Chuyên đề tốt nghiệp
Trường ĐH Kinh Tế Quốc Dân
LỜI NÓI ĐẦU
67
SV: Nguyễn Thị Lan Lớp NH.K40
Chuyên đề tốt nghiệp
Trường ĐH Kinh Tế Quốc Dân
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam cũng như ở các nước trên toàn thế giới, các DNVVN đang ngày càng khẳng
định vai trò của mình với nền kinh tế - xã hội. Theo thống kê, các DNVVN chiếm tới 75%
tổng số doanh nghiệp trong cả nước, đóng góp hơn 28% GDP và thu hút được một lực
lượng lao động đáng kể, tạo nhiều việc làm, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, khai thác
những tiềm năng trong dân cư. Mặc dù vậy, các doanh nghiệp này vẫn phải đối mặt với
nhiều khó khăn, vướng mắc cần giải quyết, mà một vấn đề nổi cộm là nguồn vốn để các
DNVVN phát triển. Khi các doanh nghiệp này cần vốn, họ thường huy động từ các nguồn
như các cá nhân, doanh nghiệp khác, gia đình bạn bè và một nguồn vốn rất quan trọng là từ
các NHTM. Các NHTM đóng vai trò quan trọng trong việc đáp ứng nhu cầu vay vốn của
các doanh nghiệp. Nhưng bên cạnh đó, việc ngân hàng cho các doanh nghiệp vay vốn ngày
càng tăng cũng cần đòi hỏi mở rộng hoạt động này để hoạt động kinh doanh của ngân hàng
phát triển bền vững.
Nhận thức được vai trò quan trọng của hoạt động cho vay ngân hàng đối với các
DNVVN cũng như qua khảo sát thực tế về tình hình cho vay tại PGD Nam Đô – CN Hà Nội
trong thời gian thực tập, em đã mạnh dạn chọn đề tài cho chuyên đề tốt nghiệp của mình là:
“Mở rộng cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng TMCP Phát triển thành phố Hồ
Chí Minh - Phòng giao dịch Nam Đô – chi nhánh Hà Nội”.
2. Mục đích nghiên cứu của chuyên đề
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về mở rộng cho vay DNVVN của ngân
Chuyên đề tốt nghiệp
Trường ĐH Kinh Tế Quốc Dân
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Sơ đồ 1.1. Quy trình tín dụng và các phương thức cho vay đối với DNVVN 9
Sơ đồ 1.2. Phân loại hoạt động cho vay của NHTM……………………………………… 10
Sơ đồ 1.3. Quy trình cho vay DNVVN………………………………………………… …17
Bảng 2.1. Một số chỉ tiêu về hoạt động của HDBank trong 3 năm gần nhất………… …31
Bảng 2.2. Cơ cấu dư nợ tín dụng theo thời hạn vay qua các năm…………… ……… 33
Hình 2.1 Cơ cấu dư nợ tín dụng theo thời hạn vay giai đoạn 2009 – 2011…… …….……33
Bảng 2.3. Cơ cấu dư nợ phân theo đối tượng khách hàng vay…………… ………….… 34
Bảng 2.4. Cơ cấu dư nợ theo chất lượng tín dụng……………………………….………….35
Bảng 2.5. Cơ cấu dư nợ tín dụng theo ngành kinh tế 36
67
SV: Nguyễn Thị Lan Lớp NH.K40
Chuyên đề tốt nghiệp
Trường ĐH Kinh Tế Quốc Dân
DANH MỤC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Giải nghĩa
DN Doanh nghiệp
DNVVN Doanh nghiệp vừa và nhỏ
NH Ngân hàng
NHTM Ngân hàng thương mại
NH TMCP Ngân hàng thương mại cổ phần
PGD Phòng giao dịch
CN Chi nhánh
TCTD Tổ chức tín dụng
tiền, có thể dùng tiền gửi của người này để cho vay lấy lãi đối với người khác, sau đó đến
hạn thanh toán cho người gửi sẽ thu hồi tiền trở lại. Từ đó những người thợ vàng trở nên
giàu có, và hình thức đầu tiên của NHTM đã ra đời.
