Quyết định
QLMT Quản lý môi trƣờng
TCVN Tiêu chuẩn Việt Nam
THCS Trung học cơ sở
TP Thành phố
TS Tổng chất rắn
SS Chất rắn lơ lửng viii
DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 3.1. Diện tích mặt nƣớc của Hồ Tây …………………………………
22
ix
DANH MỤC HÌNH
Trang
Hình 1.1. Đất ngập nƣớc thƣờng tồn tại tại những nơi chuyển tiếp giữa
HST trên cạn và HST thủy sinh thƣờng xuyên ……………….
4
Hình 1.2. Mối liên quan giữa các dịch vụ HST với các thành tố của cuộc
sống thịnh vƣợng ……………………………………………….
7
Hình 2.1. Bản đồ hành chính Hà Nội và vị trí của Hồ Tây ……………….
17
Hình 3.1. Một số hình ảnh về CSHT khu vực quanh hồ ………………….
27
Hình 3.2. Một số loại cây xanh ven đƣờng ……………………………….
40
Hình 3.3. Một số di tích lịch sử nổi tiếng xung quanh Hồ Tây ………
46
Hình 3.4. Minh họa trục đƣờng Hồ Tây – Ba Vì …………………………
49
Hình 3.5. Công trình đang xây dựng ven hồ …………………………
51
Thủ đô Hà Nội là một trong những trung tâm phát triển kinh tế, chính trị, xã hội
lớn nhất nƣớc ta (cùng với TP. Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng…). Bên
cạnh vai trò và vị trí quan trọng của mình trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị
và xã hội, Hà Nội còn đƣợc biết đến nhƣ là một thành phố của ao, hồ, sông
ngòi… với khoảng 20 hồ trong khu vực nội thành có diện tích mặt nƣớc khoảng
765ha (Hoàng Văn Thắng, Lê Diên Dực, 2010). Trong các thủy vực đó, hồ là
loại thủy vực khá lớn với vai trò và có tầm quan trọng liên quan trực tiếp đến
đời sống văn hóa, phong tục tập quán và nuôi trồng thủy sản của cƣ dân sống
trong khu vực.
Trong số các ao hồ tại thủ đô Hà Nội, Hồ Tây tại quận Tây Hồ là hồ tự nhiên
lớn nhất với diện tích đƣợc xác định là 527,517ha (theo nghiên cứu của Viện
ST Tài nguyên và Sinh Vật, 2011), dung tích nƣớc khoảng 9 triệu m
3
(một số ý
kiến khác cho rằng hiện nay diện tích của Hồ Tây nhỏ hơn - ƣớc đạt chỉ còn
khoảng 517ha).
Hồ Tây đƣợc xem là một cảnh quan thiên nhiên đẹp và độc đáo ở ngay nội
thành Hà Nội, đây là địa danh gắn liền với lịch sử của dân tộc Việt Nam nói
chung và lịch sử của thủ đô Hà Nội nói riêng. Với vị trí nằm ở trung tâm của
thủ đô Hà Nội, ngoài chức năng điều hòa không khí, Hồ Tây còn có nhiều giá
trị/chức năng khác nhƣ: nuôi trồng thủy sản, tiếp nhận và điều tiết nƣớc ngầm,
kiểm soát ngập lụt và dòng chảy, tiếp nhận và giữ chất lắng đọng, tiếp nhận và
giữ chất dinh dƣỡng, vui chơi giải trí và du lịch… (Hoàng Văn Thắng, 2003).
