iii
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
LỜI CAM ĐOAN ii
DANH MỤC BẢNG v
DANH MỤC HÌNH v
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Mục tiêu nghiên cứu 3
3. Nhiệm vụ nghiên cứu 3
4. Phạm vi nghiên cứu 4
5. Cơ sở dữ liệu được sử dụng 4
6. Các kết quả đạt được 4
7. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 5
8. Cấu trúc của luận văn 5
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 6
1.1. Quan điểm nghiên cứu 6
1.1.1. Quan điểm nghiên cứu 6
1.1.2. Các bước nghiên cứu 7
1.2. Cơ sở lý luận về du lịch sinh thái và du lịch sinh thái cộng đồng trên quan điểm tài
nguyên và môi trường. 8
1.2.1. Cơ sở lý luận về du lịch sinh thái. 8
1.2.2. Cơ sở lý luận về du lịch sinh thái cộng đồng trên quan điểm tài nguyên và môi trường. 16
1.3. Phương pháp nghiên cứu. 22
CHƢƠNG 2. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ – XÃ
HỘI TẠI VÙNG ĐỆM KHU BTTN TIỀN HẢI – THÁI BÌNH. 24
2.1. Vị trí địa lý 24
2.2. Đặc điểm điều kiện tự nhiên 24
2.2.1. Đặc điểm địa chất 24
4.5. Dự báo các vấn đề nảy sinh sau khi triển khai mô hình phát triển du lịch 90
KẾT LUẬN 92
KIẾN NGHỊ 93
TÀI LIỆU THAM KHẢO 96
v
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1. Lƣợng mƣa tháng và năm (mm) 27
Bảng 2. Số ngày mƣa trung bình tháng và năm (ngày) 27
Bảng 3. Số cơn bão đổ bộ hoặc tiếp cận các đoạn bờ biển từ 1960 - 1997 28
Bảng 4. Điều kiện môi trƣờng để tổ chức một số hoạt động du lịch cơ bản. 30
Bảng 5. Số ngƣời trong độ tuổi lao động 34
Bảng 6. Cơ cấu phân công lao động trong các ngành 35
Bảng 7. Tăng trƣởng kinh tế giai đoạn 2005 – 2006 37
Bảng 8. Chỉ tiêu chất lƣợng không khí đối với một số hoạt động du lịch 62
Bảng 9. Chỉ tiêu chất lƣợng nƣớc sinh hoạt đối với một số hoạt động du lịch 64
Bảng 10. Chỉ tiêu chất lƣợng nƣớc biển đối với một số hoạt động du lịch 65
Bảng 11. Điều tra sử dụng thuốc bảo vệ thực vật tại Thái Bình 66
DANH MỤC HÌNH
Hình 1. Sơ đồ các bƣớc nghiên cứu 8
Hình 2: Sơ đồ cấu trúc du lịch sinh thái (theo Phạm Trung Lƣơng) 13
Hình 3. Dân số của 3 xã vùng đệm khu BTTN Tiền Hải. 33
Hình 4. Cơ cấu dân số phân theo giới tính. 33
Hình 5. Cơ cấu kinh tế năm 2005 và 2006. 38
Hình 6. Mô hình phát triển DLSTCĐvùng đệm khu BTTN Tiền Hải 83
Hình 7. Mô hình phát triển du lịch cụm khu du lịch sinh thái cộng đồng 87
Hình 8. Mô hình quản lý DLSTCĐ tại vùng đệm khu BTTN Tiền Hải 89
với mục tiêu chắn cát, chắn gió.
KBTTN Tiền Hải, là một khu bảo tồn nằm ở cửa sông Hồng. Từ cuối những
năm 80, KBTTN Tiền Hải đã được đề xuất là một phần của khu Ramsar cửa sông
Hồng. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau đến tận năm 1995 mới có quyết
định công nhận của Chính Phủ. Gần đây, tháng 10 năm 2004, Tổ chức Giáo dục
Khoa học và Văn Hóa của Liên Hợp Quốc (UNESCO) đã chính thức công nhận
KBTTN Tiền Hải là một trong các vùng lõi của Khu Dự trữ Sinh Quyển Thế Giới
Vùng ven biển Đồng bằng sông Hồng.