Ngày nay, với sự phát triển chóng mặt của nền kinh tế thế giới, hệ thống NHTM ngày
càng đóng vai trò quan trọng. Mạng lưới NHTM không chỉ nằm trong lãnh thổ nội địa, mà
còn mở rộng ra khu vực và quốc tế, phục vụ nhu cầu xuất nhập khẩu và giao thương giữa
các nước. NHTM là thành phần không thể thiếu trong mọi hoạt động kinh doanh của mỗi
quốc gia.
Về định nghĩa NHTM, đã có nhiều quan điểm cũng như định nghĩa khác nhau, nhưng
nhìn chung đều xem xét NHTM với vai trò là một trung gian tài chính trong nền kinh tế thị
trường.
Tại Việt Nam, Luật các tổ chức tín dụng năm 1997 định nghĩa NHTM là một tổ chức
tín dụng thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động khác có liên quan. Luật
này còn định nghĩa TCTD là loại hình doanh nghiệp được thành lập theo quy định của Luật
này và các quy định khác của pháp luật để hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân
hàng với nội dung nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng và cung ứng các dịch
vụ thanh toán.
Theo định nghĩa trên, TCTD bao gồm các NHTM và các tổ chức tín dụng phi ngân
hàng. Tuy nhiên NHTM khác với các TCTD phi ngân hàng ở chỗ, NHTM được thực hiện
toàn bộ hoạt động ngân hàng, là tổ chức nhận tiền gửi và thực hiện các hoạt động thanh
toán. Còn các TCTD phi ngân hàng chỉ được thực hiện một số hoạt động ngân hàng, không
được phép nhận tiền gửi cũng như không cung cấp các dịch vụ thanh toán.
Trong nền kinh tế thị trường, NHTM đóng vai trò là một trung gian tài chính, làm
nhiệm vụ điều phối lại nguồn vốn trên thị trường nhằm đáp ứng nhu cầu tiết kiệm và đầu tư
của xã hội. Với sự tham gia của NHTM, nền kinh tế trở nên sôi động hơn, tiết kiệm được
thời gian và chi phí, kích thích tăng trưởng và đầu tư.
Xét trên phương diện là một tổ chức pháp nhân, NHTM cũng hoạt động như một
doanh nghiệp và chịu sự điều chỉnh của các Bộ luật ngoài ngành như Luật Dân sự, Luật
doanh nghiệp, Luật Đầu tư,…và bao gồm nhiều loại hình khác nhau phù hợp với nhu cầu đa
dạng của xã hội.
khác. NHTM còn sử dụng các công cụ như phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và giấy
tờ có giá để huy động vốn từ các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước. Ngoài ra, NHTM
còn có thể vay vốn từ các TCTD, các NHTM khác, hoặc vay từ NHNN.
Trong hoạt động huy động vốn, NHTM luôn chú trọng xây dựng cơ cấu vốn hợp lí.
Cơ cấu vốn có thể được phân tích dựa trên các tiêu chí theo kì hạn, theo đối tượng khách
hàng,…Việc xem xét cơ cấu vốn dựa trên nhiều tiêu chí khác nhau cho phép ngân hàng
67
SV: Nguyễn Thị Lan Lớp NH.K40
Chuyên đề tốt nghiệp
Trường ĐH Kinh Tế Quốc Dân
đánh giá toàn diện thực trạng nguồn vốn của NH. Cơ cấu vốn linh hoạt và hợp lí là mục tiêu
các NHTM luôn hướng tới.
Mặt khác, để đáp ứng nhu cầu tín dụng đa dạng, NHTM có thể huy động vốn với
nhiều thời hạn khác nhau, nhiều đối tượng khách hàng khác nhau với bảng biểu lãi suất phù
hợp. Do đó cơ cấu vốn ảnh hưởng trực tiếp tới chi phí vốn, phản ánh việc NH huy động vốn
hiệu quả hay không, ảnh hưởng trực tiếp tới kết quả hoạt động kinh doanh của NH. Vì vậy
bên cạnh hoạt động huy động vốn thì hoạt động quản lý nguồn vốn luôn được các NHTM
chú trọng.
