BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
VŨ ĐỨC HÙNG
GIẢI PHÁP TỔ CHỨC KHAI THÁC HỢP LÝ
NGUỒN LỢI NGHÊU GIỐNG TỰ NHIÊN TẠI XÃ
ĐẤT MŨI, HUYỆN NGỌC HIỂN, TỈNH CÀ MAU LUẬN VĂN THẠC SĨ
Khánh Hòa-2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG VŨ ĐỨC HÙNG
GIẢI PHÁP TỔ CHỨC KHAI THÁC HỢP LÝ NGUỒN LỢI
NGHÊU GIỐNG TỰ NHIÊN TẠI XÃ ĐẤT MŨI, HUYỆN
gia của tôi thực hiện trong các chuyến điều tra và kết hợp trong các chuyến kiểm tra
trên biển. Các số liệu về tàu thuyền, nghề nghiệp khai thác, các văn bản quy phạm
pháp luật về lĩnh vực hải sản, công tác quản lý Nhà nước về thuỷ sản sản tại địa
phương được thu thập tại Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Cà Mau, Chi cục
Biển và Hải đảo tỉnh Cà Mau và các đơn vị có liên quan khác trong, ngoài tỉnh.
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về các nội dung nghiên cứu trong Luận
văn này. Người cam đoan Vũ Đức Hùng
ii
iii MỤC LỤC
Contents
LỜI CAM ĐOAN i
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ vii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I. TỔNG QUAN 4
1.1. Một số đặc điểm về nguồn lợi nghêu Meretrix lyrata (Sowerby, 1851). 4
1.2. Ảnh hướng của các yếu tố môi trường đến sinh sản và phát triển của nghêu. 8
1.3. Tình hình chung về quản lý nguồn lợi nghêu 11
1.4. Tổng quan về điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội xã Đất Mũi, Ngọc Hiển 16
CHƯƠNG 2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
2.1. Phạm vi nghiên cứu 22
2.2. Thời gian và đối tượng nghiên cứu 22
2.3. Phương pháp thu thập thông tin 23
2.4. Xử lý, phân tích các số liệu, thông tin thu thập. 31
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 32
3.1. Thực trạng nguồn lợi và phân bố nghêu tại xã Đất Mũi 32
3.2. Sự biến động của nghêu giống 34
3.3. Hiện trạng khai thác nghêu của xã Đất Mũi 43
a. Phương tiện khai thác nghêu 43
b. Ngư cụ khai thác nghêu 44
3.4. Thực trạng khai thác nghêu giống tại Đất Mũi, Ngọc Hiển, Cà Mau 47 v
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
BVNLTS Bảo vệ nguồn lợi thủy sản
BV&PTNLTS Bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản
ĐNB Đông Nam Bộ
ĐVTM Động vật thân mềm
KT&BVNLTS Khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản
KT-XH Kinh tế - xã hội
NTTS Nuôi trồng thủy sản
NLTS Nguồn lợi thủy sản
NN&PTNT Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
UBND Ủy ban nhân dân
VQG Vườn Quốc Gia
vii
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Hình 1: Hình thái mặt trong và ngoài của vỏ nghêu (Meretrix lyrata) 4
Hình 2. Vị trí phân bố của nghêu Meretrix lyrata ở ĐBSCL 8
Hình 3. Khai thác nghêu giống (nghêu con) tại xã Đất Mũi năm 2012 10
Hình 4. Bản đồ tỉnh Cà Mau 17
Hình 5. Ranh giới nghiên cứu của Đề tài 23
Hình 6. Tóm tắt sơ đồ điều tra phi thực nghiệm của đề tài 25
Hình 7. Kiểm tra nghêu giống xuất hiện 26
Hình 8. Sàng lựa nghêu giống 26
Hình 9. Vợt sàng nghêu giống 27
Hình 10. Dụng cụ thu nghêu giống 27