Tiền Hải là nơi dừng chân và trú đông quan trọng của các loài Vịt trời, Mòng bể
và chim ven biển. Trong số này có các loài bị đe doạ toàn cầu như: Mòng bể mỏ
ngắn, Cò thìa. Ở đây còn là nơi trú ngụ của một số loài chim khác với số lượng lớn.
KBTTN Tiền Hải đóng một vai trò quan trọng đối với nền kinh tế của địa
phương. Đây là nơi có sự đa dạng rất cao về các loài thuỷ sinh vật, trong đó có
nhiều loài có giá trị kinh tế rất cao như các loài tôm, cua, cá… và các loài nhuyễn
thể như ngao, sò huyết… Rừng ngập mặn của khu vực là nơi cung cấp bãi đẻ cho
các loài thuỷ sản, là cơ sở cho nghề nuôi ong lấy mật cải thiện điều kiện kinh tế của
các hộ gia đình.
Tuy nhiên, Ngày nay trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội đang nổi lên các
vấn đề về khai thác triệt để tài nguyên và ô nhiễm môi trường, tạo ra các sức ép đối
với KBTTN Tiền Hải. Do vậy, đề tài đã chọn 3 xã vùng đệm của KBTTN Tiền Hải
là điểm nghiên cứu.
2
Vùng đệm có diện tích tự nhiên là 4.571,16 ha, chia ra xã Nam Thịnh: 836,01
ha; xã Nam Hưng: 1.269,67 ha; xã Nam Phú: 2.465,48 ha, tổng diện tích đất nông
nghiệp: 2.232,94 ha chia ra: xã Nam Thịnh: 311,18 ha; xã Nam Hưng: 855,91 ha; xã
Nam Phú: 1.066,57 ha, tổng diện tích đất phi nông nghiệp: 622,81 ha chia ra: xã
Nam Thịnh: 134,69; xã Nam Hưng: 316,84 ha; xã Nam Phú: 171,28 ha. Đất có mặt
nước ven biển: 4.080,44 ha trong đó: đất có rừng ngập mặn: 1.075,54 ha và đất nuôi
trồng thuỷ sản: 496 ha.
Nguyên Môi trường tại vùng đệm Khu bảo tồn thiên nhiên Tiền Hải - huyện Tiền
Hải - Thái Bình” sẽ là một bước đi tiên phong trong việc khơi dậy tiềm năng du
lịch của vùng và đồng thời đạt được mục đính bảo tồn bền vững đa dạng sinh học
hệ sinh thái rừng ngập mặn và hệ sinh thái thuỷ sinh ven biển.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu ngắn hạn
Nghiên cứu phát triển du lịch sinh thái cộng đồng nhằm mục đích bảo vệ Tài
nguyên Môi trường. Đề xuất áp dụng tại 3 xã vùng đệm của KBTTN Tiền Hải.
Bảo tồn đa dạng sinh học, cải tạo điều kiện môi trường, bảo vệ cảnh quan rừng
ngập mặn và hệ sinh thái ven biển.
Mục tiêu lâu dài
Thiết lập mối quan hệ lâu dài giữa các bên liên quan
Là mô hình điểm học tập, giáo dục cộng đồng về đa dạng sinh học rừng ngập
mặn và hệ sinh thái ven biển, giáo dục môi trường.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Chọn lãnh thổ nghiên cứu
- Nghiên cứu trong phòng
- Nghiên cứu, khảo sát tại thực địa
- Tổng quan tài liệu, số liệu, bản đồ có liên quan
4
- Lập định hướng phát triển du lịch sinh thái cộng đồng tại vùng đệm khu BTTN
Tiền Hải – Thái Bình
+ Mô hình phát triển du lịch sinh thái cộng đồng tại vùng đệm khu BTTN Tiền
Hải – Thái Bình.
+ Mô hình quản lý du lịch sinh thái cộng đồng tại vùng đệm khu BTTN Tiền Hải – Thái Bình.
4. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi lãnh thổ:
Phạm vi lãnh thổ nghiên cứu gồm có 3 xã Nam Thịnh, Nam Hưng, Nam Phú là
3 xã vùng đệm của Khu BTTN Tiền Hải – huyện Tiền Hải – Thái Bình.
Kết quả nghiên cứu của đề tài là một sản phẩm có giá trị thực tiễn cao, có thể
được chính quyền địa phương cũng như cộng đồng dân cư 3 xã vùng đệm Khu
BTTN Tiền Hải áp dụng để triển khai phát triển du lịch tại địa phương mình một
cách bền vững, có hiệu quả.
8. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung của khoá luận được
trình bày trong 4 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu.
Chương 2: Điều kiện tự nhiên, hiện trạng, phát triển kinh tế – xã hội và Môi trường
tại vùng đệm Khu BTTN Tiền Hải – Thái Bình.
Chương 3: Tiềm năng phát triển du lịch sinh thái cộng đồng và thực trạng môi
trường tại vùng đệm Khu BTTN Tiền Hải - huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình.
Chương 4: Định hướng phát triển du lịch sinh thái cộng đồng tại vùng đệm khu
BTTN Tiền Hải – Thái Bình.
6
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.1. Quan điểm nghiên cứu
1.1.1. Quan điểm nghiên cứu
Quan điểm tổng hợp : Vùng ven biển với sự đa dạng về tài nguyên là sản phẩm của
hoạt động tương tác Lục địa - Biển - Khí quyển và hoạt động của con người. Các dạng
tài nguyên chủ yếu được khai thác để phát triển kinh tế ở vùng ven biển gồm:
+ Tài nguyên đất sử dụng cho định cư, phát triển công - nông - lâm - ngư nghiệp,
mở mang du lịch
+ Tài nguyên nước (nước lục địa và nước biển ven bờ) cơ sở phát triển nghề cá
(khai thác và nuôi trồng Thủy sản), phát triển giao thông
+ Tài nguyên sinh vật: Rừng ngập mặn và nguồn lợi thủy sản.
+ Các dạng tài nguyên khác phục vụ cho các nhu cầu đa dạng của con người.
Do đó, vùng ven biển thường là địa bàn, nơi phát triển nhiều ngành kinh tế và vì
Bao gồm tổng quan tài liệu, xác định mục tiêu, đối tượng, nội dung, quan điểm
và phương pháp nghiên cứu; chuẩn bị tư liệu bản đồ, công cụ khảo sát, xây dựng
vấn đề, vạch ra các tuyến khảo sát, từ đó xây dựng kế hoạch thực hiện.
Bước 2: Khảo sát thực địa
Đây là bước thu thập tài liệu, số liệu trên thực địa về điều kiện tự nhiên, kinh tế -
xã hội và kiểm chứng những tài liệu đã thu thập được ở bước trên
Bước 3: Xây dựng các bản đồ chuyên đề
Các bản đồ chuyên đề, thành phần sau khi số hoá sẽ được đưa vào GIS để hiệu
chỉnh, cập nhật để sử dụng xây dựng bản đồ định hướng tổ chức không gian du lịch
sinh thái cộng đồng tại vùng đệm Khu BTTN Tiền Hải – Thái Bình.
8
Các bước tiến hành theo sơ đồ dưới đây.
Hình 1. Sơ đồ các bước nghiên cứu
1.2. Cơ sở lý luận về du lịch sinh thái và du lịch sinh thái cộng đồng
KHU BTTN TIỀN HẢI - THÁI BÌNH
CÔNG TÁC CHUẨN BỊ
- Tổng quan tài liệu
- Xác định mục tiêu, đối tƣợng, nội
dung, quan điểm và phƣơng pháp
nghiên cứu
9
“DLST là du lịch đến những khu tự nhiên hầu như không bị ô nhiễm hoặc ít bị
xáo trộn với mục tiêu đặc biệt: nghiên cứu, thưởng ngoạn, trân trọng khung cảnh và
muông thú hoang dã và các biểu thị văn hóa được khám phá trong các khu vực
này”.
