BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
LÊ VĂN THOẠI
NGHIÊN CỨU THIẾT KẾ, CHẾ TẠO MÔ HÌNH XE
Ô TÔ THÂN VỎ BẰNG VẬT LIỆU COMPOSITE,
SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG MẶT TRỜI VÀ NĂNG
LƯỢNG ĐIỆN PHỤC VỤ DU LỊCH (PHẦN CHẾ TẠO)
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Khánh Hòa - 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
của riêng tôi. Các nội dung triển khai, số liệu đo đạc nêu trong luận văn là hoàn toàn
trung thực, chưa từng được ai công bố trong bất kì công trình nào. Tác giả Lê Văn Thoại
ii
LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tôi trân trọng kính gửi đến Ban Giám hiệu Trường Đại học Nha
Trang; Ban Chủ nhiệm Khoa Sau đại học, Khoa Kỹ thuật Giao thông; Xưởng Cơ khí -
Trường Đại học Nha Trang sự kính trọng và lòng tri ân vì đã luôn hỗ trợ, giúp đỡ tôi
trong hơn 2 năm học tập và nghiên cứu tại trường vừa qua.
Với lòng biết ơn sâu sắc nhất tôi xin được gửi đến thầy TS. Lê Bá Khang đã tận
tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành các nội dung của luận văn.
Và sau hết, tôi xin được ghi nhớ tình cảm, sự hỗ trợ giúp đỡ của Lãnh đạo
Phòng Quản lý Khoa học, Lãnh đạo Sở Khoa học và Công nghệ Khánh Hòa - Tổ chức
nơi tôi đang công tác, cùng KS. Phạm Tạo - Giáo viên Bộ môn Kỹ thuật ô tô và Quý
Thầy/Cô giáo trong Khoa Kỹ thuật Giao thông, Khoa Sau Đại học - Trường Đại học
Nha Trang, gia đình và bạn bè thân thiết đã luôn luôn đồng hành, tạo điều kiện thuận
lợi để tôi hoàn thành quá trình học tập tại ngôi trường này.
Xin trân trọng cảm ơn./.
iii
1.3.1.3. Hydrocacbon chưa cháy (HC) 19
1.3.1.4. Bồ hóng - muội than, chì, lưu huỳnh 19
1.3.2. Tác hại của các chất gây ô nhiễm từ khí thải động cơ đốt trong 19
1.3.2.1. Đối với con người 19
1.3.2.2. Đối với môi trường 21
iv
1.4. Kết luận 22
CHƯƠNG 2 - CƠ SỞ TÍNH TOÁN, CHẾ TẠO 24
2.1. Tổng quan về ô tô 24
2.1.1. Giới thiệu chung 24
2.1.2. Các lực và moment tác dụng lên ô tô trong quá trình chuyển động 25
2.1.2.1. Trọng lượng 26
2.1.2.2. Phản lực của mặt đường 27
2.1.2.3. Lực cản dốc 28
2.1.2.4. Lực cản lăn 28
2.1.2.5. Lực cản khí động học 28
2.1.2.6. Lực quán tính 29
2.1.2.7. Lực kéo 29
2.2. Năng lượng điện, năng lượng mặt trời sử dụng cho ô tô 30
2.2.1. Ô tô sử dụng năng lượng điện 30
2.2.2. Ô tô sử dụng pin nhiên liệu 31
2.2.3. Ô tô sử dụng năng lượng mặt trời 32
2.2.3.1. Nguồn năng lượng mặt trời 32
2.2.3.2. Sự phát triển năng lượng mặt trời tại Việt Nam 33
2.2.3.3. Pin mặt trời 37
2.3. Vật liệu composite sử dụng chế tạo thân vỏ ô tô 40
2.3.1. Định nghĩa và phân loại 40
