BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
HUỲNH THỊ THANH THÖY
XÂY DỰNG HỆ THỐNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ
TẠI CÁC CÔNG TY XÂY DỰNG TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH KHÁNH HÕA LUẬN VĂN THẠC SĨ Ngành đào tạo: QUẢN TRỊ KINH DOANH
Mã số : 60 34 01 02
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết quả
nêu trong luận văn là trung thực và chƣa từng đƣợc công bố trong bất kỳ công trình
nào khác. Huỳnh Thị Thanh Thúy - ii - LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy cô đã tận tình hƣớng dẫn, chỉ bảo và động
viên tôi trong suốt quá trình hoàn thành khóa học cao học. Tôi cũng xin đặc biệt cảm
ơn TS.Phan Thị Dung, những ngƣời đã quan tâm và nhiệt tình trực tiếp hƣớng dẫn cho
tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn để giúp tôi hoàn thành tốt luận văn này.
Xin cảm ơn các đồng nghiệp, các bạn học cùng lớp đã cung cấp một ít số tài liệu
và thông tin hữu ích cho quá trình thực hiện luận văn.
Sau cùng, tôi xin cảm ơn những ngƣời thân trong gia đình đã hết lòng quan tâm
và tạo điều kiện tốt nhất cho tôi để hoàn thành chƣơng trình cao học này.
Trong quá trình thực hiện, mặc dù đã hết sức cố gắng để hoàn thiện luận văn,
trao đổi và tiếp thu các ý kiến đóng góp của các thầy, cô và bạn bè, tham khảo nhiều
tài liệu song cũng không thể tránh khỏi sai xót. Rất mong nhận đƣợc những thông tin
đóng góp, phản hồi từ quý thầy, cô và các bạn.
Khánh Hòa, tháng 10/2014
1.2 Nội dung của kế toán quản trị đối với doanh nghiệp 10
1.2.1 Kế toán quản trị chi phí 10
1.2.1.1 Phân loại chi phí theo chức năng hoạt động 11
1.2.1.2 Phân loại chi phí theo cách ứng xử của chi phí 12
1.2.2 Phân tích mối quan hệ chi phí – khối lƣợng – lợi nhuận 13
1.2.3 Lập dự toán ngân sách kinh doanh 15
1.2.4 Kế toán đánh giá trách nhiệm quản lý 16
1.2.4.1 Trung tâm chi phí 16
1.2.4.2 Trung tâm lợi nhuận 17
1.2.4.3 Trung tâm đầu tƣ 17
1.2.5 Thông tin thích hợp cho việc ra quyết định 18
1.3 Kinh nghiệm tổ chức hệ thống kế toán quản trị cho các doanh nghiệp khác 18
1.4 Hƣớng dẫn áp dụng kế toán quản trị trong doanh nghiệp (53/2006/TT-BTC) 20
Kết luận chƣơng 1 21
- iv -
Chƣơng 2: Thực trạng áp dụng hệ thống kế toán quản trị trong các doanh nghiệp
xây dựng Tỉnh Khánh Hòa 24
2.1 Khái quát về doanh nghiệp xây dựng trên địa bàn Tỉnh Khánh Hòa 24
2.1.1 Sơ lƣợc về ngành xây dựng Khánh Hòa 24
2.1.2 Đặc điểm sản xuất kinh doanh của ngành xây dựng 25
2.1.3 Đặc điểm của sản phẩm xây lắp 26
2.2 Thực trạng kế toán quản trị của các doanh nghiệp xây dựng trên địa bàn 27
2.2.1 Khái quát chung về kế toán quản trị của các doanh nghiệp xây dựng 27
2.2.2 Thực trạng khảo sát kế toán quản trị của các doanh nghiệp xây dựng 28
2.2.3 Đánh giá thực trạng khảo sát kế toán quản trị tại các doanh nghiệp xây dựng
trên địa bàn 31
2.2.3.1 Thực trạng tổ chức kế toán quản trị chi phí 31
2.2.3.2 Thực trạng tổ chức kế toán quản trị các yếu tố sản xuất 37
2.2.3.3 Quy trình hoạt động sản xuất kinh doanh tại doanh nghiệp xây dựng 39
3.3 Các giải pháp hỗ trợ công tác xây dựng hệ thống kế toán quản trị 80
3.3.1 Ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác tổ chức kế toán quản trị 81
3.3.2 Đào tạo nguồn nhân lực thực hiện công tác kế toán quản trị 81
Kết luận chƣơng 3 83
Kết luận 84
Tài liệu tham khảo
Phụ lục 1
Phụ lục 2
Phụ lục 3
Phụ lục 4 DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
- vi - 1 CMA: (Certified Management Accountant) Chứng nhận kế toán quản trị
2 CT: Công trình
3 BHXH: Bảo hiểm xã hội
4 BHYT: Bảo hiểm y tế
5 BHTN: Bảo hiểm thất nghiệp
Trang
2.1
Bảng một số chỉ tiêu kinh tế của ngành xây dựng Khánh Hòa
22
2.2
Bảng kết quả khảo sát
26
2.3
Bảng danh mục chứng từ sử dụng
42
3.1
Bảng phân loại chi phí theo cách ứng xử chi phí
66
3.2
Bảng tiêu thức phân bổ chi phí sản xuất chung
69
DANH MỤC HÌNH
Số hiệu
hình
Tên hình
Trang
2.1
Sơ đồ quy trình xây dựng
41
2.2
Sơ đồ tổ chức bộ máy kế toán quản trị chi phí của các doanh nghiệp
XD trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa
46
3.1
cũng đã xuất hiện, phát triển gắn liền chính sách, chế độ kế toán áp dụng ở các doanh
nghiệp; tuy nhiên, kế toán quản trị chỉ mới đƣợc đề cập một cách hệ thống vào đầu
những năm 1990 trở về đây và trở thành yêu cầu cấp bách trong xây dựng hệ thống
thông tin kế toán vào đầu những năm 2000 khi các doanh nghiệp cần nâng cao chất
lƣợng quản lý để tăng năng lực cạnh tranh trong môi trƣờng cạnh tranh không những ở
phạm vị thị trƣờng Việt Nam mà còn mở rộng ra thị trƣờng khu vực, thị trƣờng thế
giới. Về mặt luật pháp, thuật ngữ kế toán quản trị cũng chỉ vừa đƣợc ghi nhận chính
thức trong luật kế toán Việt Nam ban hành ngày 17.6.2003.