Hình 33. Cấu tạo vợt khai thác nghêu giống 45
Hình 34. Kết cấu bộ phận hút nghêu 46
Hình 35. Khai thác nghêu giống 47
Hình 36. Sàng lọc loại bỏ tạp chất, trước khi thả ươm. 47
Hình 37. Sự biến động về số người tham gia khai thác nghêu 49
Hình 38. Biến động ngư cụ cào tay 50
Hình 39. Biến động phương tiện cào máy 51
Hình 40. Biến động sản lượng nghêu giống theo năm 52
Hình 41. Mô hình Schaefer và Fox 53
Hình 42. Khu vực bãi nghêu giống không xuất hiện từ năm 2011-2012 54
Hình 43. Khai thác nghêu giống trái phép trong khu vực HTX Khai Long 55
Hình 44. Hiện trạng khai thác nghêu giống tại xã Đất Mũi 58
Hình 45. Đề xuất phân vùng quy hoạch khai thác, ương và nuôi nghêu thương phẩm 61
Hình 46. Bản đồ phân vùng chi tiết quy hoạch khai thác, ương và nuôi nghêu thương phẩm
62 ix 1 MỞ ĐẦU
Động vật thân mềm (Mollusca) giữ vai trò khá quan trọng trong sản lượng khai
thác thủy sản hàng năm trên thế giới. Theo thống kê của FAO năm 2012, động vật thâm
Trong những năm qua nghề khai thác và nuôi nghêu thương phẩm ở các tỉnh như
Tiền Giang, Bến Tre và Cà Mau đã khẳng định được vị trí và tâm quan trọng trong phát
triển kinh tế, góp phần xóa đói giảm nghèo và cải thiện đáng kể đời sống cho người dân
vùng ven biển. Tuy nhiên, trong thời gian gần đây tình hình quản lý, khai thác và sử dụng
nguồn lợi nghêu giống ở hầu hết các địa phương này trong đó có tỉnh Cà Mau đang tồn
tại rất nhiều bất cập tình trạng khai thác nghêu giống tràn lan, tập trung đông người, khai
thác tận thu đang hủy diệt bãi nghêu các vùng ven biển.
Ở Cà Mau từ năm 2010 trở lại đây, nghêu giống tự nhiên (Meretrix lyrata) xuất
hiện khá nhiều và trở thành đối tượng khai thác mới ở vùng nước biển ven bờ Đông tỉnh
Cà Mau. Sản lượng khai thác nghêu giống tự nhiên lên đến hàng trăm tấn/năm. Tuy vậy,
trong những năm gần đây việc khai thác nguồn lợi nghêu giống tự nhiên diễn ra hết sức
phức tạp, tập trung đông người có lúc lên đến 10.000 người, có trên 800 máy hút cát để
lọc nghêu giống, gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới nguồn lợi nghêu giống và môi trường
sinh thái. Các tranh chấp mâu thuẫn, xung đột giữa những người khai thác nghêu với
nhau và với chính quyền thường xuyên xảy ra, gây mất an ninh trật tự khu vực ven biển
tỉnh Cà Mau. Trong khi các nỗ lực của chính quyền các cấp trong việc tìm ra các giải
pháp để quản lý nguồn lợi nghêu giống tự nhiên tại đây chưa mang lại hiệu quả.
Xuất phát từ những thực trạng trên, tôi đề xuất đề xuất đề tài “Giải pháp tổ chức
khai thác hợp lý nguồn lợi nghêu giống tự nhiên, xã Đất Mũi, Ngọc Hiển, Cà Mau”
*/. Ý nghĩa lý luận:
Là căn cứ khoa học nhằm đề xuất các giải pháp về tổ chức quy hoạch, quản lý, bảo
vệ và khai thác hợp lý nguồn lợi nghêu giống tự nhiên ven biển mũi Cà Mau, đồng thời
là cơ sở cho việc ứng dụng thí điểm các mô hình quản lý nghề cá nghề tiên tiến trên thế
giới vào địa phương (đồng quản lý nghề cá, quản lý nghề cá dựa vào cộng đồng, ).