2.3.2. Cấu trúc vật liệu composite 42
2.3.4.1. Vật liệu nền (resin) 44
3.2.1.2. Chế tạo khung xe 75
3.2.2. Chế tạo bộ phận giảm tốc động cơ điện 76
3.2.2.1. Phương án truyền động 76
3.2.2.2. Chuẩn bị vật liệu 77
3.2.2.3. Tiến hành chế tạo 78
3.2.3. Chế tạo hệ thống điều khiển động cơ 78
3.2.3.1. Thiết kế mạch trên máy tính 78
3.2.3.2. Chế tạo bản mạch 79
3.2.4. Chế tạo thân vỏ xe mô hình 80
3.2.4.1. Lựa chọn công nghệ chế tạo 80
3.2.4.2 Chế tạo thử 82
3.2.4.3. Chế tạo hệ thống thân vỏ cho xe mô hình 83
vi
3.3. Lắp ráp, hoàn thiện mô hình xe thân vỏ bằng vật liệu composite, sử dụng
năng lượng mặt trời và năng lượng điện 88
3.3.1. Đặc điểm quy trình công nghệ lắp ráp 88
3.3.2. Lập sơ đồ lắp ráp 88
3.3.3. Mô tả nguyên công lắp ráp 91
3.3.3.1. Lắp ráp gầm xe 91
3.3.3.2. Lắp ráp nội thất 92
3.3.4. Lắp ráp gầm xe 94
3.3.4.1. Lắp ráp hệ thống treo 94
3.3.4.2. Lắp ráp hệ thống lái 95
3.3.4.3. Lắp ráp hệ thống phanh 96
3.3.4.4. Lắp ráp các hệ thống còn lại 97
3.4. Kiểm tra chất lượng sau lắp ráp 98
3.4.1. Kiểm tra tổng thể 101
3.4.1.1. Kiểm tra khung, thân vỏ 101
3.4.1.2. Động cơ và các bộ phận liên quan 102
Từ viết tắt
Nghĩa của từ
1 NLMT Năng lượng mặt trời
2 ECM
bộ điều khiển
motor bằng điện tử
3 Hybrid Lai (Giữa hai loại động cơ)
4 V Vôn (đơn vị điện áp)
5 W Watt (Công suất)
6 kW Kilowatt
7 Ah Ampe giờ
8 PWM Phương pháp điều khiển xung bằng
cách điều chỉnh điện áp ra
9 EVA Ethylene Vinyl Acetate
10 PWM Pulse Width Modulation
11 FRP Fibreglass Reinforced Plastics
(composite sợi thủy tinh)
12 PVA Polyvinyl alcohol ix
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Mức độ phát sinh ô nhiễm trung bình của quá trình cháy nhiên liệu 18
Bảng 2.1 Số liệu về lượng bức xạ mặt trời tại các khu vực ở Việt Nam 35
Bảng 2.2 Lượng tổng xạ bức xạ mặt trời trung bình ngày của các tháng trong
xe tải Hino 17
Hình 1.19 Nồng độ các chất ô nhiễm theo hệ số dư lượng không khí λ 18
Hình 1.20 Hiệu ứng nhà kính 21
Hình 2.1 Cấu trúc tổng quát của ô tô 24
Hình 2.2 Lực và moment tác dụng lên ô tô trong quá trình chuyển động lên dốc,
tăng tốc trong mặt phẳng dọc 25
Hình 2.3 Sự phân bố trọng trọng lượng của xe 26
Hình 2.4 Phản lực của mặt đường lên các bánh xe trước 27
Hình 2.5 Sơ đồ biểu diễn lực kéo 30
Hình 2.6 Mô hình Pin mặt trời đầu tiên 37
Hình 2.7 Các loại Pin mặt trời hiện nay 38
Hình 2.8 Cấu tạo một modun pin mặt trời 39
xi
Hinh 2.9 Sơ đồ nguyên lý của pin mặt trời 39
Hình 2.10 Nguyên lý hoạt động của một tế bào pin mặt trời 40
Hình 2.11 Sơ đồ phân loại vật liệu Composite 41