Có thể thấy rằng Hồ Tây là một sinh cảnh rất quan trọng trong cân bằng sinh
thái và bảo vệ môi trƣờng của thủ đô. Vì vậy, việc bảo tồn và phát huy các giá
trị của Hồ Tây cần đƣợc tiến hành cùng với sự phát triển kinh tế xã hội, văn hóa
và du lịch của thủ đô Hà Nội. Tuy nhiên, trong bối cảnh phát triển đô thị và đặc
biệt là quá trình đô thị hóa hiện nay, diện tích hồ ngày càng bị thu hẹp. Các
chức năng hệ sinh thái của hồ đã và đang có nhiều thay đổi thay đổi - chủ yếu
theo hƣớng xấu đi. Bên cạnh đó, biến đổi khí hậu ngày càng trở nên hiện hữu
3
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Các khái niệm
1.1.1. Hệ sinh thái đất ngập nước
Định nghĩa ĐNN: Có nhiều định nghĩa về ĐNN, có thể kể vài định nghĩa tại
một số quốc gia nhƣ sau:
(1) Theo định nghĩa của Cơ quan Thủy sản và Động vật Hoang dã của Hoa Kỳ:
“ĐNN là những đất chuyển tiếp giữa hệ trên cạn và hệ thủy sinh. Ở đó, mực
nƣớc ngầm thƣờng gần với mặt đất hay đất bao phủ bởi lớp nƣớc nông… ĐNN
phải có một hay một số trong 3 thuộc tính sau đây: (1) ít nhất định kỳ đất phải
hỗ trợ thực vật thủy sinh chiếm ƣu thế; (2) nền đáy phải là đất luôn ẩm ƣớt; và
(3) nền đáy không phải là đất thông thƣờng và bão hòa nƣớc hoặc bị bao phủ
bởi nƣớc nông trong thời gian sinh trƣởng của mỗi năm” (Corwardin và nnk,
1979, trong Lê Diên Dực và Hoàng Văn Thắng, 2012).
(2) Theo các nhà khoa học Canada: “ĐNN là đất bão hòa nƣớc trong thời gian
dài đủ để hỗ trợ cho các quá trình thủy sinh. Đó là những nơi khó tiêu thoát
nƣớc, có thực vật thủy sinh và các hoạt động sinh học thích hợp với môi trƣờng
ẩm ƣớt” (Lê Văn Khoa, Nguyễn Cử, Trần Thiện Cƣờng, Nguyễn Xuân Huân,
2008).
(3) Theo các nhà khoa học New Zealand: “ĐNN là một khái niệm chung để chỉ
những vùng đất ẩm ƣớt từng thời kỳ hoặc thƣờng xuyên,. Những vùng ngập
nƣớc ở mức cạn và những vùng chuyển tiếp giữa đất và nƣớc. Nƣớc có thể là
nƣớc ngọt, nƣớc lợ hoặc nƣớc mặn. ĐNN ở trạng thái tự nhiên hoặc đặc trƣng
bởi các loại thực vật và động vật thích hợp với điều kiện sống ẩm ƣớt” (Lê Văn
Khoa, Nguyễn Cử, Trần Thiện Cƣờng, Nguyễn Xuân Huân, 2008).
(4) Theo các nhà khoa học Úc: “ ĐNN là những vùng đầm lầy, bãi lầy than
bùn, tự nhiên hoặc nhân tạo, theo mùa hoặc theo chu kỳ, nƣớc tĩnh hoặc nƣớc
chảy, nƣớc ngọt, nƣớc lợ hoặc nƣớc mặn, bao gồm cả những bãi lầy và những
khu rừng ngập mặn lộ ra khi thủy triều thấp” (Lê Văn Khoa, Nguyễn Cử, Trần
ĐNN có vai trò rất quan trọng đối với đời sống của các cộng đồng dân cƣ, kể cả
5
dân cƣ sinh sống tại các đô thị. Hiện nay, khoảng 70% dân số thế giới sống ở các
vùng cửa sông ven biển và xung quanh các thuỷ vực nƣớc ngọt nội địa (Dugan,
1990). Đất ngập nƣớc còn là nơi sinh sống của một số lƣợng lớn các loài động
vật và thực vật, trong đó có nhiều loài quí hiếm (Hoàng Văn Thắng, Lê Diên
Dực, 2006).
Các loại hình ĐNN Hà Nội: ĐNN Hà Nội có thể chia thành 9 loại hình chính nhƣ
sau:
- Đất ngập nƣớc nội địa:
1. M) Sông, suối có nƣớc chảy thƣờng xuyên.
2. O) Hồ nƣớc ngọt ngập thƣờng xuyên (trên 8ha).
3. Tp) Ao, hồ nƣớc ngọt ngập thƣờng xuyên (dƣới 8ha).
- Đất ngập nƣớc nhân tạo:
4. 1) Ao nuôi thuỷ sản (tôm, cá, nhuyễn thể).
5. 2) Ao, đầm (nhỏ hơn 8ha).
6. 3) Các hồ chứa nƣớc.
7. 4) Đất nông nghiệp ngập lụt theo mùa.
8. 5) Các hồ xử lý nƣớc thải.
