Giải pháp khắc phục thiệt hại do bão của các hộ trồng cao su tại xã vĩnh trung, huyện vĩnh linh, tỉnh quảng trị - Pdf 28

ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
Tìm hiểu giải pháp khắc phục thiệt hại do bão
của các hộ trồng cao su tại xã Vĩnh Trung, huyện
Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị

HUẾ, 2/2015
1
PHẦN I. ĐẶT VẤN ĐỀ
I.1. Tính cấp thiết của đề tài
Cao su là đối tượng cây trồng có hiệu quả kinh tế cao được trồng tập trung
ở các tỉnh Miền Đông Nam Bộ và Tây Nguyên từ thời Pháp thuộc. Trải qua hơn
100 năm phát triển ở Việt Nam, mủ cây cao su được mệnh danh là “vàng trắng”
để minh chứng cho giá trị mà cao su mang lại. Cuối năm 2012, diện tích cao su
cả nước là 910.500 ha, phá vỡ kế hoạch đề ra cho năm 2015. Giai đoạn 2015-
2020, diện tích cao su ước tính sẽ đạt mức 1 triệu ha.[6]
Cao su được trồng ở miền Trung và khu vực Bắc Trung Bộ từ những năm
1975. Thực tế đã chứng minh hiệu quả của nó đối với việc phát triển kinh tế hộ,
xóa đói giảm nghèo và nâng cao chất lượng cuộc sống người dân. Tuy nhiên,
những năm gần đây cây cao su ở miền Trung đã bị bão tàn phá nghiêm trọng.
Chỉ trong năm 2013, cơn bão số 10 và 11 đã làm 215.000 ha cao su bị tàn phá,
trong đó có 13.000 ha bị mất trắng ở các tỉnh Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị.
Con số thiệt hại lên đến hàng ngàn tỷ đồng. Vấn đề sinh kế của những hộ trồng
cao su đang bị đe dọa, nhiều hộ đang ổn định bỗng dưng trắng tay. Nếu trước
đây cao su là cứu cánh của người nông dân thì giờ đây, việc phát triển cao su ở
miền Trung đang bị mất phương hướng.
Quảng Trị, nơi được xem là “rốn bão” của cả nước. Năm 2013 có
7.076,12 ha cao su gãy đổ, chiếm 36,88% diện tích trồng cao su của tỉnh, trong
đó có 4.116,08 ha gãy đổ trên 70 % chiếm 21%.[10] Riêng huyện Vĩnh Linh có

thích ứng là hành động nhằm giảm thiểu ảnh hưởng, tận dụng lợi thế, hoặc đối
phó với những thay đổi đang xảy ra hoặc có thể sẽ xảy ra. Khả năng thay đổi
chiến lược để ứng phó với các biến đổi về hoàn cảnh trong hiện tại hoặc có thể
xảy ra trong tương lai.
* Khái niệm giải pháp thích ứng
Theo Lê Anh Tuấn (tổng quan về nghiên cứu biến đổi khí hậu và các hoạt
động thích ứng ở miền Nam Việt nam năm 2009), giải pháp thích ứng được hiểu
là “những hoạt động điều chỉnh hệ thống tự nhiên hoặc con người đối với hoàn
cảnh hoặc môi trường thay đổi, nhằm mục đích giảm khả năng bị tổn thương do
dao động và biến đổi khí hậu hiện hữu hoặc tiềm tàng và tận dụng các cơ hội do
nó mang lại”. [11]
* Giải pháp thích ứng với biến đổi khí hậu
Thuật ngữ tiếng Anh dùng trong lập kế hoạch thích ứng với BĐKH viết:
giải pháp thích ứng là những hành động cụ thể thực hiện tại một địa điểm cụ thể
ở một thời điểm cụ thể để giảm thiểu các tác động của biến đổi khí hậu đang xảy
ra hoặc có thể xảy ra.
Trong báo cáo khoa học về “ thích ứng với BĐKH và PTBV” của các tác
giả thuộc viện Khoa học khí tượng thủy văn và môi trường, Bộ TNMT viết: giải
pháp hay biện pháp thích ứng với BĐKH là một quá trình qua đó con người làm
giảm những tác động bất lợi của khí hậu đến sức khoẻ và đời sống và sử dụng
những cơ hội thuận lợi mà môi trường khí hậu mang lại. [9]
Giải pháp thích ứng được phân chia thành 8 nhóm:
Chấp nhận tổn thất: Phản ứng cơ bản là “không làm gì cả”, ngoại trừ chịu
đựng hay chấp nhận những tổn thất. Trên lý thuyết, chấp nhận tổn thất xảy ra
khi bên chịu tác động không có khả năng chống chọi lại bằng bất kỳ cách nào.
[9]
Chia sẻ tổn thất: Loại phản ứng thích ứng này liên quan đến việc chia sẻ
những tổn thất giữa một cộng đồng dân cư lớn. Cách thích ứng này thường xảy
4
ra trong một cộng đồng truyền thống và trong xã hội công nghệ cao, phức tạp.

