XÂY DỰNG MÔ HÌNH ĐỒNG QUẢN LÝ SỬ DỤNG BỀN VỮNG NGUỒN LỢI NGAO
GIỐNG TỰ NHIÊN TRÊN VÙNG ĐẤT NGẬP NƯỚC KHU VỰC SÔNG HỒNG THUỘC
VƯỜN QUỐC GIA XUÂN THỦY
Nguyễn Thị Hương Giang
1
, Trần Thị Hồng Hạnh
2
1
Khoa Nông Lâm Ngư, Trường Đại học Vinh.
2
Phòng Khoa học kỹ thuật, Vườn Quốc gia Xuân Thủy.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Khu vực khai thác nguồn lợi ngao giống là khu vực cửa sông Hồng, diện tích tự nhiên
khoảng 700ha. Đây là vùng đất còn đang ngập nước được giới hạn bởi ranh giới của phần đất nổi
khi triều kiệt của Cồn Ngạn, Cồn Lu và Cồn Xanh thuộc Vườn quốc gia Xuân Thủy.
Vùng đất ngập nước ở cửa sông Hồng thuộc Vườn quốc gia Xuân Thủy là một vùng đất
giàu tiềm năng. Từ đây đón nhận nguồn phù sa phong phú của sông Hồng- con sông lớn nhất
miền Bắc, đồng thời cũng là nơi gặp gỡ giữa sông và biển để hội tụ đầy đủ các nguồn lợi tự
nhiên trời phú cho khu vực. Những năm gần đây, vào khoảng thời gian từ tháng 5 đến tháng 7 ở
khu vực xuất hiện nguồn lợi ngao giống (ngao cám và ngao thóc) tự nhiên với quy mô tương đối
lớn. Cộng đồng dân địa phương đã tranh thủ khai thác nguồn lợi này để cung cấp con giống cho
các khu nuôi trồng quảng canh loài ngao nói trên. Lợi nhuận thu được từ khai thác ngao giống tự
nhiên trên vùng đất ngập nước ở cửa sông Hồng đã tạo nên sức hút mãnh liệt đối với dân địa
phương cũng như dân di cư từ nơi khác đến.
Hệ quả tất yếu của việc khai thác nguồn lợi ngao giống tự phát trái phép trên là gây mất
an ninh trật tự và tác động xấu đến mục tiêu bảo tồn của Vườn quốc gia Xuân Thủy. Chính quyền
địa phương và Ban quản lý Vườn quốc gia, mặc dù đã có nhiều nỗ lực nhưng không thể ngăn cản
được dòng người tràn về khu vực cửa sông Hồng để khai thác nguồn lợi ngao giống tự nhiên
theo mùa vụ. Trong khi các quy định của luật hiện hành không cho phép khai thác tài nguyên
môi trường ở vùng lõi của các Vườn quốc gia. Điều này đã tạo thêm sự lúng túng cho các đơn vị
phỏng vấn một số người dân có kiến thức và kinh nghiệm trong quản lý sử dụng tài nguyên
thủy sản. Phương pháp phỏng vấn bán định hướng được sử dụng trong quá trình trao đổi và
thu thập thông tin. Nhóm cũng đã cùng với cộng tác viên tiến hành điều tra, khảo sát hiện
trường để phân tích, tìm hiểu và đánh giá các tác động của người dân địa phương đến tài
nguyên thủy sản trong quá trình sản xuất, quản lý và sử dụng chúng.
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN.
3.1. Một số đặc điểm cơ bản về Vườn quốc gia Xuân Thủy.
3.1.1. Vị trí địa lý, địa hình
Vườn Quốc gia Xuân Thủy nằm trên vùng đất ngập nước cửa sông Hồng thuộc huyện
Giao Thuỷ, tỉnh Nam Định có vị trí địa lý 20010’ - 20021’ vĩ độ Bắc; 106021’ - 106035’ kinh độ
Đông trong vùng nhiệt đới gió mùa. Trong tổng số 15.100 ha, vùng đệm chiếm diện tích
khoảng 8.000 ha, được phù sa sông Hồng bồi tụ hình thành nên vùng bãi bồi và gần 4.000 ha
đất ngập triều. Đây là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của ngành khai thác và nuôi trồng
các loài thủy hải sản đặc biệt là nhuyễn thể.