9. 6) Kênh, mƣơng thoát nƣớc.
Các chức năng/ giá trị của ĐNN:
(1) Theo Wiliam J.Mistch và James Gosseling (1986): Các chức năng của
ĐNN gồm:
(1) Chức năng cải thiện chất lƣợng nƣớc.
(2) Chức năng dự trữ ngập lụt.
(3) Là sinh cảnh cho cá và động vật hoang dã,
(4) Chức năng thẩm mỹ và năng suất sinh học.
(2) Theo Hoàng Văn Thắng và Lê Diên Dực (2012): Chức năng của hệ sinh thái
đƣợc xem xét tới các yếu tố bao gồm:
hoang dã đặc biệt là các loài chim nƣớc trong đó có các loài chim di trú;
ngoài ra giá trị đa dạng sinh học còn bao gồm giá trị văn hóa, du lịch sinh
thái, tri thức bản địa, … .
(4). Theo mục tiêu phát triển thiên niên kỷ, 2005: Đánh giá thiên niên kỷ HST
có các dịch vụ/chức năng và các mối quan hệ tới các thành tố của phúc lợi xã
hội nhƣ sau (hình 1.2).
Dịch vụ cung cấp: Cung cấp lƣơng thực – thực phẩm; cung cấp nƣớc sạch,
gỗ, sợi, củi đốt, khoáng sản và tài nguyên di truyền.
Dịch vụ điều tiết: Điều tiết khí hậu, lũ lụt, thiên tai và lọc sạch nguồn nƣớc.
Dịch vụ văn hóa: Giá trị thẩm mỹ, tinh thần, về giáo dục và nghỉ dƣỡng.
Dịch vụ hỗ trợ: Gồm chu trình dinh dƣỡng, hình thành đất và sản phẩm sơ cấp.
Nguồn: Trương Quang Học, 2011
Với việc xem xét và đánh giá dịch vụ hệ sinh thái gồm 4 yếu tố nêu trên. Đây là
cách đánh giá đầy đủ, khoa học và đã đƣợc công nhận, sử dụng rộng rãi trong
các nghiên cứu trên thế giới.
1.1.2. Phát triển đô thị
Phát triển đô thị mà điển hình là đô thị hóa có thể đƣợc hiểu nhƣ sau:
Hình 1.2. Mối liên quan giữa các dịch vụ HST với các thành tố
của cuộc sống thịnh vƣợng
các vùng đất ngập nƣớc vì ĐNN là nơi cung cấp các điều kiện về lƣơng thực,
thực phẩm, môi trƣờng sống và nhiều lợi ích khác. ĐNN đô thị có thể đƣợc
hiểu là những vùng đất ngập nƣớc nằm trong phạm vi khu vực các đô thị, nơi
có các hoạt động kinh tế xã hội đặc trƣng của các loại hình đô thị.
Phát triển đô thị (mà điển hình là quá trình đô thị hóa) là một quá trình diễn thế
tất yếu trong lịch sử phát triển của loài ngƣời. Đặc biệt, cùng với quá trình công
nghiệp hóa, sự phát triển nhanh chóng của khoa học kỹ thuật đã đẩy quá trình đô
thị hóa trên thế giới nói chung diễn ra nhanh chóng. Đô thị hóa không chỉ là sự
phát triển đô thị về quy mô, số lƣợng dân cƣ, mà còn gắn liền với những biến đổi
kinh tế - xã hội ở đô thị trên cơ sở phát triển công nghiệp, giao thông vận tải, xây
dựng, dịch vụ… . Những yếu tố thể hiện của phát triển đô thị là sự tăng dân số,
sự phát triển về kinh tế, xã hội, không gian đất đai, môi trƣờng đô thị… .
Phát triển đô thị và đô thị hóa bắt đầu ở phƣơng tây, sau đó lan sang Mỹ những
năm cuối thế kỷ XIX và tới châu Á những năm 60 của thế kỷ XX. Trong thế kỷ
XX, các nƣớc phát triển đã chuyển gần 80 - 90% dân số cƣ trú từ nông thôn
sang cƣ trú tại đô thị, số ngƣời sống trong đô thị hiện nay đã tới 50% dân số của
thế giới.