Bên cạnh quản lí nguồn vốn và xây dựng một cơ cấu vốn với chi phí hợp lí, NHTM
còn chú trọng phát triển các công cụ nợ, tăng thêm tính đa dạng nhằm hấp dẫn người gửi
tiền, giúp NH chủ động trong việc huy động vốn, bảo đảm hoạt động kinh doanh.
*Hoạt động cấp tín dụng
Hoạt động tín dụng là hoạt động lâu đời nhất và quan trọng nhất của NHTM. Hoạt
động tín dụng đem lại nguồn thu chủ yếu cho NH nhưng đồng thời cũng chứa đựng nhiều
rủi ro. Tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng sử dụng vốn từ NH cho khách hàng
trong một thời hạn nhất định với một khoản chi phí nhất định. NHTM được cấp tín dụng
cho các tổ chức, cá nhân dưới các hình thức cho vay, bảo lãnh, chiết khấu giấy tờ có giá, cho
dụng và chính sách tín dụng.
* Hoạt động dịch vụ, thanh toán và ngân quỹ
Để đáp ứng nhu cầu lưu chuyển tiền tệ trong nước và quốc tế, các NHTM còn thực
hiện chức năng thanh toán. Hoạt động thanh toán bao gồm thanh toán giữa NH với khách
hàng và giữa các NHTM với nhau thông qua NHNN.
Các NHTM được phép mở tài khoản cho khách hàng, thực hiện các thanh toán của
khách hàng thông qua việc điều chỉnh số dư tài khoản. Hoạt động dịch vụ thanh toán và
ngân quỹ của NHTM bao gồm các hoạt động cung cấp dịch vụ thanh toán, thực hiện các
dịch vụ thanh toán trong nước cho khách hàng, các dịch vụ thu hộ và chi hộ, các dịch vụ thu
và phát tiền mặt cho khách hàng, đồng thời NHTM cũng thực hiện các dịch vụ thanh toán
quốc tế khi NHNN cho phép. Bên cạnh đó các NHTM được mở tài khoản tại NHNN và
tham gia vào hệ thống thanh toán liên NH trong nước và tham gia hệ thống thanh toán quốc
tế theo quy định của NHNN.
Hoạt động dịch vụ thanh toán và ngân quỹ của NHTM tạo ra sự đa dạng trong việc
phục vụ lợi ích của khách hàng, là động lực nâng cao năng lực canh tranh giữa các NHTM.
Cùng với tốc độ phát triển của nền kinh tế, nhu cầu sử dụng các dịch vụ NH cũng ngày càng
gia tăng và đòi hỏi cao về chất lượng. Do đó các NHTM luôn chú trọng đảm bảo chất lượng
hoạt động dịch vụ thanh toán và ngân quỹ, giữ gìn uy tín đối với khách hàng. Hệ thống
thanh toán giữa các chi nhánh của NH và giữa các NH trong nước và quốc tế tạo ra sự thông
67
SV: Nguyễn Thị Lan Lớp NH.K40
Chuyên đề tốt nghiệp
Trường ĐH Kinh Tế Quốc Dân
suốt cho nền kinh tế thị trường, kích thích tốc độ tăng trưởng và đầu tư, đầy mạnh phát triển
kinh tế.
1.1.2 Hoạt động cho vay của NHTM
1.1.2.1. Khái niệm hoạt động cho vay
Trường ĐH Kinh Tế Quốc Dân
Nghiệp vụ cho vay từng lần tương đối đơn giản. Ngân hàng có thể kiểm soát từng
món vay tách biệt, tiền cho vay dựa vào giá trị của tài sản đảm bảo.
*Cho vay theo hạn mức tín dụng : Đây là nghiệp vụ tín dụng theo đó ngân hàng
thỏa thuận cấp cho khách hàng hạn mức tín dụng. Hạn mức tín dụng có thể cấp cho cả kỳ
hoặc cuối kỳ. Đó là số dư tối thiếu thời điểm tính.