3.1.2. Các loài nhuyễn thể cơ bản tại Vườn quốc gia Xuân Thủy
Với hàng trăm năm sinh sống gắn bó với vùng bãi và khai thác tài nguyên
nhuyễn thể, ngư dân địa phương đã quan sát và thường xuyên khai thác khoảng 18 loài
nhuyễn thể khác nhau. Theo phân loại khoa học, 18 loài nhuyễn thể trong khu vực Vườn Quốc
gia thuộc 2 lớp, 5 bộ và 10 họ. Đây có thể xem là các loài nhuyễn thể điển hình, gắn bó với đời
sống của người dân miền biển Giao Thủy.
3.1.3. Hiện trạng sử dụng các loài nhuyễn thể tự nhiên
Trong số 18 loài nhuyễn thể trên, hiện có đến 15 loài có giá trị kinh tế và được cộng đồng
khai thác để sử dụng và trao đổi thương mại. Tuy nhiên, sản lượng khai thác được trong tự nhiên
và giá trị của từng loài có sự khác biệt.
- Về số lượng cá thể: dựa vào sản lượng nhuyễn thể khai thác được trong tự nhiên, có thể
xác định 6 loài nhuyễn thể có số lượng cá thể nhiều nhất trong khu vực theo thứ tự là: (1) Dắt,
(2) Don, (3) Hà, (4) Ngao lứa (Ngao Đỏ có kích thước lớn), (5) Sò lông và (6) Ngó.
- Về giá trị kinh tế (giá cả trên thị trường năm 2010) của các loài nhuyễn thể: các loài nhuyễn
thể có giá bán rất khác nhau; cao nhất có thể lên đến 120.000 đồng/kg, và thấp nhất là 20.000
đồng/kg. Nếu xét riêng 6 loài được khai thác phổ biến thì giá bán có thể sắp xếp theo thứ tự giảm
3.2.1. Lịch thời vụ nghề khai thác thủ công
Nghề khai thác thủ công diễn ra quanh năm nhưng phụ thuộc rất lớn vào con nước và thời
tiết. Giai đoạn từ tháng 2 tới tháng 9 là khoảng thời gian hoạt động khai thác diễn ra sôi nổi, đặc
biệt là từ tháng 2 tới tháng 7. Trong thời gian này, hầu hết người dân đều tham gia khai thác vào
ban ngày, với số ngày làm việc trung bình là 20- 22 ngày/tháng. Giai đoạn từ tháng 7 đến tháng
9 là mùa mưa bão nên hoạt động khai thác phụ thuộc rất nhiều vào thời tiết. Giai đoạn từ
tháng 10 tới tháng 1 năm sau, các hình thức khai thác diễn ra chủ yếu vào ban đêm, số ngày làm
việc trung bình/tháng ít (3- 4 ngày), và số người tham gia khai thác cũng ít hơn.Thời gian làm
việc của mỗi ngày phụ thuộc vào con nước. Ban ngày, thời gian làm việc dao động khoảng từ
4:00 tới 18:00. Ban đêm, thời gian làm việc dao động từ 16:00 tới 06:00 giờ sáng hôm sau (chi
tiết xem Bảng 1).
Bảng 1: Lịch thời vụ nghề khai thác nhuyễn thể thủ công
Tháng 11 12 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10
Thời gian khai thác Làm việc ban đêm
3- 4 ngày làm việc/ tháng
Ban ngày. 20- 22 ngày làm việc/tháng
Tháng 8- 9: mùa mưa bão, ngày làm
việc phụ thuộc vào thời tiết
Giờ làm việc Từ 04:00 – 18:00 Phụ thuộc vào con nước, dao động từ
4:00 tới 18:00
Số người Ít người tham gia khai thác Nhiều người tham gia khai thác
Các loại hình khai
thác
+ Xúc vây
+ Cuốc vạng
+ Nạo ngoài
+ Vét có đèn
Tất cả các loại hình khai thác
Hình 1: Các dụng cụ chuyên dụng để khai thác Ngao
3.2.2. Các loại hình khai thác thủ công
Nước cạn
Số người
tham gia
(1) (5)
Đòi hỏi
người có
nhiều kinh
nghiệm
(2) (4) (3)
Thu nhập(2)
110.000 đ/kg
Khoán sản
phẩm
(3)
Thất thường
(2)
120.000đ/kg
Khoán sản
phẩm
(1)
200.000 đ/
ngày
(3)
Thất
thường
Ghi chú: (1) -> (5) là ghi theo thứ tự giảm dần
Hình 2: Hoạt động khai thác Ngao giống của người dân địa phương
quốc gia Xuân Thủy.