chung trong một ngôi nhà và nhóm người đó có cùng chung huyết tộc và người
làm công, người cùng ăn chung. Thống kê Liên Hợp Quốc cũng có khái niệm về
5
“Hộ” gồm những người sống chung dưới một ngôi nhà, cùng ăn chung, làm
chung và cùng có chung một ngân quỹ.
Nhóm “hệ thống thế giới” (các đại biểu Wallerstan (1982), Wood (1981,
1982), Smith (1985), Martin và BellHel (1987) cho rằng: “Hộ là một nhóm
người có cùng chung sở hữu, chung quyền lợi trong cùng một hoàn cảnh. Hộ là
một đơn vị kinh tế giống như các công ty, xí nghiệp khác”. [13]
Để phù hợp với chế độ sở hữu khác nhau giữa các thành phần kinh tế
(quốc doanh và ngoài quốc doanh) và khả năng phát triển kinh tế từng vùng
(thành thị và nông thôn), theo phụ lục của ngân hàng nông nghiệp Việt Nam ban
hành kèm theo quyết định 499A TDNH ngày 02/09/1993 thì khái niệm hộ sản
xuất được nêu như sau: " Hộ sản xuất là một đơn vị kinh tế tự chủ, trực tiếp hoạt
động sản xuất kinh doanh, là chủ thể trong mọi hoạt động sản xuất kinh doanh
và tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của mình". [18]
* Khái niệm cao su tiểu điền
Trong ngành cao su Việt Nam và trên thế giới có nhiều hình thức trồng
khác nhau. Xét trên quy mô diện tích thì có cao su “đại điền” và cao su “tiểu
điền”. Cao su đại điền là cao su có quy mô diện tích lớn từ vài trăm đến hàng
chục ngàn ha, tập trung chủ yếu ở các công ty, các doanh nghiệp, các nông lâm
trường. Cao su tiểu điền là cao su có quy mô diện tích nhỏ, phân tán từ một
đến vài chục ha, được trồng chủ yếu ở các hộ nông dân. Vườn cao su thuộc sở
hữu của nông dân, do nông dân tự bỏ vốn ra đầu tư

hoặc do các tổ chức cho
nông dân vay vốn phát triển cao su nhân dân. [1]
* Khái niệm bão và mức độ nguy hại của bão
Bão là hiện tượng gió mạnh kèm theo mưa rất lớn do có sự xuất hiện và
hoạt động của các khu áp thấp khơi sâu. Bão biển nhiệt đới là danh từ được dịch

* Chỉ tiêu kết quả, chi phí
Tổng giá trị sản xuất thu được (GO): Là tổng thu nhập của một loại mô
hình (gồm các loại sản phẩm) hoặc một đơn vị diện tích; công thức tính là:
GO=ΣQi*Pi, trong đó Qi là khối lượng sản phẩm thứ i, Pi là giá sản phẩm thứ i.
Thu nhập thuần: Được tính bằng cách lấy sản lượng (kg) nhân với đơn giá
(đồng/kg): GO = Ql*Pl.
Chi phí trung gian (IC), còn được gọi là chi phí sản xuất: Là chi phí cho
một mô hình hoặc một đơn vị diện tích, trong một khoảng thời gian; bao gồm:
Chi phí vật chất, dịch vụ, không bao gồm công lao động, khấu hao.
Chi phí lao động (CL): Chi phí số ngày công lao động cho một chu kỳ sản
xuất hoặc một thời gian cụ thể.
Khấu hao tài sản cố định (KH): Tài sản cá nhân, hộ đầu tư để sản xuất
như nhà kho, máy bơm và một số máy móc khác.
7
Chi phí khác (K): Là những khoản chi phí phát sinh khác trong quá trình
sản xuất.
Tổng chi phí (TC): TC= IC+CL+KH+K.
Đối với cây lâu năm, toàn bộ chi phí của thời kỳ kiến thiết cơ bản phải
được phân bổ đều cho các năm của thời kỳ sản xuất kinh doanh. Khoản chi phí
này được gọi là chi phí phân bổ.
Nghiên cứu này xác định thời gian KTCB của cao su là 6 năm, thời gian
kinh doanh là 20 năm.
* Chỉ tiêu hiệu quả
Giá trị gia tăng (VA): Là giá trị tăng thêm so với chi phí sản xuất bỏ ra.
Công thức: VA= GO-IC.
Hiệu suất đồng vốn (HS): Hay hiệu quả sử dụng vốn được tính theo công
thức: HS=VA/IC.
Lợi nhuận (Pr): Pr = GO-TC.
2.1.3. Giới thiệu cây cao su
* Tên khoa học, phân loại, nguồn gốc xuất xứ của cây cao su