Hạn mức tín dụng được cấp trên cơ sở kế hoặch sản xuất kinh doanh, nhu cầu vốn và
nhu cầu vay vốn của khách hàng. Trong kỳ khách hàng có thức hiện vay trả nhiều lần, song
dư nợ không vượt quá hạn mức tín dụng .
Mỗi lần vay tiền khách hàng chỉ cần trình bày phương án sử dụng tiền vay, nộp các
chứng tử chứng minh đã mua hàng hoặc dịch vụ và yêu cầu vay, Sau khi kiểm tra tính chất
hợp pháp và hợp lệ của chứng tử, ngân hàng sẽ phát tiền cho khách hàng.
*Cho vay luân chuyển: là nghiệp vụ cho vay dựa trên luân chuyển hàng hóa. Doanh
nghiệp khi mua hàng có thể thiếu vốn . Ngân hàng có thể cho vay để mua hàng và sẽ thu nợ
khi doanh nghiệp bán hàng. Ngân hàng và Khách hàng thỏa thuận với nhau về phương thức
vay, hạn mức tín dụng , các nguồn cung cấp hàng hóa và khả năng tiêu thụ. Đây không phải
là thời hạn hoàn trả mà là thời hạn để ngân hàng xem xét lại mối quan hệ với khách hàng và
quyết định có cho vay nữa hay không tùy mối quan hệ giữa ngân hàng và khách hàng cũng
như tình hình tài chính của khách hàng.
Cho vay luân chuyển rất thuận tiện cho các khách hàng thủ tục vay chi cần thực hiện
một lần cho nhiều lần vay, khách hàng được đáp ứng nhu cầu vốn kịp thời.
*Cho vay trả góp : là hình thức tín dụng , theo đó ngân hàng cho phép khách hàng trả
góp làm nhiều lần trong thời hạn tín dụng đã thỏa thuận. Cho vay trả góp thường được áp
dụng đối với các khoản vay trung và dài hạn, tài trợ cho tài sản cố định hoặc hàng lâu bền.
Số tiền trả mỗi lần được tính toán sao cho phù hợp với khả năng trả nợ ( thường là từ khấu
hao và thu nhập sau thuế của dự án hoặc từ thu nhập hàng kỳ của người tiêu dùng).
Ngân hàng thường cho vay trả góp đối với người tiêu dùng thông qua hạn mức nhất
định. Ngân hàng sẽ thanh toán cho người bán lẻ về số hàng hóa mà khách hàng đã mua trả
góp. Các cửa hàng bán lẻ nhận ngay tiền sau khi bán hàng từ phía ngân hàng và làm đại lý
vốn hoặc phương án vay vốn của khách hàng, trong đó có một tổ chức tín dụng làm đầu mới
dàn xếp, phối hợp với một một tổ chức tín dụng khác. Việc cho vay hợp vốn thực hiện theo
quy đinh của Quy chế cho vay của các tổ chức tín dụng và Quy chế đồng tài trợ của các tổ
chức tín dụng do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành.
Cho vay khác: Ngoài các phương thức trên, ngân hàng có thể cho vay theo các phương
thức mà pháp luật khộng cầm, phù hợp với các quy định tại các Quy chế cho vay của các tổ
chức tín dụng, điều kiện kinh doanh của tổ chức tín dụng và đặc điểm của khách hàng vay.