Các cuộc cách mạng công nghiệp đã tác động tới các khu vực thành thị và nông
thôn một cách sâu sắc và giúp cho việc hình thành nên hệ thống kiến trúc hiện đại,
nếp sống văn minh đo thị tai các nƣớc văn minh trên thế giới. Đô thị hóa và phát
triển đô thị trên thế giới và khu vực nhƣ là một động lực phát triển quan trọng
trong tiến trình lịch sử, hiện tại và trong tƣơng lai. Điểm chung của đô thị hóa và
phát triển đô thị là sự đóng góp to lớn về kinh tế xã hội và đặc biệt có ý nghĩa
trong công cuộc công nghiệp hóa và hiện đại hóa của mỗi quốc gia, mỗi vùng.
Trong thời đại ngày nay, sự phát triển đô thị và đô thị hóa ngày càng diễn ra
nhanh chóng và mạnh mẽ - ƣớc tính tới năm 2030 sẽ có hơn 60% dân số toàn
cầu sẽ sống ở đô thị (UN, 2010). Tuy nhiên, việc phụ thuộc vào các điều kiện
tự nhiên trong đó có các khu vực ĐNN là rất cần thiết đối với dân cƣ đô thị.
Chính vì vậy, vai trò của hệ sinh thái ĐNN đô thị đối với sự phát triển bền vững
của các đô thị ngày càng đƣợc coi trọng và đƣợc cộng đồng quốc tế quan tâm
cũng là quốc gia tại khu vực Châu Á đi tiên phong trong nghiên cứu và quản lý
hồ đô thị với chiến dịch cứu hồ vào năm 1990 với nhiều chƣơng trình nghiên
11
cứu, tuyên truyền nâng cao nhận thức bảo vệ và bảo tồn các hồ ở đô thị.
Nhƣ vậy, có thể thể thấy rằng các nghiên cứu có tính chuyên ngành cho hệ
thống sông hồ vùng đô thị đã đƣợc nghiên cứu khá nhiều trên thế giới. Tuy
nhiên, hiện còn thiếu những nghiên cứu mang tính liên ngành tổng hợp để từ đó
đƣa ra đƣợc các định hƣớng chiến lƣợc cũng nhƣ các giải pháp thực tiễn cho
quản lý và phát triển bền vững đất ngập nƣớc đô thị, đặc biệt trong bối cảnh đô
thị hóa tăng nhanh và tác động của biến đổi khí hậu toàn cầu.
1.3. Nghiên cứu về ĐNN và phát triển đô thị tại Việt Nam nói chung và Hà
Nội nói riêng
Từ việc là một nƣớc cơ bản là nông nghiệp với số lao động trong nông nghiệp
chiếm hơn 80% dân số, cho tới những năm 90 của thế kỷ trƣớc, Việt Nam vẫn
còn là đất nƣớc có tỷ lệ đô thị hóa không cao (17 - 18%). Tuy nhiên, trong
những năm gần đây, với việc tiến hành công cuộc đổi mới, quá trình phát triển
đô thị ở Việt Nam đã và đang diễn ra mạnh mẽ và nhanh chóng trên quy mô
toàn quốc (năm 2007 tỷ lệ đô thị hóa đạt 27%; năm 2010 đạt 30% và dự báo
đến năm 2030 là 44% (UN, 2010). Sự phát triển đô thị này đƣợc thể hiện qua
các yếu tố nhƣ: dân số tại đô thị tăng lên nhanh chóng, hàng loạt cơ sở hạ tầng
đƣợc hình thành và xây dựng, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế lao động rõ rệt, sự
gia tăng dân số tại các khu vực trọng điểm miền Bắc, Trung và Nam (VD: Hà
Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng…).
Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực thì phát triển đô thị tại Việt Nam nói
chung và tại Hà Nội nói riêng còn có nhiều mặt tiêu cực có thể kể ra nhƣ:
(1) Quá trình phát triển đô thị gây ra các vấn đề về xã hội (nhƣ tệ nạn xã hội, sức
ép dân số, nghề nghiệp…) và đặc biệt là sự ô nhiễm môi trƣờng ngày càng trầm
trọng ảnh hƣởng tới sức khỏe con ngƣời cũng nhƣ các loài sinh vật.
(2) Phát triển đô thị và đô thị hóa của một vùng kéo theo sự thay đổi của kinh tế,
vai trò của hệ sinh thái đã và đang bị ảnh hƣởng nghiêm trọng.