trong tầng vỏ không liên quan gì với ống mủ thứ cấp và hầu như không cho sản
lượng mủ. Ống mủ thứ cấp chính là nơi sản sinh và dự trữ mủ. [3]
Lúc cây non lá có màu tím đỏ, sau dần chuyển sang màu xanh nhạt rồi
xanh lục và hình thành từng lá rõ rệt.[3]
Hoa cao su thuộc loại đơn tính, có hoa đực và hoa cái riêng. Trong một
chum hoa có số lượng hoa đực nhiều gấp 50 lần hoa cái. Sau khi trồng được 5-6
năm cây mới có hoa quả. [3]
Quả cao su thuộc loại quả nang có lớp vỏ dày cứng trong có chứa các hạt,
khi chín vỏ tự nứt và hạt có thể tách ra ngoài. Hạt cao su hình trứng hơi tròn, khi
chín có màu nâu, ở ngoài là vỏ sừng cứng.[3]
Bộ rễ cao su bao gồm rễ trụ, là rễ chính có thể ăn sâu 1,5 m và rễ bên phát
triển mạnh ở xung quanh gốc và phân bố theo tầng. Hệ số tán cây/tán rễ = 1,5
lần. [3]
* Yêu cầu điều kiện ngoại cảnh đối với cây cao su
Nhiệt độ: Cây cao su yêu cầu nhiệt độ cao, thích hợp từ 20-28
0
C, có biên
độ nhiệt độ chênh lệch ít và rất sợ rét. Nếu nhiệt độ bình quân ngày thấp hơn
15
0
C, đỉnh ngọn sẽ bị ức chế. Nếu dưới 10
0
C thì hạt không nảy mầm, ảnh hưởng
xấu đến trao đổi chất trong cây. Nếu dưới 5
0
C thì vỏ thân bị nứt, mủ không
đông, cây có thể bị khô ngọn và dưới 0
0
C, cây sẽ chết. [3]
9