Vì dụ như cho vay theo dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ các dự án đầu
tư phục vụ đời sống, cho vay gián tiếp ( tức là ngân hàng cho vay thông qua các tổ chức
67
SV: Nguyễn Thị Lan Lớp NH.K40
Chuyên đề tốt nghiệp
Trường ĐH Kinh Tế Quốc Dân
trung gian tổ, đội, nhóm như nhóm sản xuất, Hội nông dân, Hội Cựu chiến binh, Hội Phụ
vữ
* Cho vay theo hạn mức thấu chi : là nghiệp vụ cho vay qua đó NH cho phép người vay
được chi trội trên số dư tiền gửi thành toán của mình đến một thời hạn nhất định và trong
khoảng một thời gian xác định . Giới hạn này là hạn mức thấu chi . Đây là hình thức cho
vay ngắn hạn , linh hoạt, thủ tục đơn giản, phần lớn là không có đảm bảo. Hình thức này
nhín chnug chỉ sử dụng đối với những khách hàng có độ tin cậy cao, thu nhập đều đặn và kì
thu nhập ngắn .
Có thể tóm tắt các phương thức cho vay của NHTM qua sơ đồ sau :
Sơ đồ 1.1. Quy trình tín dụng DNVVN Các phương thức cho vay đối với DNVVN
Bước 2:
Thẩm định và lập báo cáo thẩm định tín dụng
Bước 1:
Lập hồ sơ vay vốn
thu nhập của KH nên rủi ro cao, lãi suất tương đối cao so với các
phương thức cho vay khác
Cho vay luân chuyển
Cho vay dựa trên luân chuyển của hàng hóa, áp dụng với các DN
có quan hệ thường xuyên với NH. Thủ tục đơn giản, mỗi lần vay
chỉ cần xuất trình giấy tờ liên quan khoản vay
- Hạn mức tín dụng được thỏa thuận trước cho một thời gian nhất
định, không có thời hạn nợ rõ ràng.
Chuyên đề tốt nghiệp
Trường ĐH Kinh Tế Quốc Dân
(Nguồn: Giáo trình Ngân hàng thương mại, NXB Thống kê, 2006)
1.1.2.3. Phân loại hoạt động cho vay của NHTM
Sơ đồ 1.2 : Phân loại hoạt động cho vay của NHTM
67
SV: Nguyễn Thị Lan Lớp NH.K40
Chuyên đề tốt nghiệp
Trường ĐH Kinh Tế Quốc Dân
Tiêu chí phân loại hoạt động cho vay
Theo loại khách hàng: Cho vay khách hàng cá nhân, khách hàng doanh nghiệp, khách hàng
tổ chức…
Theo thời hạn vay: Cho vay ngắn hạn, trung hạn, dài hạn
Theo tính chất đảm bảo: Cho vay thế chấp, cầm cố, tín chấp, bảo lãnh của bên thứ 3….
Theo phương pháp cấp tiền vay: Cho vay từng lần, theo hạn mức, luân chuyển, thấu
chi….
Theo cách thức trả nợ: Trả một lần cả gốc lẫn lãi, trả lãi và gốc đều nhiều lần trong kỳ, trả lãi
đều, gốc theo thời hạn
SV: Nguyễn Thị Lan Lớp NH.K40
Chuyên đề tốt nghiệp
Trường ĐH Kinh Tế Quốc Dân
Có nhiều cách để phân loại doanh nghiệp. Dựa vào quy mô kinh doanh, Doanh
nghiệp được chia thành: doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp vừa và nhỏ. Trong đó có hai tiêu
thức được sử dụng phổ biến nhất là số lao động thường xuyên và vốn sản xuất kinh
doanh.Việc xác định DNVVN do đó phải dựa vào tiêu thức trên.
Tùy từng đặc điểm và quy định của mỗi nước mà DNVVN được định nghĩa theo các
cách khác nhau. DNVVN được định nghĩa chung nhất là những cơ sở sản xuất kinh doanh
có tư cách pháp nhân, kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận, có quy mô doanh nghiệp trong
những giới hạn nhất định tích theo các tiêu thức vốn và số lượng lao động .
Trong phần các hình thức cho vay của ngân hàng thì doanh nghiệp vừa và nhỏ được
để cập dưới tiêu thức phân loại là đối tượng cho vay.