Hình 2.12 Một số dạng cốt thường gặp 42
Hình 2.13 Cấu trúc vật liệu composite 43
Hình 2.14 Sơ đồ cấu tạo các sợi thủy tinh 46
Hình 2.15 MAT cắt ngắn CSM 47
Hình 2.16 Quy trình công nghệ chế tạo composite bằng tay 51
Hình 2.17 Các thiết bị và vật liệu trong công nghệ đúc chân không 53
Hình 2.18 Sơ đồ công nghệ đúc chân không 53
Hình 2.19 Quá trình điền nhựa polymer vào khuôn trong chế tạo vỏ ô tô 54
Hình 2.20 Phương pháp ép phun 54
Hình 2.21 Máy hàn hồ quang tay 55
Hình 2.22 Hàn hồ quang tay 56
Hình 2.23 Vị trí mổ lấy lửa tạo hồ quang 57
Hình 2.24 Chiều quẹt diêm que hàn 58
Hình 3.6. Sơ đồ truyền động bộ giảm tốc 77
Hình 3.7 Bộ phận giảm tốc động cơ điện sau khi hoàn thiện 78
Hình 3.8 Sơ đồ bố trí linh kiện sau khi vẽ 78
Hình 3.9 Là fip đồng bằng bàn là nóng 79
Hình 3.10 Bóc giấy sau khi đã in mạch 79
Hình 3.11 Gắn linh kiện và hàn mạch 80
Hình 3.12 Board mạch điều khiển sau khi chế tạo 80
Hình 3.13 Máy kiểm nghiệm cơ tính vạn năng 82
Hình 3.14 MAT CSM 225 84
Hình 3.15 Vải Roving dệt 84
Hình 3.16 Tạo lớp bề mặt gelcoat 84
Hình 3.17 Trải lớp MAT CSM 225 lên bề mặt gelcoat 85
Hình 3.18 Quét resin lên bề mặt MAT CSM 225 85
Hình 3.19 Composite dạng tấm phẳng sau khi hoàn thành 86
Hình 3.20 Lắp ráp vỏ composite vào xe mô hình 86
Hình 3.21 Hệ thống vỏ xe sau khi gia công thô 86
Hình 3.22 Gia công hoàn thân vỏ xe 87
Hình 3.23 Thân vỏ xe mô hình sau khi hoàn thiện 87
Hình 3.24 Sơ đồ lắp ráp 90
Hình 3.25 Chuẩn bị các chi tiết 94
xiii
Hình 3.26 Hệ thống treo trước hoàn chỉnh 95
Hình 3.27 Lắp vành tay lái và trục lái 95
Hình 3.28 Lắp cơ cấu lái 95
Hình 3.29 Hệ thống lái sau khi hoàn chỉnh 96
Hình 3.30 Lắp xilanh chính và bàn đạp phanh 96
Hình 3.31Ngã 3 dầu và lắp ống dẫn dầu vào phanh tang trống 96
Hình 3.32 Lắp các tấm pin mặt trời 97
Hình 3.33 Bộ điều khiển nạp 97
trời nhưng vẫn được xếp vào loại ô tô sạch (Zero Emission Vehicles - ZEV). Chính vì
vậy, ô tô điện đã được dành cho một vị trí quan trọng trong dự báo phát triển phương
tiện giao thông cơ giới hiện nay và trong tương lai. Tuy thị trường ô tô điện mới chỉ
chiếm khoảng 3% nhưng ước tính đã có khoảng 2 triệu ô tô điện được sản xuất hàng
năm, chủ yếu là ở Nhật Bản, Châu Âu và Bắc Mỹ. So với ô tô truyền thống (ô tô chạy
bằng động cơ xăng, động cơ diesel) thì ô tô điện có 2 nhược điểm cơ bản là trữ lượng
năng lượng thấp (khả năng chứa điện có hạn của ắc quy và số lượng ắc quy có thể lắp
2
đặt trên ô tô) và giá thành cao. Trữ lượng năng lượng thấp làm cho tốc độ, tính năng
tăng tốc và cự ly hoạt động giữa hai lần nạp điện của ô tô điện bị hạn chế.