để nhanh chóng đạt được đường kính đủ kích thước ghép. [3]
Giai đoạn kiến thiết cơ bản: Giai đoạn này kéo dài từ 6 đến 8 năm từ khi
cây con được trồng ngoài cho đến lúc bắt đầu khai thác mủ. Nhiều giống có tốc
độ tăng trưởng nhanh như PB235, RRIV2, RRIV4 có thể thu mủ sau 6 năm
10
trồng. Giai đoạn này cần chú ý tỉa cành cách mặt đất từ 2 đến 3m tạo điều kiện
thuận lợi cho khai thác mủ về sau. [3]
Phần dưới mặt đất có sự phát triển chậm trong 1 đến 2 năm đầu nhưng sau
đó sinh trưởng rất mạnh. Khi cây cao su giao tán, các rễ tơ có thể được nhìn thấy
ở giữa hai hàng cao su. Cây cao su ở giai đoạn này có thể tự cân đối nhu cầu
nước của mình trong điều kiện mùa khô kéo dài 4 đến 5 tháng. [3]
Giai đoạn khai thác mủ: Đây là giai đoạn dài nhất, bắt đầu từ khi cây có
thể khai thác mủ đến lúc cây bị thanh lý. Căn cứ vào sự biến thiên về năng suất
hằng năm, người ta chia giai đoạn này thành 3 thời kỳ gồm: thời kỳ khai thác
cao su non, thời kỳ khai thác cao su trung niên và thời kỳ khai thác cao su già.
[3]
Thời kỳ khai thác cao su non: Cây vẫn tiếp tục sinh trưởng mạnh về số
lượng cành nhánh, chu vi thân, độ dày vỏ, sản lượng mủ tăng nhanh theo năm.
Thời kỳ này kéo dài chừng 10 đến 12 năm. Do vỏ của thân trong thời kỳ này còn
mỏng và đang tăng trưởng mạnh nên việc khai thác mủ cần có tay nghề cao để
tránh phạm vào thân. [3]
Thời kỳ khai thác cao su trung niên: Khi năng suất không còn tăng thêm
nữa thì cây cao su đã bước vào thời kỳ trung niên. Nếu vườn cây không được
chăm bón tốt trong giai đoạn KTCB và sau KTCB năng suất sẽ giảm nhanh
chóng. Khai thác quá mức trong giai đoạn trước cũng có thể làm tỷ lệ cây khô
mủ nhiều hơn xảy ra trong thời kỳ này. [3]
Thời kỳ khai thác cao su già: Khi vườn cây giảm năng suất trong nhiều
năm liền thì vườn cây đã bước vào thời kỳ này. Tốc độ giảm năng suất nhanh
hay chậm còn tuỳ vào giống và chế độ chăm sóc, khai thác trước đó.[3]
* Vai trò của cây cao su

Đối với môi trường
Cao su là cây trồng thích nghi với nhiều loại địa hình và vùng sinh thái
khác nhau. Với khả năng chịu hạn tốt, cây có thể phủ xanh đất trống đồi trọc, tạo
sự cân bằng sinh thái, nâng cao độ phì cho đất nhờ quá trình rụng lá hàng năm.
Ngoài ra, rừng cao su còn có tác dụng giữ nước, chống xói mòn tốt. Vì vậy, cao
su có thể xem là loại cây đa mục đích, vừa có giá trị kinh tế cao, vừa có những
ảnh hưởng tích cực đến môi trường sống.
2.1.4. Mô hình cao su tiểu điền
* Đặc điểm của cao su tiểu điền
Cao su tiểu điền được trồng với quy mô nhỏ, vì vậy chỉ phù hợp với các
nông hộ. Tuy nhiên, mục đích sản xuất của cao su tiểu điền là sản xuất hàng
hóa với quy mô tương đối lớn so với nông hộ.
12
Mức độ tập trung và chuyên môn hóa các điều kiện và yếu tố sản xuất
cao hơn so với nông hộ thông thường do đặc thù cao su không thể sản xuất
được với quy mô quá nhỏ và phân tán.
Cao su là cây kinh tế - kỹ thuật, vì vậy đòi hỏi chủ hộ phải luôn học hỏi
để nâng cao trình độ về kỹ thuật. Đồng thời chủ hộ phải biết kết hợp sử dụng
lao động có kỹ thuật của gia đình và lao động kỹ thuật thuê ngoài để sản xuất
có hiệu quả.
Tài sản của các hộ cao su tiểu điền chính là vườn cao su được phân bố
trên một vùng rộng lớn, bị ảnh hưởng nhiều bởi điều kiện thời tiết, khí hậu.
Thời kì kiến thiết cơ bản của cây cao su kéo dài từ 6- 7 năm, vốn đầu tư lớn từ
40-50 triệu đồng/ha, vì vậy tính rủi ro trong sản xuất cao su khá cao.
Ưu điểm trong sản xuất cao su là: Sau thời kỳ kiến thiết cơ bản, chu kỳ
kinh doanh cây cao su có thể kéo dài trên 20 năm. Mặt khác, trong quá trình kiến
thiết kéo dài 6-7 năm, hộ trồng cao su hoàn toàn có khả năng thu hồi vốn đầu tư
nhờ vào hoạt đồng xen canh các loại cây ngắn ngày khác. Đây được xem là
hình thức “lấy ngắn nuôi dài” rất hiệu quả. Ngoài ra, vườn cao su thời kỳ khai
thác cũng có khả năng hỗ trợ cho một số mô hình sản xuất kết hợp đạt hiệu quả