Ở Việt Nam : theo Nghị định 90/2001/NĐ-CP ngày 23/11 của Chính phủ về trợ giúp
phát triển DNVVN đã đưa ra khái niệm: “ DNVVN là những cơ sở sản xuất kinh doanh độc
lập, có đáng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không qúa 10 tỷ đồng
hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người”
Như vậy, DNVVN ở Việt Nam bao gồm:
- Các doanh nghiệp thành lập và hoạt động theo luật doanh nghiệp, luật doanh
nghiệp Nhà nước.
- Các hợp tác xã thành lập và hoạt động theo luật hợp tác xã.
- Các hộ kinh doanh cá thể đăng ký kinh doanh theo Nghị định 02/2000/NĐ- CP
ngày 03/02/2001 về đăng ký kinh doanh .
1.2.1.2. Đặc điểm của DNVVN
DNVVN chiếm đại đa số trong tổng số DN tại các quốc gia và đóng góp lớn vào việc
thực hiện các chính sách về kinh tế - xã hội. Hoạt động của DNVVN luôn gắn liền với thể
chế chính sách và trình độ phát triển của quốc gia đó. Nhìn chung, các DNVVN ở Việt Nam
cũng mang những đặc điểm tương đồng với DNVVN ở các nước đang phát triển. Những
đặc điểm đó là:
do chưa có nhiều kinh nghiệm trong việc mua và chuyển giao công nghệ, nên hầu như các
máy móc thiết bị không sử dụng được hoặc sử dụng không đúng năng suất. Thậm chí một số
chủ DN do không có kinh nghiệm nên trở thành nạn nhân của những thương vụ chuyển giao
công nghệ, gây thiệt hài nặng nề cho bản thân DN.
Mặt khác, do chi phí nhập ngoại công nghệ tương đối lớn so với quy mô vốn nên các
DNVVN thường không đủ khả năng để đổi mới một cách đồng bộ. Nhiều DNVVN đã chọn
phương án mỗi kì mua một ít, rồi sau đó mới cải tiến dần dần. Điều này đã gây ra việc dây
chuyền sản xuất không thể khai thác hết công suất, sản phẩm sản xuất ra không đảm bảo
chất lượng, không có sức cạnh tranh trên thị trường…
Trình độ và năng lực của đội ngũ quản lý DN là một trong những nguyên nhân chính
dẫn đến tình trạng trên. Nhiều chủ DN không nhận thức được tầm quan trọng của công cuộc
67
SV: Nguyễn Thị Lan Lớp NH.K40
Chuyên đề tốt nghiệp
Trường ĐH Kinh Tế Quốc Dân
đổi mới công nghệ, hoặc nhận thức được nhưng không đủ nỗ lực và nhạy bén để thực hiện.
Qua khảo sát, phần lớn chủ các DNVVN không được qua các trường lớp đào tạo chính quy,
điều này phần nào hạn chế tầm nhìn chiến lược phát triển lâu dài cho DN. Trình độ và năng
lực của đội ngũ quản lý DNVVN hiện đang là một vấn đề được các nước rất quan tâm và
chú trọng cải thiện.
Thứ ba, DNVVN góp phần giải quyết hiệu quả vấn đề lao động và việc làm, nhưng
phần lớn đội ngũ lao động còn yếu kém.
Khác với các DN và các tập đoàn kinh tế lớn, đội ngũ lao động của DNVVN có trình
độ khá đa dạng. Từ lao động thủ công, lao động có tay nghề đến lao động có trình độ cao
đều có cơ hội làm việc tại các DNVVN, trong đó phần lớn là lao động với trình độ thấp.
Chính vì vậy việc quản lý và sử dụng lao động tại các DN này thường không hiệu quả.
Nguyên nhân đầu tiên dẫn đến việc chất lượng lao động tại các DNVVN còn thấp là
sẵn có và không thu hút được các lao động mới có trình độ cao.
Thứ tư, DNVVN có quy mô vốn nhỏ nên năng lực cạnh tranh còn thấp.
Quy mô vốn là tiêu chí chủ yếu để phân biệt DNVVN với DN lớn. Đây cũng chính là
nguyên nhân dẫn đến các đặc điểm chính của DNVVN. Có thể nói, vì thiếu vốn nên DN gặp
khó khăn trong đổi mới công nghệ, đào tạo đội ngũ quản lý và nâng cao năng lực cạnh tranh
trong nền kinh tế thị trường.