- Sử dụng vật liệu mới trong chế tạo vỏ ô tô: Vật liệu truyền thống quan trọng
nhất trong thành phần cấu tạo thân vỏ ô tô là thép. Sự kết hợp tinh tế giữa thép và các
loại vật liệu khác như kim loại nhẹ là lựa chọn tối ưu cho vỏ ô tô trên dòng phổ thông
bởi chi phí sản xuất thấp, nguồn nguyên liệu dồi dào. Song, vật liệu thép làm tăng khối
lượng của ô tô dẫn đến tăng suất tiêu hao nhiên liệu, với các loại thép thông thường
nếu có độ cứng cao rất khó định hình. Chính vì vậy việc nghiên cứu sử dụng các loại
vật liệu mới trong chế tạo hệ thống thân vỏ ô tô nhằm giảm trọng lượng ô tô cũng là
một vấn đề cần giải quyết hiện nay, nhất là trong bối cảnh ô tô sử dụng điện năng ngày
càng phát triển, nếu giảm được trọng lượng của ô tô sẽ tăng hiệu quả sử dụng điện
năng từ ắc quy.
Với những phân tích trên tôi chọn đề tài: “Nghiên cứu thiết kế, chế tạo mô
hình xe ô tô thân vỏ bằng vật liệu composite, sử dụng năng lượng mặt trời và năng
lượng điện phục vụ du lịch” (phần chế tạo) để thực hiện.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Chế tạo mô hình xe 4 chỗ ngồi, thân vỏ bằng vật liệu composite, sử dụng năng
lượng mặt trời và năng lượng điện.
3. Phạm vi nghiên cứu
- Đặc điểm nguồn năng lượng mặt trời, năng lượng điện và ứng dụng năng
lượng mặt trời, năng lượng điện cho ô tô.
này là một chiếc máy kéo ba bánh tự động sử dụng động cơ hơi nước được dùng trong
quân đội. Tuy nhiên hoạt động của chiếc ô tô ban đầu rất giới hạn, nhiều nhất nó chỉ có
thể chạy được liên tục trong vòng mười lăm phút. Ngoài ra, thiết kế của chiếc xe
không phù hợp với việc di chuyển trên đường bởi vì động cơ hơi nước làm cho xe có
kích thước rất lớn và nặng.
Hình 1.1 Chiếc ô tô đầu tiên Hình 1.2 Ô tô điện của Robert Anderson
Vào khoảng những năm 1832 -1839, Robert Anderson người Scotland đã phát
minh ra loại xe điện chuyên chở đầu tiên. Năm 1842, hai nhà phát minh người Mỹ là
Thomas Davenport và Robert Davidson trở thành những người đầu tiên đưa pin vào sử
dụng cho ô tô điện. Đến những năm 1865, Camille Faure đã thành công trong việc
nâng cao khả năng lưu trữ điện trong pin, giúp cho xe điện có thể di chuyển một quãng
đường dài hơn. Pháp và Anh là hai quốc gia đầu tiên đưa ô tô điện vào phát triển trong
hệ thống giao thông vào cuối thế kỷ 18.
5
Chiếc xe đua La Jamais Contente (1899) Edison và chiếc xe Detroit (1914)
Hình 1.3 Ô tô điện đầu tiên trên thế giới
Đến đầu thế kỷ XX, ô tô điện trở nên yếu thế so với ô tô sử dụng động cơ đốt
trong do những nguyên nhân chính sau:
- Vào thời điểm này, người ta đã tìm ra những mỏ dầu lớn trên thế giới dẫn đến
việc hạ giá thành của dầu và các sản phẩm dẫn xuất trên toàn cầu. Vấn đề nhiên liệu
cho xe chạy động cơ đốt trong trở nên đơn giản.