cũng đóng vai trò tích cực trong việc thay đổi tập quán từ sản xuất nhỏ, độc
canh mang tính tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hóa, thực hiện sự phân công
lao động tại chỗ sản xuất ra nguyên liệu tập trung và ổn định, giúp cho ngành
công nghiệp chế biến ở nông thôn phát triển.[21]
2.1.5. Một số giải pháp phát triển bền vững ngành cao su Việt Nam
Theo Trần Đức Viên -Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội, để phát triển
ngành cao su Việt Nam trong hội nhập kinh tế quốc tế cần thực hiện các giải
pháp quan trọng sau:
Đẩy mạnh hiệu quả công tác khuyến nông, chuyển giao khoa học kỹ
thuật rất cần thiết cho các nông hộ trồng cao su, nhất là công tác giống.
Để giảm bớt những rủi ro có thể xảy ra đối nông dân trồng cao su, đa
dạng hóa cây trồng và đa dạng hóa thu nhập của hộ là một trong những hướng
cần thiết và hiệu quả.
Phải có sự khuyến cáo của các cơ quan quản lý và nghiên cứu về các khả
năng rủi ro có thể xảy ra nhằm giảm thiểu những thiệt hại cho nông hộ trồng
cao su.
Công tác dự báo cần phải được đặc biệt chú ý. Giá cao su tại thời điểm
hiện tại có thể ảnh hưởng đến lượng cung của 10 đến 20 năm sau. Vì vậy trong
tương lai các phương pháp và mô hình dự báo mới trên thế giới nên được áp
dụng cho các mặt hàng nông sản tại Việt Nam nói chung và cao su nói riêng.
Hiện nay, xuất khẩu cao su của Việt Nam mới chỉ là sản phẩm thô. Trong
tương lai gần cần chú ý hoàn thiện hệ thống chế biến mủ cao su, phát triển các
xưởng sản xuất nhỏ với các loại sản phẩm phù hợp, nâng cao chất lượng chế
biến. Trong dài hạn, cần suy nghĩ và phát triển công nghiệp chế biến sản phẩm
cao su, nhất là đổi mới công nghệ. [12]
2.2. Cơ sở thực tiễn
14
2.2.1. Tình hình phát triển cây cao su trên thế giới
* Tình hình phát triển cao su trên thế giới
Cuối thế kỷ XIX, khi rời vùng nguyên quán Amazone (Nam Mỹ), cây cao

Các chỉ số
Quốc gia
Diện tích
(triệu ha)
Năng suất
(tấn/ha)
Sản lượng (triệu
tấn)
Thái Lan 2,75 1,72 3,55
Indonesia 3,45 1,16 3,00
Malaysia 1,05 1,47 0,95
Ấn Độ 0,74 1,82 0,90
Việt Nam 0,91 1,71 0,86
( Nguồn: Báo cáo ngành cao su thiên nhiên năm 2013)
Trong năm 2012, khi nhắc đến diện tích cao su phải nói đến Indonesia với
3,45 triệu ha; nhắc đến năng suất phải nói đến Ấn Độ với 1,82 tấn /ha; và nói về
sản lượng phải chú ý đến Thái Lan với 3,55 triệu tấn.
Indonesia là nước có diện tích cao su lớn nhất, trước Thái Lan, Malaysia,
Việt Nam và Ấn Độ. Tuy nhiên, nhờ sự quản lý chắt chẽ của nhà nước trong sản
xuất cao su kết hợp với các yếu tố về kỹ thuật canh tác tiên tiến, Thái Lan trở
thành nước có sản lượng đứng đầu thế giới và năng suất ổn định ở mức cao thứ
hai sau Ấn Độ. Cũng với lý do đó, Ấn Độ mặc dù có diện tích trồng cao su khá
khiêm tốn, chỉ đứng thứ năm, nhưng năng suất cao su của Ấn Độ đang đứng đầu
thế giới.
* Tình hình tiêu thụ cao su tự nhiên trên thế giới
Người dân Nam Mỹ là những người đầu tiên phát hiện và sử dụng CSTN
ở thế kỷ XVI. Đến nay cao su được dùng để chế tạo nhiều loại sản phẩm sử
dụng trong nhiều lĩnh vực khác khác nhau như: vỏ ruột xe, keo dán, mặt vợt
bóng bàn, nệm, bong bóng, găng tay, thiết bị y tế Bảng 2.4 dưới đây cho thấy
mức tiêu thụ CSTN của một số quốc gia tiêu thụ cao su hàng đầu thế giới.