*/. Ý nghĩa thực tiễn:
Cung cấp các số liệu về trữ lượng nguồn lợi nghêu giống tự nhiên, bản đồ phân
bố, phương thức khai thác nghêu giống, là cơ sở cho việc quy hoạch bảo tồn và phát
triển nguồn lợi nghêu giống tại địa phương. Từ đó, mang lại hiệu quả kinh tế, giải quyết
công ăn việc làm, cải thiện sinh kế cho một bộ phận người dân địa phương sống chủ yếu
3
4 CHƯƠNG I. TỔNG QUAN
1.1. Một số đặc điểm về nguồn lợi nghêu Meretrix lyrata (Sowerby, 1851).
1.1.1. Đặc điểm hình thái và phân loại.
a. Đặc điểm hình thái.
Các công trình nghiên cứu của Tadashige Habe và Sadao Kossuge (1966), và của
Nguyễn Chính (1996) loài Nghêu ở ĐBSCL được mô tả như sau: Nghêu có hai vỏ dầy,
chắc, có dạng gần tròn, dính chặt nhau bằng một bản lề và gốc vỏ có các răng khớp rất
khít. Mặt trong của vỏ nhẵn trơn, màu trắng ngà. Mặt ngoài vỏ có những đường vân gờ
lồi gần như song song với nhau uốn cong theo miệng vỏ và cùng có tâm là đỉnh vỏ, vỏ
có thể có từ 25 - 60 vân, vỏ càng lớn số vân càng nhiều. Các vân ở gần đỉnh vỏ nhỏ và
khó đếm. Phía sau vỏ có một vệt đen xám lớn từ bản lề khớp vỏ đến gốc sau miệng vỏ.
Vỏ có màu trắng xám hoặc nâu, không có hoa, cá thể có vỏ màu trắng xám chiếm số
lượng nhiều (90%), vỏ màu nâu ít hơn (10%). Hình
1
:
Hình thái mặt trong và ngoài của vỏ nghêu (Meretrix lyrata)
Trương Quốc Phú (1999) đã mô tả chi tiết hình thái cấu tạo ngoài của Nghêu
Meretrix lyrata (Sowerby, 1851) với các đặc điểm chính sau đây: cơ thể Nghêu được bao
bọc bởi 2 mảnh vỏ bằng nhau có dạng hình tam giác (gần tròn), cạnh trước ngắn hơn (chỉ
bằng 2/3 chiều dài cạnh sau). Hai vỏ gắn vào nhau bằng 1 bản lề, ở mặt lưng có dây chằng
sinh trưởng khối lượng nhanh hơn sinh trưởng chiều dài, sinh trưởng phần vỏ và phầm
thân mềm đồng thời trong suốt đời sống. Tốc độ sinh trưởng chiều dài trung bình là
1,72mm/tháng và khối lượng trung bình là 789,47mg/tháng. Các yếu tố độ mặn, sóng gió,
độ trong và hàm lượng vật chất lơ lửng là những yếu tố chính ảnh hưởng đến sinh trưởng
của nghêu.
Nghêu có các giai đoạn phát triển cụ thể như sau:
Giai đoạn ấu trùng phù du (Trochophore): sống trôi nổi trong nước, theo Quayle
(1988), ban đêm chúng di chuyển lên mặt nước và ban ngày di chuyển xuống đáy. Khi
triều lên, ấu trùng di chuyển lên tầng mặt và ngược lại, sự di chuyển này không quá 4 -
5m. Đây là lý do tại sao ở giai đoạn sống trôi nổi ấu trùng có thể tồn tại ở khu vực gần
6
cửa sông mà ít bị cuốn trôi ra biển, do ấu trùng sống trôi nổi trong nước nên yếu tố về
dòng chảy ảnh hưởng rất lớn đến đời sống cũng như sự phân bố của chúng. Sau khi hết
giai đoạn ấu trùng phù du (Trochophore) chúng biến thái thành ấu trùng bám (Veliger).