Năm 1991, Wood đưa ra khái niệm về du lịch sinh thái:
“Du lịch sinh thái là du lịch đến các khu vực còn tương đối hoang sơ với mục
đích tìm hiểu về lịch sử môi trường tự nhiên và văn hoá mà không làm thay đổi sự
toàn vẹn của các hệ sinh thái. Đồng thời tạo những cơ hội về kinh tế để ủng hộ việc
bảo tồn tự nhiên và mang lại lợi ích về tài chính cho người dân địa phương.”
Năm 1993, Lindberg và Hawkins đã đưa ra một khái niệm về DLST: “DLST là
du lịch có trách nhiệm với các khu thiên nhiên, là công cụ để bảo tồn môi trường và
cải thiện phúc lợi cho nhân dân địa phương”.
Năm 1994, Buckley đã tổng quan về du lịch sinh thái như sau :
“Chỉ có du lịch dựa vào thiên nhiên, được quản lý bền vững, hỗ trợ bảo tồn, và
có giáo dục môi trường mới được xem là du lịch sinh thái”
Tiếp sau đó Tổ chức Bảo vệ Thiên nhiên Thế giới (IUCN) đã đưa ra khái niệm
của mình:
“DLST là tham quan và du lịch có trách nhiệm với môi trường tại các điểm tự
nhiên không bị tàn phá để thưởng thức thiên nhiên và các đặc điểm văn hóa đã tồn
tại trong quá khứ hoặc đang hiện hành, qua đó khuyến khích hoạt động bảo vệ, hạn
chế những tác động tiêu cực do khách tham quan gây ra, và tạo ra ích lợi cho những
người dân địa phương tham gia tích cực”.
8. Điều đạt được từ hoạt động này là sự giáo dục và sự hiểu biết hơn là các cảm
giác kỳ thú hay các hưởng thụ cơ học khác như thường thấy ở du lịch mạo hiểm.
9. Hoạt động này yêu cầu nhiều chuẩn bị và kiến thức sâu rộng của các hướng
dẫn viên và du khách. Sự thoả mãn được kết tụ từ kinh nghiệm du lịch được cảm
thấy và biểu lộ cảm xúc mạnh mẽ và gây cảm hứng.
11
Một số Quốc gia cũng đưa ra khái niệm của mình về du lịch sinh thái như:
Định nghĩa của Nêpal:
“Du lịch sinh thái là loại hình du lịch đề cao sự tham gia của nhân dân vào việc
hoạch định và quản lý các tài nguyên du lịch để tăng cường phát triển cộng đồng,
liên kết giữa bảo tồn thiên nhiên và phát triển du lịch, đồng thời sử dụng thu nhập
từ du lịch để bảo vệ các nguồn lực mà ngành du lịch phụ thuộc vào”.
Định nghĩa của Malaysia:
“Du lịch sinh thái là hoạt động du lịch và thăm viếng một cách có trách nhiệm
về mặt môi trường tới những khu thiên nhiên còn nguyên vẹn, nhằm tận hưởng và
trân trọng các giá trị của thiên nhiên (và những đặc tính văn hoá kèm theo, trước
đây cũng như hiện nay), mà hoạt động này sẽ thúc đẩy công tác bảo tồn, có ảnh
hưởng của du khách không lớn, và tạo điều kiện cho dân chúng địa phương được
tham dự một cách tích cực có lợi về xã hội và kinh tế ”
Định nghĩa của Australia:
“Du lịch sinh thái là du lịch dựa vào thiên nhiên có liên quan đến sự giáo dục
và diễn giải về môi trường thiên nhiên và được quản lý bền vững về mặt sinh thái”.
Theo Tổ chức du lịch sinh thái quốc tế cũng đưa ra quan điểm về du lịch sinh
thái như sau:
“Du lịch sinh thái là chuyến du hành có trách nhiệm, đến những khu vực tự
nhiên, gìn giữ bảo vệ môi trường và góp phần cải thiện phúc lợi xã hội cho người
dân địa phương”.
Năm 2000, Lê Huy Bá cũng đưa ra khái niệm về du lịch sinh thái:
“DLST là một loại hình du lịch lấy các hệ sinh thái đặc thù, tự nhiên làm đối
quan tâm đến môi trường và đặc biệt là phải có trách nhiệm về các giá trị thiên
nhiên, văn hoá và lợi ích tài chính với cộng đồng dân cư tại nơi du lịch.