Năm 1907, các công ty cao su đầu tiên và một số đồn điền cao su tư nhân
Việt Nam cũng được thành lập. Đến năm 1920, miền Đông Nam Bộ có khoảng
7.000 ha và sản lượng đạt 3.000 tấn. [15]
Cây cao su được trồng thử ở Tây Nguyên năm 1923 và phát triển mạnh
trong giai đoạn 1960 - 1962, nhưng sau đó phải bỏ dở do chiến tranh. Mãi đến
năm 1977, Tây Nguyên mới trồng lại cao su.[15]
Trong thời kỳ trước năm 1975, để có nguồn nguyên liệu cho nền công
nghiệp miền Bắc, cây cao su đã được trồng vượt trên vĩ tuyến 17 ra các tỉnh phía
Bắc gồm Quảng Trị, Quảng Bình, Nghệ An, Thanh Hóa, Phú Thọ. Trong những
năm 1958 - 1963, diện tích cao su khu vực này đã lên đến khoảng 6.000 ha. [15]
17
Đến 1976, Việt Nam có khoảng 76.000 ha, tập trung ở Đông Nam Bộ có
khoảng 69.500 ha, Tây Nguyên có khoảng 3.482 ha, các tỉnh duyên hải miền
Trung và khu 4 cũ có khoảng 3.636 ha.[15]
Ở miền Trung sau 1984, cây cao su được phát triển ở Quảng trị và Quảng
Bình trong các công ty quốc doanh.[15]
Đến năm 1999, diện tích cao su cả nước đạt 394.900 ha, trong đó cao su
tiểu điền chiếm khoảng 27,2%. Năm 2004, diện tích cao su cả nước là 454.000
ha, trong đó cao su tiểu điền chiếm 37%. Năm 2005, diện tích cao su cả nước là
464.875 ha.[15]
Cuối năm 2012, Việt Nam có 850.000 ha cao su, trở thành nước đứng thứ
5 thế giới về sản lượng khai thác cao su thiên nhiên với tỷ trọng khoảng 7,6%
tương đương 863.600 tấn và đứng thứ 4 về xuất khẩu cao su thiên nhiên trên thế
giới, chiếm thị phần khoảng 10,3% tương đương 1,02 triệu tấn.
Năm 2013, rừng cao su ở Việt Nam có tổng diện tích đạt 0.91 triệu ha và
được phân bố theo 7 vùng được thể hiện trong biểu đồ 4.1.
(Nguồn: Báo cáo ngành cao su thiên nhiên năm 2013)
Biểu đồ 2.1. Phân bố rừng trồng cao su Việt Nam năm 2013
Cũng trong năm 2013, năng suất cao su Việt Nam đã đạt mức 1.73 tấn/ha
và vươn lên vị trí thứ hai sau Ấn Độ.