Việt Nam đang trên lộ trình thực hiện các cam kết với tổ chức thương mại thế giới
WTO, hàng rào thuế quan từng bước được dỡ bỏ đồng nghĩa với việc hàng hóa của Việt
Nam bình đẳng với hàng hóa của các nước khác trên thị trường thế giới. Nói cách khác, các
DN Việt Nam không còn được bảo hộ thương mại như trước đây, đặc biệt là DNVVN. Các
DNVVN Việt Nam với quy mô vốn thấp và còn nhiều hạn chế về công nghệ, lao động, trình
độ của đội ngũ quản lý…nên phải đứng trước rất nhiều khó khăn.
Vấn đề đặt ra đối với các DNVVN lúc này là phải mở rộng quy mô vốn nhằm đáp
ứng kịp thời nhu cầu sản xuất kinh doanh và mở rộng tái sản xuất. Mặt khác, DNVVN hầu
như không đáp ứng đủ yếu cầu để tham gia vào thị trường chứng khoán, nên không thể trực
tiếp huy động vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh. Vì vậy DNVVN chủ yếu huy động vốn
từ gia đình, bạn bè, và một số là từ vay các cá nhân khác với lãi suất cao. Vì vậy DNVVN
rất khó mở rộng quy mô vốn.
Bên cạnh đó, việc tiếp cận tín dụng ngân hàng của các DNVVN còn gặp nhiều khó
khăn. Chính tình trạng này đã khiến cho các DNVVN thiếu các dịch vụ kinh doanh tiên tiến
nhằm đáp ứng thị trường, và không theo kịp tốc độ cạnh tranh của nền kinh tế quốc tế.
1.2.1.3. Vai trò của DNVVN
Thứ nhất, DNVVN đóng góp lớn vào thu nhập của nền kinh tế quốc dân, góp phần
giải quyết công ăn việc làm và ổn định kinh tế xã hội.
67
SV: Nguyễn Thị Lan Lớp NH.K40
Chuyên đề tốt nghiệp
dựa trên các nguồn lực sẵn có, kinh doanh dựa trên môi trường pháp lý của địa phương. Từ
67
SV: Nguyễn Thị Lan Lớp NH.K40
Chuyên đề tốt nghiệp
Trường ĐH Kinh Tế Quốc Dân
đó, DN mới khẳng định được vị thế của mình và mở rộng hoạt động ra cả nước cũng như
quốc tế. Hoạt động sản xuất kinh doanh của các DN thường gắn bó chặt chẽ với việc khai
thác nguồn lực địa phương. Tỉnh có địa hình đẹp thường phát triển ngành du lịch, tỉnh có
truyền thống văn hóa lâu đời thì phát triển du lịch làng nghề, các thành phố trẻ chủ yếu phát
triển các ngành dịch vụ mới….Bên cạnh đó, DNVVN chiếm tuyệt đại đa số trong nền kinh
tế địa phương nên đóng góp rất lớn vào sản lượng cũng như giải quyết công ăn việc làm cho
người lao động. Việt Nam đang thực hiện công nghiệp hóa đất nước, vì vậy từng bước phát
triển vững chắc các DNVVN dựa trên nguồn lực sẵn có là hướng đi đúng đắn. Đồng thời,
DNVVN góp phần thu hút vốn đầu tư nước ngoài và là trụ cột để nâng cao năng lực cạnh
tranh của địa phương trong thời đại mở cửa và hội nhập.
Thứ tư, DNVVN hỗ trợ hiệu quả các khâu sản xuất kinh doanh cho DN lớn, là nền
tảng để hình thành các DN lớn mạnh trong nền kinh tế thị trường. Bất cứ DN nào muốn lớn
mạnh cũng phải xuất thân từ một DNVVN. Vì vậy, việc phát triển lực lượng DNVVN sẽ tạo
đà cho nền kinh tế phát triển vững chắc và hội nhập sâu rộng vào sân chơi thương mại quốc
tế.