- Về giá thành, năm 1928, một chiếc xe chạy điện có giá khoảng 1750 USD,
trong khi đó một chiếc xe chạy xăng chỉ có giá khoảng 650 USD.
- Về mặt kỹ thuật, công nghệ chế tạo động cơ đốt trong và công nghiệp ô tô có
những tiến bộ vượt bậc: Charles Kettering đã phát minh ra bộ khởi động cho xe chạy
xăng, ngành công nghiệp ô tô cuối cùng cũng đã đến tuổi trưởng thành với một số
số quốc gia khu vực Đông Nam Á, mức tăng trưởng của ngành công nghiệp ô tô
luôn cao hơn qua mỗi năm do sức mua của thị trường ô tô trong nước ngày càng tăng.
Bên cạnh thế mạnh là sản xuất dòng ô tô sử dụng động cơ đốt trong với cải tiến về
công nghệ (khung, vỏ, động cơ, khung gầm) thì dòng ô tô sạch (sử dụng nhiên liệu
sinh học, pin nhiên nhiệu, năng lượng điện, năng lượng mặt trời,…) cũng được các
hãng xe chú trọng nghiên cứu, phát triển.
Các chuyên gia dự đoán, việc đổi từ ô tô dùng xăng/diesel sang dùng điện là sự
chuyển tiếp tất yếu dù không dễ dàng. Quá trình chuyển tiếp của ô tô dùng 100%
xăng/diesel sang 100% điện trải qua nhiều công nghệ “bước đệm” với đủ loại “xe lai”.
Ô tô điện lai (hybrid vehicle) là loại xe “lai” giữa xe dùng điện và xe dùng xăng, sử
dụng hỗn hợp cả năng lượng xăng và điện.
7
● Full Hybrid (HEV): động cơ xăng là động cơ chính, động cơ điện cung cấp
lực kéo phụ trợ khi cần. Nguồn điện tự cấp nhờ chuyển đổi từ năng lượng cơ khí thu
hồi khi xe giảm tốc độ. Toyota Prius I là loại xe này, tiết kiệm khoảng 30-35% năng
lượng xăng.
● Plug-in Hybrid (PHEV): còn gọi là ô tô lai sạc điện. Có cùng nguyên tắc vận
hành như HEV, nhưng PHEV có phích cắm để sạc điện từ nguồn cung cấp bên ngoài.
Thuật ngữ “plug-in” cho biết, xe có bộ nạp tích hợp sẵn, chỉ cần cắm điện vào lưới
điện dân dụng mà không cần bộ nạp. Tiết kiệm khoảng 31-67% xăng tùy số lần sạc
điện. Toyota Prius III, Ford Escape Hybrid, Honda Civic Hybrid,… là những dòng
PHEV có tại Việt Nam.
● Plug-in Hybrid Range Extender (PHREV): khác hai loại xe lai trên, PHREV
vận hành nhờ động cơ điện, động cơ xăng chỉ dùng để phát điện. Dòng ô tô điện BMW
i3 Range Extender sử dụng công nghệ PHREV tiết kiệm được 85% lượng xăng tiêu thụ.
Sau nhiều cải tiến, đích đến cuối cùng của công nghệ ô tô điện là sử dụng 100%
động cơ điện. Đây mới đúng là Zero Emission Vehicle (ZEV), “xe không khí thải”.