Trong năm 2012, Việt Nam đã nhập khẩu cao su thiên nhiên từ khoảng 40
nước trên thế giới, trong đó nhiều nhất từ các nước: Campuchia, Thái Lan,
Myanmar, Lào và Hàn Quốc.
Từ năm 2010 đến nay, Campuchia là nước cung cấp cao su lớn nhất cho
Việt Nam, chiếm khoảng 59% về lượng và 60% về giá trị. Tiếp đến là Thái Lan
chiếm 17% về lượng và 18% về giá trị. Đây là những thị trường có lợi thế về vị
trí địa lý và mức giá hấp dẫn giúp tạo điều kiện thuận lợi cho việc nhập khẩu. [6]
* Tình hình xuất khẩu cao su Việt nam
19
Cao su là một trong 3 mặt hàng nông sản xuất khẩu lớn nhất của Việt
Nam. Riêng trong năm 2011, mặt hàng cao su chiếm 24% trong tổng kim ngạch
xuất khẩu các mặt hàng nông sản của Việt Nam. Tốc độ tăng trưởng bình quân
xuất khẩu cao su thiên nhiên của Việt Nam trong 5 năm qua đạt 11,9% về sản
lượng và 15,5% về giá trị. Năm 2012, theo Tổng cục thống kê, sản lượng xuất
khẩu cao su thiên nhiên của Việt Nam đạt 1,02 triệu tấn, đạt trị giá 2,85 tỷ USD.
Xuất siêu cao su thiên nhiên năm 2012 đạt 721 nghìn tấn và đạt 2,05 tỷ USD.
Thị trường xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam là: Trung Quốc, Malaysia,
Đài Loan, Hàn Quốc, Đức, Ấn Độ, Mỹ Trong đó, Trung Quốc là thị trường
lớn nhất, chiếm 40% tổng kim ngạch xuất khẩu cao su thiên nhiên của Việt Nam
trong năm 2012.
Việt Nam chiếm tỷ trọng tương đối lớn trong cơ cấu nhập khẩu cao su
thiên nhiên của các nước trong khu vực và thế giới, trong đó Ấn Độ chiếm 11-
15%, Trung Quốc chiếm 8,6%, Hàn Quốc chiếm 10%, Malaysia chiếm 7% và
Mỹ chiếm 2%.
Tuy nhiên, trong các nước sản xuất cao su tự nhiên, sản lượng của Việt
Nam chỉ chiếm 9% năm 2012 và tăng chậm lên 10% năm 2013, thấp hơn nhiều
so với Thái Lan, Indonesia, Malaysia và Ấn Độ nên không tạo được sức ảnh
hưởng lên giá cao su thế giới. Bên cạnh đó, do còn nhiều hạn chế về quản lý
chất lượng, công nghệ và kỹ thuật trong sản xuất, chế biến mủ cao su nên cao su
Việt Nam vẫn chưa tạo được vị thế của mình trên thị trường cao su thế giới.

xuất khẩu.
• Cơ hội
- Việc gia nhập tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) mang lại những
ảnh hưởng tích cực và tạo ra điều kiện thuận lợi cho xuất khẩu cao su của Việt
Nam.
- Ngành công nghiệp ôtô thế giới, đặc biệt là của Trung Quốc và Ấn Độ,
đang có tốc độ phát triển rất nhanh nên nhu cầu sử dụng lốp xe là rất lớn, trong
khi cao su là nguyên liệu chính để sản xuất lốp xe.
- Bên cạnh đó, cao su còn được sử dụng để sản xuất nhiều sản phẩm khác
phục vụ tiêu dùng, như găng tay, đệm, zoăng v.v.
- Giá dầu thô sản xuất cao su tổng hợp trong vài năm gần đây liên tục
tăng khiến cho các nhà sản xuất đã chuyển sang sử dụng cao su tự nhiên. Xu
hướng này làm tăng nhu cầu và giá mủ cao su nguyên liệu trong tương lai.
• Thách thức
- Thời tiết trong những năm gần đây có những biến đổi khó lường, ảnh
hưởng tiêu cực tới năng suất và diện tích trồng cây cao su của Việt Nam.
- Xuất khẩu cao su của Việt Nam còn phụ thuộc vào một số thị trường.
Trung Quốc vẫn là thị trường nhập khẩu chính (chiếm 60%) nên rủi ro là rất lớn.
- Nền kinh tế thế giới đang trong giai đoạn suy thoái nên nhu cầu cao su
cũng có thể bị ảnh hưởng giảm ít nhiều.[16]
2.2.3. Tình hình hoạt động của bão ở Việt Nam trong những năm gần đây
Bão và áp thấp nhiệt đới ảnh hưởng tới nước ta được hình thành từ ổ bão
Tây Bắc Thái Bình Dương. Bão phát sinh từ tháng 5 đến tháng 12, di chuyển
21
theo hướng từ Đông sang Tây và thường tan đi khi đã đổ bộ vào bờ biển. Từ Bắc
vào Nam mùa bão chậm dần phù hợp với sự di chuyển của dải hội tụ nhiệt đới:
từ Móng Cái - Thanh Hoá (tháng 7,8), Thanh Hoá - Quảng Trị (tháng 9), Quảng
Trị - Bồng Sơn (tháng 10), Bồng Sơn - TPHCM (tháng 11), TPHCM - Cà Mau
(tháng 12).
Bảng 2.5. Những cơn bão mạnh đổ bộ vào nước ta từ năm 1970 đến nay