3.3. Nguyên tắc xây dựng cơ chế đồng quản lý
Xây dựng cơ chế đồng quản lý khai thác sử dụng bền vững nguồn lợi Ngao giống tự
nhiên ở khu vực dựa trên các nguyên tắc cơ bản sau:
- Đảm bảo yêu cầu sử dụng bền vững tài nguyên ĐNN, đáp ứng lợi ích trước mắt của cộng đồng
địa phương, đồng thời thiết lập cơ chế quản lý chặt chẽ nhằm đáp ứng yêu cầu về bảo vệ tài
nguyên môi trường của Vườn quốc gia Xuân Thủy và đảm bảo an ninh trật tự ở khu vực
- Có sự tham gia quản lý của các bên liên quan ở địa phương (cơ chế đồng quản lý)
- Cộng đồng địa phương đươc hưởng lợi từ việc thu hoạch nguồn lợi Ngao giống tự nhiên ở khu
vực, đồng thời phải thực hiện nghiêm túc các nghĩa vụ công dân đã được thể chế hóa trong các
văn bản pháp quy của cấp thẩm quyền
3.4. Tổ chức thực hiện
Cơ chế đồng quản lý được vận hành trên cơ sở cộng đồng trách nhiệm của các bên liên
quan, trong đó có quy định trách nhiệm cụ thể của các thành viên
Các bên tham gia hoạt động quản lý giám sát và khai thác nguồn lợi Ngao giống tự nhiên
ở khu vực
- Các cơ quan ban ngành hữu quan của tỉnh Nam Định và huyện Giao Thủy
- Ban quản lý khai thác nguồn lợi Ngao giống tự nhiên ở khu vực
- Các thành viên trong tổ tự quản
- Các tổ chức, cá nhân trưc tiếp nhận thuê khoán đất mặt nước để khai thác nguồn lợi Ngao giống
tự nhiên ở khu vực
- Những người dân hành nghề khai thác Ngao giống tự nhiên hoặc làm các dịch vụ, thu mua,
bằng mọi hình thức tại khu vực
1. Các hoạt động được phép trong khu vực
- Chỉ được phép khai thác nguồn lợi Ngao giống (Ngao cám và Ngao thóc) tự nhiên theo mùa vụ
từ tháng 5 đến tháng 7 hàng năm trên vùng đất ngập nước ở khu vực cửa sông Hồng thuộc Vườn
quốc gia Xuân Thủy
- Chỉ được dùng những phương tiện và công cụ thủ công (công cụ cầm tay, không có động cơ) để
khai thác Ngao giống
- Có thể dựng lều lán tạm thời để cư ngụ trong mùa vụ khai thác (dùng cọc tre làm khung và
Chính Phủ về “Phê duyệt chương trình bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản đến năm 2010”
- Kiểm tra giám sát phối hợp với các cơ quan chức năng đả bảo an ninh trật tự và tài nguyên môi
trường của khu vực
- Tiến hành cho thuê khoán đất mặt nước (trong mùa vụ khai thác Ngao giống từ tháng 5 đến
tháng 7) cho các chủ hộ khai thác theo quyết định của cấp thẩm quyền. Thu phí cho thuê khoán
và các khoản đóng góp khác của các chủ hộ
- Chỉ đạo và hỗ trợ nhóm tự quản thực hiện chức năng nhiệm vụ ở khu vực khai thác ngao giống
trên vùng đất ngập nước ở cửa sông Hồng thuộc Vườn quốc gia Xuân Thủy
- Tổ chức các hoạt động tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về bảo vệ và phát triển Vườn
quốc gia Xuân Thủy cho cộng đồng. Tăng cường hoạt động nghiên cứu khoa học và chuyển giao
các tiến bộ kỹ thuật vào cộng tác khai thác, sử dụng bền vững nguồn lợi Ngao giống tự nhiên ở
khu vực.
3.4. Tác động của ngành nuôi trồng và khai thác nhuyễn thể tới địa phương.
Sự phát triển của ngành khai thác và nuôi nhuyễn thể tác động tới tất cả các mặt
kinh tế, xã hội của địa phương. Cơ cấu nghề nghiệp thay đổi mạnh mẽ, bên cạnh các hộ chuyền
qua nuôi nhuyễn thể (hay còn gọi là làm vây vạng) thì một số lớn người dân trong xã (đặc biệt là
Giao Xuân) tham gia khai thác thủ công và làm thuê trên các vây nuôi ngao. Các dịch vụ khác
phục vụ cho “con ngao” cũng bắt đầu phát triển đặc biệt là buôn bán thủy hải sản xuất đi các tỉnh
khác và xuất khẩu ra nước ngoài. Thu nhập từ nghề nuôi trồng ngao đóng góp rất lớn vào ngân
sách của địa phương và mức sống của người dân. Tiêu biểu nhất là xã Giao Xuân, ngân sách từ
thu lệ phí cho thuê đất (vây vạng) đã lên tới 1.223.267 Đồng (2006), nhiều tỷ phú xuất hiện, bộ
mặt thị tứ khởi sắc với các công trình nhà ở và biệt thự khang trang. Sau đây là một vài những
ghi nhận về tác động của ngành nuôi trồng nhuyễn thể tới các ngành nghề khác trong khu vực.