Ở Việt Nam, DLST là lĩnh vực mới được đặt ra nghiên cứu từ giữa thập kỷ 90
song đã thu hút được sự quan tâm đặc biệt của các nhà nghiên cứu về du lịch và môi
13
trng. Tuy nhiờn cng cha a ra c quan im chung nht v Du lch sinh
thỏi do cú nhng gúc nhỡn nhn khỏc nhau.
cú c s thng nht v khỏi nim c s cho cụng tỏc nghiờn cu v hot
ng thc tin phỏt trin DLST, Tng cc Du lch Vit Nam ó phi hp vi nhiu
T chc quc t nh ESCAP, WWF, IUCN cú s tham gia ca cỏc chuyờn gia,
cỏc nh khoa hc quc t v Vit Nam v DLST v cỏc lnh vc liờn quan, t chc
Hi tho quc gia v Xõy dng chin lc phỏt trin Du lch sinh thỏi Vit
Nam t ngy 7 n 9/9/1999. Mt trong nhng kt qu quan trng ca Hi tho
l ln u tiờn ó a ra nh ngha v DLST Vit Nam, theo ú:
Du lch sinh thỏi l loi hỡnh du lch da vo thiờn nhiờn v vn hoỏ bn
a gn vi giỏo dc mụi trng, cú úng gúp cho n lc bo tn v phỏt trin
bn vng vi s tham gia tớch cc ca cng ng a phng.
õy c coi l s m u thun li cho cỏc bc tip theo trong quỏ trỡnh
phỏt trin ca DLST Vit Nam.
tế DLST là một khái niệm khá mới mẻ. Hơn nữa, chưa có một định nghĩa về DLST
nào được chấp nhận và có thể ước lượng. Để khắc phục được khó khăn này, Fillion,
et al (1992) đã trang bị một quy trình gồm 3 bước cho phép thiết lập các con số ước
lượng có thể được sử dụng cho cá dữ liệu có sẵn về du lịch.
+ Kiểm tra lại các nghiên cứu cấp vùng về du lịch có liên quan đến thiên nhiên.
+ Thiết lập các con số ước lượng về DLST
+ Áp dụng các con số ước lượng vào dữ liệu của UN WTO về du lịch toàn cầu.
Kết quả cho thấy DLST đóng góp vào khoảng 93 – 233 tỷ USD cho thu nhập
quốc gia của các nước có DLST năm 1988. Du lịch liên quan đến chim có thể thu
hút khoảng 78 triệu khách du lịch với lợi nhuận là 78 tỷ USD cho nền kinh tế của
các nước được tới thăm (Fillion, et al 1992).
Ngắm chim, là một trong những hoạt động giải trí phát triển với tốc độ nhanh
nhất ở Bắc Mỹ, với khoảng từ 20 – 30 triệu người tham gia mỗi năm (jacquemot và
Fillion, 1987)
Hoạt động ngắm chim là một khoản chi tiêu kinh tế lớn, ước lượng một cách
khiêm tốn, hơn 20 tỷ USD cho Bắc Mỹ mỗi năm (US fish and Wild Life Service,
1982). Ngoài ra nhiều người ngắm chim ở Bắc Mỹ giờ đây dang tổ chức những
chuyến đi tới các vùng xa xôi. Tại costa Rica, giá trị du lịch từ tổ chức tham quan
cho những người đến ngắm loài chim Pharomachrus mocinno đã khuyến khích địa
phương bảp vệ những cánh rừng đang bị mất đi của Monteverde. Vậy mà đóng góp
vào phát triển kinh tế của hoạt động ngắm chim thường bị đánh giá thấp.
Tuy nhiên, lợi ích tài chính thu được từ dịch vụ du lịch chỉ có giá trị cho các tài
nguyên mà du lịch dựa vào nếu các lợi ích này được sử dụng – ít nhất một phần để
duy trì các tài nguyên này. Tại Mỹ, lợi nhuận sản sinh từ du lịch tham quan các
15
VQG lên tới 3 tỷ USD mỗi năm. Cho đến nay, các lợi nhuận này chủ yếu rơi vào
tay các chủ khách sạn, chủ nhà hàng, những người bán xăng dầu, dụng cụ câu cá và
áo phông. Những lợi nhuận này có thể có lợi cho VQG nếu như những người nhận
được các nguồn thu này thành lập một nhóm có nhiệm vụ tăng cường bảo vệ VQG.
công cụ có lợi giúp cho việc nâng cao chất lượng đời sống.