Giai đoạn ấu trùng bám (Veliger): chuyển sang giai đoạn sống đáy. Ấu trùng phát
triển tuyến tơ và chân để bám, giai đoạn này ấu trùng cần nền đáy bằng phẳng và cần vật
bám như cát, sỏi. Tuyến tơ sẽ mất khi ấu trùng đã bám.
Giai đoạn trưởng thành: Nghêu sống vùi mình trong đáy cát bùn nhờ hoạt động của
chân. Lúc này chân Nghêu phát triển đầy đủ có dạng hình lưỡi rìu, chân có thể co duỗi
nhờ các cỡ, khi chân duỗi tiết diện ngang của chân có dạng hình mũi tên, nhờ vậy mà
Nghêu có thể chui rút xuống nền đáy.
b. Đặc điểm sinh sản
Sinh sản là phương thức bổ sung các cá thể mới cho quần thể sinh vật, đảm bảo sự
tồn tại và phát triển giống nòi. Vì vậy cũng như các sinh vật khác, đặc tính sinh sản của
thủy sinh vật mang tính chất thích ứng của loài rõ rệt. Mỗi loài đều có những thích ứng
nhằm nâng cao hiệu suất sinh sản, đảm bảo mức độ cao nhất tỉ lệ sống của cá thể mới
sinh. Đặc tính thích ứng đó thể hiện qua các mặt của quá trình sinh sản như: phương thức
sinh sản, mức độ sinh sản, nhịp độ sinh sản cũng như khả năng bảo vệ trứng và con non.
Đối với động vật thân mềm hai mãnh vỏ (Bivalvia) thường sinh sản và thụ tinh ngoài môi
Tại đồng bằng sông Cửu Long, chỉ có loài Meretrix lyrata (Sowerby, 1851) là
phân bố với mật độ cao, các loài khác như Meretrix meretrix phân bố với mật độ rất thấp.
Cụ thể hơn, theo Nguyễn Hữu Phụng (1996), ở ĐBSCL, loài Nghêu Meretrix lyrata phân
bố ở bãi triều ven biển huyện Cần Giờ (TP.Hồ Chí Minh), huyện Gò Công Đông (Tiền
Giang), huyện Bình Đại, Ba Tri, Thạnh Phú (Bến Tre), huyện Cầu Ngang, Duyên Hải
(Trà Vinh), huyện Vĩnh Châu (Sóc Trăng), huyện Vĩnh Lợi (Bạc Liêu), huyện Ngọc Hiển
(Cà Mau).
8 Hình 2. Vị trí phân bố của nghêu Meretrix lyrata ở ĐBSCL
(Nguồn: Nghiên cứu các giải pháp bảo vệ và phát triển nguồn lợi nghêu Bến Tre
Meretrix lyrata, Sowerby 1858- TS. Nguyễn Thanh Tùng 7/2007)
1.2. Ảnh hướng của các yếu tố môi trường đến sinh sản và phát triển của nghêu.
1.2.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh sản của nghêu bố mẹ
Theo D.B. Quayle và G.F. Newkirk (1989), mùa vụ sinh sản của các loài 2 mảnh vỏ
có liên quan đến yếu tố môi trường, thời tiết như nồng độ muối, thủy triều, dòng chảy…
đặc biệt là nhiệt độ và độ mặn. Ở vùng ôn đới, Bilvavia thường sinh sản vào mùa xuân
(quá trình thành thục sinh dục liên quan đến sự tăng dần nhiệt độ vào mùa xuân) và sự
sinh sản phụ thuộc chủ yếu vào nhiệt độ vì nồng độ muối vùng ôn đới thường tương đối
ổn định và không có ảnh hưởng nhiều đến sinh sản. Ngược lại, vùng nhiệt đới nhiệt độ
cao và tương đối ổn định còn độ mặn có sự biến động, chính sự biến động này là một
nhân tố kích thích quá trình sinh sản của Bivalvia, dẫn đến hiện tượng là Bivalvia vùng
nhiệt đới sinh sản kéo dài và kém tập trung hơn Bivalvia vùng ôn đới.
Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Văn Hảo và CTV (1999) cho thấy, sự biến động
nồng độ muối tại các vùng khảo sát có liên quan chặt chẽ với nhiệt độ và chế độ mưa lũ
hàng năm. Biến động độ mặn vào mùa mưa năm 1997 và mùa khô năm 1998 cao hơn
nhiều so với mùa mưa năm 1998 và mùa khô năm 1999. Cùng với kết quả điều tra sự
xuất hiện của Nghêu giống, tác giả nhận định rằng sự biến động lớn nồng độ muối (giảm
đã phát triển chân đầy đủ nên có thể chui rút xuống nền đáy dễ dàng. Do đó, tác động của
các yếu tố môi trường đến sự xuất hiện nghêu giống thể hiện rõ rệt nhất trong giai đoạn
ấu trùng sống trôi nổi và giai đoạn chuyển sang sống đáy.
a. Các yếu tố môi trường
10
Theo D.B. Quayle và G.F. Newkirk (1989), trong giai đoạn ấu trùng sống trôi nổi
thì dòng nước ảnh hưởng rất lớn đến đời sống của chúng, dù có khả năng bơi lội thì ấu
trùng cũng không đủ sức cưỡng lại dòng nước, điều này có ảnh hưởng đến sự phân bố
của ấu trùng. Một nghiên cứu trên ấu trùng của loài Hầu Ống Crassostrea gigas cho thấy
rằng ấu trùng có thể bị dòng nước đưa đi xa ít nhất 80km tính từ nơi nó sinh ra trong suốt
giai đoạn ấu trùng (25 ngày). Tuy nhiên, D.B. Quayle (1989) quan sát thấy rằng ấu trùng
Bivalvia có hiện tượng di chuyển lên xuống trong tầng nước theo chiều thẳng đứng và
phụ thuộc vào chu kỳ thủy triều (khi triều lên ấu trùng di chuyển lên tầng mặt và khi triều
xuống ấu trùng lại di chuyển xuống đáy), đây là căn cứ giải thích cho việc ấu trùng có
thể tồn tại ở khu vực gần cửa sông mà không bị cuốn trôi ra biển.
b. Chất đáy
Chất đáy là yếu tố sinh thái quan trọng ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của
sinh vật thông qua sự phụ thuộc của sinh vật đó với đặc trưng của nền đáy mà nó thích
ứng. Theo Odum (1963), động vật thân mềm thường chọn nền đáy cát bùn làm nơi sinh
sống, nhóm sống trong cát và trên bề mặt cát là nhóm ăn lọc các chất lơ lửng trong nước,
trong khi các loài sống trong bùn thường ăn các mùn bã hữu cơ trong bùn. Từ đó đưa ra
nhận định rằng mỗi loài sinh vật sống đáy phân bố theo một loại chất đáy riêng. Chất đáy
có ảnh hưởng quan trọng đến tỷ lệ sống của nghêu, nhất là trong giai đoạn ấu trùng. Sau
giai đoạn sống phù du, ấu trùng nghêu chuyển sang sống đáy và bám lên các vật bám trên
nền đáy, lúc này ấu trùng rất cần điều kiện nền đáy bằng phẳng và những vật bám như
cát to, sỏi…
Hình
3
Nghiên cứu của Aayabal & Kalyani (1986), theo dõi chu kỳ sinh sản của 3 loài
kinh tế: Meretrix meretrix (L.), M. casta ( Chemnitz ) và Katelysia opima (Gmelin) ở
cửa sông Vellar (Ấn Độ). Kết quả cho thấy mùa sinh sản của 3 loài kể trên kéo dài từ
tháng 2-9. Tỉ lệ con đực nhiều hơn con cái nhưng cả hai thành cùng thời gian và Ấu trùng
Veliger xuất hiện từ tháng 3-5.