Bảng 3: Tóm tắt những tác động của ngành khai thác và nuôi nhuyễn thể tới cơ cấu ngành
nghề xã Giao Xuân
TT Đối tượng Hệ quả
- Người nông dân có thêm công việc làm bán thời gian
- Có thêm thu nhập, công tăng gấp 3 lần so với làm nghề thuần
1 Nông nghiệp nông (công tăng từ 35.000 tới 110.000/ngày công)
- Giá sản phẩm và vật tư nông nghiệp tại địa phương tăng cao hơn
Để quản lý TNTN bền vững cần có sự tham gia của nhiều ban ngành, nhiều cấp, đặc biệt
là xã hội hóa công tác quản lý TNTN, trong đó nhấn mạnh sự tham gia cộng đồng địa phương.
Tạo điều kiện cho cộng đồng tiếp cận và tham gia đầy đủ trong suốt quá trình, từ giai đoạn ra
quyết định đến thực thi chính sách tại cộng đồng. Bên cạnh đó, cần chú trọng công tác hỗ trợ
nâng cao sinh kế cho cộng đồng để giảm thiểu tác động tiêu cực tới TNTN. Cơ chế chia sẻ quyền
lợi công bằng giữa các bên tham gia trong quản lý và sử dụng TNTN cần phải được cân nhắc để
thu hút tối đa sự tham gia và phát huy vai trò của các bên trong công tác khai thác, sử dụng và
quản lý TNTN.
Để góp phần vào việc khai thác, bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản, chúng tôi xin
đưa ra một số kiến nghị như sau:
1. Quản lý: Tăng cường sự hợp tác giúp đỡ của các nhà đầu tư, các nhà khoa học, tạo mối liên
kết bền vững giữa 3 nhà: nhà đầu tư, nhà khoa học và ngư dân. Nhân rộng mô hình cơ chế đồng
quản lý với nhiều nguồn lợi tài nguyên thiên nhiên khác và các địa phương khác.
2. Con giống: Đầu tư dự báo nguồn giống trong tự nhiên, xây dựng các phương án sản xuất
giống nhân tạo và khai thác bền vững giống tự nhiên với mục đích người dân có thể chủ động về
giống.
3. Vốn sản xuất: Nghề nuôi Ngao yêu cầu vốn tương đối lớn để cảo tại vây nuôi và đầu tư con
giống. Để hỗ trợ bà con ngư dân yên tâm sản xuất thiết nghĩ các ngân hàng nên tạo điều kiện cho
người dân vay vốn sản xuất với lãi xuất và thời gian phù hợp với nhu cầu của người dân.
4. Quy hoạch vùng sản xuất: vùng nuôi Ngao khu vực VQGXT hình thành một cách tự phát,
thiếu quy hoạch tổng thể. Vì vậy một quy hoạch với sự tham gia của người dân nên được tiến
hành để nhanh chóng ổn định và tăng năng xuất Ngao thông qua việc tái quy hoạch các vùng sản
xuất khác nhau như vùng sản xuất Ngao giống, vùng sản xuất Ngao thịt hay vùng ương Ngao;
trong đó không quên quy hoạch vùng khai thác tự do cho bà con nông dân khai thác.
5. Môi trường: Tăng cường khả năng quản lý môi trường thông qua các dự án quan trắc môi
trường và cảnh báo môi trường.
6. Công nghệ nuôi: Cần nghiên cứu quy trình kỹ thuật hoàn chỉnh và áp dụng từ việc lựa chọn,
cải tạo vùng nuôi, lựa chọn con giống, chăm sóc, thu hoạch tới bảo quản sản phẩm.
7. Xây dựng thương hiệu: Ngao Giao Thủy là một trong 18 vùng sản xuất ngao được Liên Minh
Châu Âu (EU) công nhận chất lượng (Chỉ thị 91/492/EEC). Chính vì vậy đây là lợi thế rất lớn