Thật không may, quan hệ của du lịch và bảo tồn thường đi từ cùng tồn tại tói
mâu thuẫn. Điều này có một vài lý do: quản lý không tốt, thiếu hiểu biết, ở cả hai
bên về mục đích và mục tiêu của nhau, sự bùng nổ của du lịch cũng như sự suy
thoái và mất đi các khu thiên nhiên. Sự mở rộng qui mô của du lịch mà không có
quy hoạch cẩn thận.
Nhưng tình trạng không nhất thiết phải như vậy, một sự chuyển đổi về tư tưởng
của cả hai bên có thể dẫn đến một số lợi ích cho quốc gia. Một mối quan hệ cộng
sinh hai bên cùng có lợi giữa những người làm công tác du lịch và những người
chịu trách nhiệm cho bảo tồn môi trường là có thể đạt được.
1.2.2. Cơ sở lý luận về du lịch sinh thái cộng đồng trên quan điểm tài
nguyên và môi trƣờng.
- Khái niệm về du lịch sinh thái cộng đồng
Năm 1940, lần đầu tiên khái niệm phát triển cộng đồng được bàn đến ở các nước
thuộc địa của Anh. Năm 1950, tổ chức Liên Hợp Quốc chính thức công nhận khái
niệm cộng đồng và khuyến khích các quốc gia sử dụng khái niệm này như một định
hướng để phát triển. Cơ sở của phát triển cộng đồng dựa trên 3 nguyên lý chính: thứ
nhất về tính tương đối của phát triển cộng đồng, thứ hai về tính đa dạng của phát
triển cộng đồng và thứ ba về tính bền vững của phát triển cộng đồng. Có ba thể chế
chủ yếu tham gia vào sự phát triển của cộng đồng đó là sự tự quản cộng đồng, sự
quản lý của Nhà nước và sự can thiệp của thị trường.
Triết lý tham dự là một trong những quan điểm quan trọng của phát triển cộng
đồng. Triết lý này thể hiện rõ rằng để cho cộng đồng phát triển tốt đẹp, bền vững thì
phải có sự phối hợp của tất cả các lực lượng xã hội, của các tổ chức và thiết chế xã
17
hội, mà tạm hình dung là có 4 lực lượng chủ chốt tham dự vào phát triển cộng đồng
là: bản thân cộng đồng, Nhà nước, thị trường và các nhân tố xã hội khác.
Du lịch sinh thái cộng đồng được hiểu là loại hình du lịch sinh thái có sự tham
gia tích cực của cộng đồng, trong đó cộng đồng địa phương là chủ sở hữu, dựa trên
chủ thể, là những nghệ nhân.
Một số vấn đề quan trọng cần thiết cho phát triển DLST cộng đồng bao gồm :
+ Việc quản lý và kiểm soát hoạt động phát triển DLST ở các vùng tự nhiên chủ
yếu phải do cộng đồng địa phương đảm trách.
+ Cần có được nhận thức một cách đầy đủ và đúng đắn về sự cần thiết bảo vệ
các vùng tự nhiên nhằm bảo tồn đa dạng sinh học và đa dạng văn hoá.
+ Cần có được những dự báo và biện pháp kiểm soát bổ sung khi tổ chức phát
triển hoạt động DLST ở những khu vực có tính nhạy cảm đặc biệt về môi trường.
+ Cần đảm bảo các quyền lợi truyền thống của cộng đồng và quyền lợi của địa
phương ở những khu vực thuận lợi cho phát triển DLST.