Bên cạnh đó, cùng với việc phân công lao động xã hội ngày càng sâu sắc, các
DNVVN cũng ngày càng thể hiện vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ hoạt động cho các DN
lớn. DNVVN có thể thực hiện các khâu gia công, đóng gói, vận chuyển, phân phối ra thị
trường, nhận thực hiện một phần của các dự án hoặc cung cấp nguyên liệu đầu vào cho hoạt
động sản xuất kinh doanh của các DN, các tập đoàn kinh tế lớn mạnh hơn. Đây là sự phân
phối khối lượng công việc một cách tất yếu khách quan, tiết kiệm thời gian và chi phí, tạo ra
mối liên kết chặt chẽ giữa các thành viên trong nền kinh tế thị trường và đem lại hiệu quả
tài liệu và
thông tin
Kết quả ghi nhận:
-Biên bản, báo cáo
- Tờ trình
- Giấy tờ về bảo đảm
nợ
Tổ chức phân tích và
thẩm định:
-Pháp lý
- Đảm bảo nợ vay
Thu thập thông
tin qua phỏng
vấn, viếng
thăm, trao đổi
Từ chốiQuyết định cho vay:
-Hội đồng phán quyết
- Cá nhân phán quyết
Giấy
báo lý
do
Cập nhật thông tin
thị trường chính
sách, khung pháp
lý
Hợp đồng tín dụng:
-Đàm phán
-Ký kết hợp đồng
-Ký kết hợp đồng phụ khác
1.2.3.1. Khái niệm mở rộng cho vay đối với DNVVN của NHTM
Mở rộng cho vay DNVVN của NHTM là tất cả mọi hoạt động của NH nhằm tăng số
lượng và quy mô cho vay đối với DNVVN.
Để thực hiện mở rộng cho vay DNVVN, NHTM phải thực hiện kết hợp nhiều hoạt
động khác nhau, được vạch ra cụ thể bằng chính sách tín dụng và phương hướng cụ thể cho
mỗi thời kì. Các biện pháp đó nhằm kích thích gia tăng nhu cầu của đối tượng khách hàng là
DNVVN đối với tín dụng ngân hàng, đồng thời tăng cường khả năng cung ứng của ngân
hàng đối với các DN đó. Mở rộng cho vay DNVVN dựa trên tiêu chí số lượng, quy mô và
chất lượng. Đó là định hướng mở rộng cho vay DNVVN bền vững, hiệu quả và an toàn
nhất.
1.2.3.2. Các chỉ tiêu phản ánh việc mở rộng cho vay DNVVN của NHTM
Để đánh giá hiệu quả mở rộng cho vay đới với DNVVN của NHTM phải thông qua
nhiều chỉ tiêu khác nhau, bao gồm:
* Số lượng DNVVN có quan hệ tín dụng với NH: Đây là chỉ tiêu đơn giản, dễ thống
kê, cho biết tỷ trọng DNVVN trong tổng số DN có quan hệ tín dụng với NH. So sánh tỉ lệ
này với tỉ lệ cơ cấu DN tại địa phương và trong xã hội để nhận xét định hướng đúng đắn
trong mở rộng cho vay DNVVN của NH.
67
SV: Nguyễn Thị Lan Lớp NH.K40
Chuyên đề tốt nghiệp
Trường ĐH Kinh Tế Quốc Dân
* Doanh số cho vay: phản ánh mức tăng quy mô cho vay đối với DNVVN.
* Tình hình dư nợ cho vay DNVVN : phản ánh quy mô cho vay đối với DNVVN của
NH qua các năm. Trong dư nợ có thể phân theo thành phần kinh tế, ngành nghề kinh tế, theo
địa bàn, theo thời hạn cho vay…nhằm đánh giá tính hợp lí của cơ cấu dư nợ so với xu
hướng phát triển của nền kinh tế.
Tốc độ tăng trưởng dư nợ cho vay DNVVN