Việc nghiên cứu vấn đề đô thị hóa của Hà Nội trong mối liên quan tới chất
lƣợng môi trƣờng nói chung và bảo tồn hệ sinh thái đất ngập nƣớc nói riêng đã
đƣợc tiến hành thực hiện trong những năm 1990. Nhiều nghiên cứu mang tính
đơn ngành và chuyên sâu đã đƣợc thực hiện nhƣ nghiên cứu về chất lƣợng
13
nƣớc, chất lƣợng môi trƣờng sông hồ Hà Nội (Dƣơng Đức Tiến, 2002; Lê Thu
Hà, 2005; Trần Đức Hạ, 2007; Đặng Thị Sy, 1998; Trịnh Thị Thanh, 2010).
Đặc biệt, trong các năm 2002 - 2003, dƣới sự tài trợ của Tổ chức Bảo tồn Thiên
nhiên Thế giới (IUCN), Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trƣờng đã
tiến hành Dự án “Quản lý bền vững và bảo tồn đất ngập nƣớc Hà Nội” Dự án
đã thực hiện các hoạt động hỗ trợ nhằm giảm thiểu các mối đe dọa đến hệ sinh
thái ĐNN Hà Nội và thúc đẩy sử dụng bền vững đất ngập nƣớc Hà Nội thông
qua các hoạt động chính là: (1) Điều tra, khảo sát hiện trạng của các hồ Hà Nội;
(2) Nâng cao nhận thức cho các tầng lớp nhân dân và học sinh trên địa bàn Hà
Nội; và (3) Xây dựng và đệ trình Bản thảo đề xuất Kế hoạch hành động nhằm
bảo tồn và quản lý bền vững đất ngập nƣớc Hà Nội. Trong vài năm gần đây, hệ
thống ao hồ và sông ngòi của Hà Nội đã đƣợc quan tâm đặc biệt trong các công
trình nghiên cứu thuộc mảng khoa học xã hội, nhất là các nhà sử học, các nhà
địa lý và qui hoạch đô thị. Đã có những nghiên cứu chuyên sâu về giá trị lịch sử
(Céline Pierdet, 2003; Nguyễn Vinh Phúc, 2009, 2010…) giá trị văn hóa, giá trị
tâm linh của Hồ Tây, Hồ Gƣơm, sông Hồng (Nguyễn Vinh Phúc, 2003, 2004,
2010…) hay nghiên cứu về sông hồ Hà Nội dƣới góc độ qui hoạch đô thị (Viện
Qui hoạch Kiến trúc đô thị, 2008; Kelly Shannon, 2009a, 2009b… ) và mối liên
quan giữa hồ với chất lƣợng cuộc sống (Sawaki và nnk, 2010). Những khó
khăn thách thức và bất cập trong quản lý hồ Hà Nội đã đƣợc nghiên cứu ngày
càng nhiều (Hoàng Văn Thắng và nnk, 2003; Trƣơng Quang Hải, 2006; Trƣơng
Quang Hải, 2009; Nguyễn Cao Huần và Trần Anh Tuấn, 2010; Hoàng Văn
Thắng và Lê Diên Dực, 2010 ) với mong muốn đề xuất và hiện thực hóa các
sự ô nhiễm cục bộ tại một số khu vực ven bờ Hồ Tây. Những nguyên nhân cơ
bản của sự ô nhiễm là nƣớc thải sinh hoạt, đặc biệt thời đó là từ một số cống
thải nhƣ nƣớc thải từ cống Tầu bay vào Hồ Tây.