Ngoài các nghiên cứu về sinh học, các nghiên cứu liên quan đến việc quản lý và
khai thác cũng được quan tâm. Công tác bảo vệ và phát triển nguồn lợi nhuyễn thể ven
12
biển nói riêng không chỉ đơn giản là các công tác kỹ thuật và quản lý thông thường, mà
thực chất là một chương trình được thiết kế bao gồm một loạt hoạt động khảo sát và
nghiên cứu được tiến hành liên tục và lâu dài, được phối hợp bởi các cấp chính quyền,
các nhà khoa học và cộng đồng dân cư ven biển. Vì tính chất phức tạp đó, Tổ chức Nông
lương Thế giới (FAO) đã phát hành tài liệu “Enhancing or restoring the productivity of
natural populations of shellfish and other marine invertebrate resources” (Tăng cường
và phục hồi năng suất các quần thể tự nhiên của nhóm sinh vật có vỏ và sinh vật không
xương sống khác. Tài liệu này được xem là cẩm nang cho các nước có quyền lợi liên
quan đến nguồn lợi nhuyễn thể tự nhiên, với nội dung phân tích một số kỹ thuật khác
nhau hỗ trợ việc nâng cao sản lượng nhuyễn thể. Các kỹ thuật được đề cập bao gồm: (1)
các phương pháp đánh giá, theo dõi tình trạng và phục hồi nguồn giống, (2) so sánh các
công cụ quản lý không gian khác nhau, (3) các chiến lược trong việc nâng cao chất lượng
nguồn giống, (4) phân tích các vấn đề về môi trường sinh thái liên quan đến nguồn lợi
(môi trường sống, địch hại ), (5) các hướng dẫn trong việc quản lý và đánh giá chương
trình bảo vệ và nâng cao nguồn giống, (6) các vấn đề về chính sách quản lý của địa
phương, sự hợp tác của cộng đồng dân cư ven biển. Ngoài ra, tài liệu còn bàn về các mô
hình nuôi, thử nghiệm sản xuất giống, những khó khăn trong công tác quản lý liên quan
đến đặc tính sinh học của mỗi loài nhuyễn thể.
Với mục đích hỗ trợ công tác quản lý các nguồn lợi ven biển nói chung, Hội nghị
Quốc tế về đới bờ Châu Á -Thái Bình dương Coastal Zone Asia-Pacific (CZAP) được tổ
chức nhằm trao đổi các kinh nghiệm, mô hình quản lý giữa các nước. Báo cáo tổng hợp
dinh dưỡng tổng hợp vùng bờ.
Ngoài vấn đề kỹ thuật, chính sách quản lý nguồn lợi của địa phương cũng tác động
không nhỏ đến công tác bảo vệ và phát triển nguồn lợi ven biển. Các chính sách kiểm
soát “đầu vào” trước đó (như nỗ lực điều hòa, thiết lập mùa vụ và đăng ký khai thác) hoạt
động không hiệu quả hơn 10 năm, kết quả là tình trạng đánh bắt vượt quá giới hạn, khai
thác quá mức, suy giảm giá trị kinh tế và các hoạt động đánh bắt không an toàn. Về sau,
chính sách kiểm soát “đầu ra”, tiêu biểu là hệ thống hạn ngạch nhuyễn thể, về mặt quy
mô, chứng minh được sự thành công trong việc cải thiện thu nhập, kiểm soát được việc
vượt quá giới hạn đánh bắt, thành công trong việc điều hòa, và can thiệp vào các quyết
định mấu chốt. Tuy nhiên, sự quan tâm của cộng đồng người dân hiện nay là nguồn tài
sản chung này đang có nguy cơ bị nắm giữ chỉ bởi một vài người có đăng ký. Ngoài ra,
kết quả của việc phân hạn ngạch chính là vấn đề mất việc làm, cũng như là vấn đề về
phân phối và sự công bằng.
Cuối cùng, một mô hình quản lý nguồn lợi cần được quan tâm, đó chính là bài học
kinh nghiệm từ Quản lý tổng hợp vùng bờ (ICM- Intergrated Coastal Management) tại
Philippine. Năm 1991, chính phủ Philippine chuyển giao nhiều trách nhiệm về quản lý