Năm 1948, cao su được người Pháp lần đầu tiên trồng tại Vĩnh Linh. Năm
1958, nông trường Quyết Thắng được thành lập tại Bến Quan, Bãi Hà và có
500ha cao su. Cùng lúc đó ở phía Đông của huyện, nông trường Bến Hải cũng
được thành lập và có khoảng 50ha cao su. Đến năm 1984, công ty Cao su Quảng
Trị được thành lập tại miền Tây huyện Gio Linh đánh dấu sự phát triển vượt bậc
của cây cao su trên đất Quảng Trị. Đến cuối năm 2012 toàn tỉnh Quảng Trị đã có
19.188 ha, trong đó có diện tích cao su kinh doanh là 10.829,2 ha chiếm 56%,
diện tích cao su thời kỳ kiến thiết cơ bản là 8.358,8 ha chiếm 44%. Biểu đồ 2.2
thể hiện cơ cấu diện tích cao su tiểu điền và đại điền của tỉnh Quảng Trị năm
2012. [2]
( Nguồn: Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Quảng Trị 2013)
Biểu đồ 2.2. Cơ cấu diện tích cao su đại điền và tiểu điền tỉnh Quảng Trị 2012
Khác với các tỉnh trọng điểm phát triển cây cao su, tỉnh Quảng Trị có diện
tích cao su tiểu điền chiếm đến 78% tổng diện tích cao su. Do đặc điểm vùng
miền và cơ cấu sản xuất nông hộ nên cao su tiểu điền ở đây rất phát triển.
Riêng tại Vĩnh Linh, cao su được trồng từ thời pháp thuộc năm 1948. Đến
năm 1958, toàn huyện đã có khoảng 500 ha cao su. Năm 1993, cùng với chương
23
trình 327 và 773 của chính phủ đã nâng diện tích cao su của huyện lên 1.500 ha.
Đến năm 2013, toàn huyện Vĩnh Linh đã có khoảng 7.500 ha và trở thành huyện
có diện tích cao su lớn nhất tỉnh Quảng Trị. [7]
* Thuận lợi
Quảng trị có trên 30.000 ha đất đỏ bazan phù hợp với phát triển cây công
nghiệp lâu năm. Cơ cấu dân số trẻ, từ 0-59 tuổi chiếm khoảng 90,9%, riêng dân
số dưới 15 tuổi chiếm 37,9%. Năm 2011 toàn tỉnh có 319.211 người trong độ
tuổi lao động, chiếm khoảng 53,08% dân số. Số người trong độ tuổi lao động
tăng thêm bình quân mỗi năm khoảng 4.000-5.000 người. Phần lớn lao động
trên địa bàn tỉnh làm việc trong các ngành nông, lâm, ngư nghiệp chiếm tỷ lệ
54,53% (2010). Đây là nguồn nhân lực dồi dào cho phát triển ngành cao su nói
riêng và các ngành khác nói chung.

Từ năm 1970-1990, miền Trung chịu ảnh hưởng của 7 cơn bão, thiệt hại
vườn cao su từ 15-20%. Số liệu thống kê ở Quảng Trị cho thấy từ năm 1985 đến
2013, Quảng Trị có 6 năm bị gió bão ảnh hưởng gây thiệt hại về cao su. Năm
1985 cơn bão số 8 gây thiệt hại 17,2% tổng diện tích; Năm 2006 cơn bão
Xangsane làm gãy đổ một số diện tích cao su ở các xã ven biển huyện Vĩnh
Linh. Năm 2009 cơn bão Ketsana làm gãy đổ 1.485ha cao su chiếm 10,1% tổng
diện tích trồng cao su; Năm 2010 cơn bão số 3 làm thiệt hại 71,2ha cao su ở giai
đoạn khai thác chiếm 0,44% tổng diện tích. Năm 2011 hoàn lưu cơn bão số 3
làm ảnh hưởng đến 150ha cao su, chiếm 0,83% diện tích trồng cao su. Năm
2013 ảnh hưởng của cơn bão số 10 làm cho 7.076,12ha cao su bị đổ gãy chiếm
36,88% diện tích trồng cao su, trong đó đổ gãy trên 70% là 4.116,08ha chiếm
gần 21% diện tích cao su của tỉnh.[10]
25

Trích đoạn Bảng 4.6. Thu từ cây trồng xen trên một ha cao su thời kỳ kiến thiết cơ bản Bảng 4.8. Thiệt hại cao su do bão và lốc xoáy qua các năm Bảng 7.3. Diện tích trồng mới cao su tiểu điền của xã Vĩnh Trung
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status