- Cơ sở lý luận về du lịch sinh thái cộng đồng trên quan điểm tài nguyên và môi trường
Bảo vệ tài nguyên, môi trường cộng đồng được hiểu đồng nhất với thuật ngữ
bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, môi trường có sự tham gia của cộng đồng nhưng ở
mức cao hơn. Cộng đồng không chỉ tham gia mà là tham dự, không chỉ bàn bạc mà
cả đi đến thống nhất và thực hiện, không chỉ là hội họp mà còn cả triển khai, thực
thi. Nội dung bảo vệ tài nguyên, môi trường ở cộng đồng bao gồm:
+ Cộng đồng xác lập các vấn đề ưu tiên cho phát triển cộng đồng.
+ Cộng đồng tìm ra cách để giải quyết các vấn đề ưu tiên, lập dự án, chương
trình và kế hoạch thực hiện.
+ Cộng đồng tìm kiếm sự liên kết, hỗ trợ cho mình để thực hiện dự án, chương
trình đã lập ra.
+ Tổ chức thực hiện
+ Đánh giá từng công đoạn, hiệu chỉnh trong quá trình thực hiện nếu thấy cần thiết.
19
+ Kết thúc đánh giá tổng thể.
+ Xác lập ưu tiên mới.
Đây là quy trình khép kín, lặp đi lặp lại nhưng ở trình độ lần sau cao hơn lần
trước. Điểm mấu chốt của phương pháp bảo vệ môi trường ở cộng đồng là xuất phát
từ cộng đồng, vì cộng đồng và động lực của nó là tiềm lực to lớn của cộng đồng.
quyền kiểm soát những đối tượng gây ô nhiễm môi trường, dù là thuộc nhà nước
hay tư nhân. Các cơ quan có trách nhiệm kiểm tra ô nhiễm có kế hoạch phân phát
cho các cộng đồng địa phương và các tổ chức phi chính phủ các bản tóm tắt về báo
cáo đánh giá tác động môi trường với ngôn ngữ dễ hiểu, mạch lạc, thông báo về các
kết quả giám sát môi trường. Khi đó, các nhóm cộng đồng có thể kiểm tra lại nồng
độ các chất thải so với các tiêu chuẩn được quy định và kiện ra toà nếu thực tế sai
khác với báo cáo đánh giá tác động môi trường.
Vai trò của cộng đồng trong việc bảo vệ các khu bảo tồn thiên nhiên ở Cẩm Mỹ,
Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh.
Từ lâu đời, các dân tộc miền núi có quan niệm rằng “ Rừng là tài nguyên vô tận,
không có chủ, ai khai thác được đến đâu thì khai thác”. Từ quan điểm này đã dẫn
đến vô số những hành động xâm phạm, khai thác bừa bãi tài nguyên rừng như: khai
thác gỗ quý, săn bắn động vật quý hiếm… Hậu quả của quá trình khai thác này để
lại những bằng chứng cho đến ngày nay như hệ sinh thái “rừng kín thường xanh”
chỉ còn lại là rừng nghèo, rừng non mới phục hồi, tán che phủ bị phá vỡ, dây leo
phát triển mạnh.
Để tăng cường bảo vệ khu bảo tồn thiên nhiên Kẻ Gỗ, chính quyền địa phương
đã triển khai một số biện pháp phù hợp với sự tham gia tích cực của cộng đồng
nhân dân xung quanh cụ thể như:
+ Thay đổi cơ cấu sản xuất và quan niệm sống của cộng đồng. Quá trình chuyển
đổi phương thức sản xuất rõ nét nhất là: Cộng đồng địa phương ở đây đã chuyển từ
khai thác lâm sản đơn thuần (khai thác tự do dựa vào tài nguyên rừng) sang sản xuất
lâm nghiệp (trồng, khoanh nuôi, khai thác, bảo vệ). Quá trình chuyển đổi này làm
21
thay đổi hoàn toàn quan niệm cũ của cộng đồng, vì họ đã hiểu thế nào là khai thác
lâm sản đơn thuần và thế nào là sản xuất lâm nghiệp.
Ngành sản xuất lâm nghiệp thực sự phát triển, đặc biệt khi có sự hỗ trợ của các
dự án như dự án 4304, 327, dự án trồng rừng Việt - Đức, chương trình 5 triệu ha
rừng… và chính sách giao đất giao rừng của nhà nước. Hiện nay nhiều hộ gia đình