● ZEV (Zero Emission Vehicle): thành quả nghiên cứu của liên minh gồm hai
hãng xe Pháp-Nhật, Renault và Nissan. Nissan Leaf là mẫu xe chạy điện đầu tiên sản
pin quang điện qua hấp thu ánh sáng mặt trời và tạo ra dòng điện. Sơ đồ nguyên lý xe
điện mặt trời gồm:
tấm pin mặt trời, bộ điều khiển
sạc, bộ nguồn (ắc quy), bộ điều
khiển
motor bằng điện tử
(Electronic Control Module - ECM),
động cơ điện và các
hệ thống hỗ trợ khác.
Hình 1.7 Sơ đồ hệ thống truyền động sử
dụng năng lượng mặt trời [3]
Hình 1.8 Xe ô tô sử dụng pin năng lượng mặt
trời của hãng Siemens
Ưu điểm:
+ Ô tô năng lượng mặt trời được
xếp vào dạng ô tô sạch.
+ Hoạt động rất êm, hiệu suất
cao, ít bảo trì, bảo dưỡng.
9
+ Năng lượng mặt trời là vô tận và quá trình
sản sinh ra nó không gây ô nhiễm.
Nhược điểm:
+ Giá thành cao.
Các hãng ô tô lớn đang lần lượt đưa các mẫu xe thuần điện (pure Evs) ra thị
trường. Mitsubishi mới là hãng đầu tiên tung ra xe điện thương phẩm với i-MiEV. Xe
i-MiEV đã được giới thiệu ở Việt Nam tại triển lãm ô tô Vietnam Motor Show 2010.
Để có thể đưa ra thị trường mẫu xe ô tô điện i-MiEV, hãng Mitsubishi Motors
đã mất hơn 40 năm nghiên cứu. Từ khi ấp ủ những ý tưởng đầu tiên về xe ô tô điện,
chính thức bắt đầu nghiên cứu từ năm 1966. Cho đến nay, hãng Mitsubishi Motors đã
chế tạo ra 10 mẫu xe thử nghiệm với hơn 500.000 km chạy thử trên toàn cầu.
Trong giới nghiên cứu khoa học, các trường đại học lớn ở Nhật đều có những
phòng thí nghiệm, trung tâm nghiên cứu về ô tô điện. Trung tâm nghiên cứu dưới sự
lãnh đạo của giáo sư Yoichi Hori (sau đây gọi tắt là Hori-Lab) tại Viện Khoa học
Công nghiệp - Trường Đai học Tokyo là một trong những đơn vị tiên phong nghiên
cứu về xe điện tại Nhật Bản. Những nghiên cứu của Hori-Lab tập trung vào 2 lĩnh vực
chính: Điều khiển chuyển động (Motion Control) và Hệ thống Năng lượng cho xe
(Vehicle Power System).
Lĩnh vực điều khiển chuyển động được thực hiện với những nhánh sau:
- Điều khiển chuyển động bám mặt đường.
- Điều khiển ổn định động học thân xe trên cơ sở quan sát các biến trạng thái và
quan sát nhiễu.
- Điều khiển hệ thống lái.
Lĩnh vực nghiên cứu hệ thống năng lượng cho xe được tập trung vào hai
nhánh chính:
- Sử dụng công nghệ siêu tụ điện (Ultra-capacitor) tích trữ năng lượng.
- Sử dụng công nghệ truyền tải điện không dây (Wireless Power Transmission).
Các nghiên cứu của Hori-Lab đều được thực nghiệm trên hệ thống xe điện thí
nghiệm xây dựng tại trung tâm gồm xe UOT Electric March I, II sử dụng nguồn ắc
quy và hệ thống xe điện nhỏ COMS 1, 2, 3 chạy hoàn toàn bằng siêu tụ điện.
Hàn Quốc và Trung Quốc
Công nghệ truyền tải điện không dây ứng dụng trong xe điện được khai thác
mạnh mẽ bởi các nhà nghiên cứu thuộc Viện Khoa học và Công nghệ Tiên tiến Hàn
Quốc (KAIST) với dự án chế tạo xe điện nạp năng lượng từ dưới đất trong suốt quá