(2) Báo cáo Quy hoạch môi trƣờng vùng Hồ Tây – Hà Nội đến năm 2020 thực
hiện vào năm 1999;
(3) Đề tài Điều tra ảnh hƣởng của các hoạt động du lịch đến chất lƣợng Hồ Tây
thực hiện vào năm 2000;
(4) Điều tra, đo đạc một số yếu tố môi trƣờng nƣớc theo phƣơng pháp đo trực
tiếp liên tục bằng các đầu dò điện cực phối hợp với hệ thống GIS ở trên thuyền
15
của Wong, Lê Quốc Hùng và cộng sự ở Viện Hoá học, Viện KHCNVN thực
hiện trong năm 2001. Các thông số môi trƣờng nhƣ pH, nhiệt độ, EC, DO, độ
đục và độ dẫn điện. Ngoài ra, còn thu mẫu nƣớc để phân tích trong phòng thí
nghiệm các chỉ tiêu dinh dƣỡng nhƣ NO
2
, NO
3
, NH
4
, SiO
2
…, các kim loại nặng,
dầu trong nƣớc, thuốc bảo vệ thực vật. Các kết quả phân tích của nhóm tác giả
này cho thấy Hồ Tây ở trong tình trạng phú dƣỡng. Nhiều chỉ tiêu môi trƣờng về
kim loại nặng, coliform trong nƣớc, trầm tích và sinh vật (trai, ốc, cá chép) cao
vƣợt quá mức cho phép so với các tiêu chuẩn Việt Nam, Canada, Úc
(5) Trong nghiên cứu của Đại học quốc gia Hà Nội năm 2008 về mô hình hoá
hệ sinh thái Hồ Tây, tác giả Lƣu Lan Hƣơng và cộng sự đã tiến hành khảo sát
chất lƣợng nƣớc Hồ Tây tại 5 điểm thu mẫu ven bờ và 1 điểm giữa hồ. Các kết
những biểu hiển của ô nhiễm hữu cơ ở các vùng nƣớc gần các cống thải vào hồ.
16
Hàm lƣợng các kim loại nặng ở nƣớc và trầm tích hồ đều ở dƣới mức cho phép
nhƣng đáng lƣu ý là các loài động vật thân mềm trong hồ có hàm lƣợng As, Cd
và Pb đều cao hơn giới hạn trên do Bộ Y tế và EU quy định cho trai, ốc dùng
làm thực phẩm. Các nguyên nhân làm phú dƣỡng hồ là lƣợng nƣớc thải dân cƣ
không đƣợc xử lý đổ vào hồ, độ dày lớp bùn đáy hồ ngày càng lớn, đặc biệt ở
khu vực gần các cửa cống thải, làm giảm khả năng tự làm sạch của hồ. Các
cống trên đƣờng Thuỵ Khê nhƣ cống Tàu Bay và cống phía sau trƣờng THCS
Chu Văn An là những nguồn nƣớc thải dinh dƣỡng cao nhất vào hồ.
Hầu hết các kết quả điều tra, nghiên cứu trong thời gian qua cho thấy môi
trƣờng nƣớc Hồ Tây ở tình trạng phú dƣỡng, một số khu vực hồ bị ô nhiễm hữu
cơ. Về thuỷ sinh vật, đặc điểm mật độ tảo cao vào các thời kỳ điều tra cho thấy
có sự nở rộ thực vật nổi, biểu thi sự phú dƣỡng của nƣớc hồ. Tuy vậy, các kết
quả điều tra cho thấy ở Hồ Tây động vật thân mềm là ốc vặn, trai và giáp xác là
tôm càng vẫn còn với số lƣợng khá nhiều, nhƣng trong thời gian gần đây đã có
chiều hƣớng giảm cả về số lƣợng và chất lƣợng.
Những nghiên cứu kể trên đã tập trung vào nghiên cứu về hiện trạng, chất
lƣợng môi trƣờng và đề ra những giải pháp để bảo vệ Hồ Tây; tuy nhiên việc
xem xét tới những nguyên nhân sâu xa, những yếu tố tổng thể ảnh hƣởng tới
chất lƣợng môi trƣờng cũng nhƣ ảnh hƣởng tới các chức năng/ giá trị hệ sinh
thái ĐNN của Hồ Tây để từ đó có đƣợc những giải pháp hiệu quả cải từng bƣớc
cải thiện môi trƣờng hồ vẫn chƣa đƣợc xem xét và đánh giá đầy đủ.
Chính vì vậy, việc nghiên cứu những ảnh hƣởng của việc phát triển đô thị tới
chức năng của hệ sinh thái là rất quan trọng. Đề tài đƣợc nghiên cứu trên cơ sở
nghiên cứu các chức năng hệ sinh thái ĐNN Hồ Tây và xem xét các ảnh hƣởng
của phát triển đô thị tại địa bàn quận Tây Hồ tới các chức năng của Hồ Tây –
một khu vực đất ngập nƣớc quan trọng của thủ đô (với rất nhiều giá trị/chức
năng). Việc nghiên cứu nhằm tìm ra những nguyên nhân và đƣa ra các giải
liên ngành và tiếp cận hệ sinh thái.