Hiện nay hệ thống chuẩn mực kế toán của Việt Nam đang đƣợc xây dựng và
ngày càng hoàn thiện, việc nhận thức đúng đắn và đầy đủ bản chất của kế toán quản
trị, thấy đƣợc hiệu quả thiết thực của kế toán quản trị trong quá trình ra quyết định
quản lý, cũng nhƣ phải nhanh chóng xây dựng và áp dụng hệ thống kế toán quản trị
cho các doanh nghiệp nhất là các doanh nghiệp xây dựng là cần thiết để cung cấp
những thông tin một cách chính xác, kịp thời đến Ban lãnh đạo Công ty nhằm nâng
cao hiệu quả sản xuất kinh doanh tại đơn vị.
- 2 -
Chính vì lý do trên, tác giả đã chọn đề tài “Xây Dựng Hệ Thống Kế Toán
Quản Trị Tại Các Công Ty Xây Dựng Trên Địa Bàn Tỉnh Khánh Hòa” làm luận
văn tốt nghiệp, với hy vọng đề tài giúp cho Ban lãnh đạo Công ty quan tâm đến kế
toán quản trị và áp dụng vào Công ty nhằm góp phần hỗ trợ nâng cao hiệu quả hoạt
động kinh doanh, quản lý tại công ty.
2. Mục tiêu nghiên cứu:
Luận văn tập trung vào những nội dung chính sau đây:
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về tổ chức công tác kế toán quản trị.
- Khảo sát tình hình xây dựng và áp dụng hệ thống kế toán quản trị tại các
doanh nghiệp xây dựng trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa.
- Xây dựng hệ thống kế toán quản trị tại các doanh nghiệp xây dựng. Xây dựng
hệ thống các nguyên tắc cần phải tuân theo trong quá trình xây dựng và áp dụng hệ
thống kế toán quản trị. Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống kế toán
hợp dựa trên số liệu khảo sát thực tế tại các doanh nghiệp gạch ngói tỉnh Bình
Dƣơng. Từ đó hệ thống hóa và phân tích, nhận xét những vẫn đề cơ bản về tổ chức
công tác kế toán quản trị tại các doanh nghiệp gạch ngói tỉnh Bình Dƣơng. Nhằm
góp phần làm sáng tỏ thêm lý luận, điều kiện áp dụng, định hƣớng xây dựng kế
toán quản trị để nâng cao chất lƣợng hệ thống quản lý sản xuất kinh doanh trong
các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh nói chung và trong các doanh nghiệp sản
xuất kinh doanh gạch ngói nói riêng.
Trong các công trình nghiên cứu này, các tác giả đã hệ thống các nội dung cơ
bản của hệ thống kế toán quản trị và đề xuất phƣơng hƣớng ứng dụng kế toán quản
trị vào các ngành cụ thể theo phạm vi nghiên cứu của đề tài. Mặc dù vậy tất cả các
công trình nghiên cứu về kế toán quản trị đã công bố đều chƣa nghiên cứu chuyên
sâu về tổ chức kế toán quản trị nhằm tăng cƣờng quản lý hoạt động kinh doanh
trong các doanh nghiệp xây lắp, trong khi ngành xây dựng là ngành đang rất phát
triển, rất cần tổ chức kế toán quản trị một cách khoa học, hiệu quả để cung cấp
những thông tin cần thiết phục vụ cho quản lý các hoạt động sản xuất kinh doanh
xây lắp.
Các công trình nghiên cứu khoa học về kế toán quản trị chủ yếu tập trung vào
các kỹ thuật tính toán và chức năng ghi chép sổ sách để lập các báo cáo cho các
nhà quản trị. Kế toán quản trị cần đƣợc tiếp cận theo hƣớng gắn chặt hơn nữa với
hoạt động kinh doanh. Những thông tin kế toán quản trị cung cấp là cơ sở cho việc
các quyết định phù hợp nhất với chiến lƣợc và hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp. Nhà quản trị ngày càng phải hiểu hơn các công cụ kế toán quản trị, trong
khi các chuyên gia kế toán quản trị phải am tƣờng về chiến lƣợc kinh doanh, cơ cấu
- 4 -
tổ chức của doanh nghiệp hay những phƣơng pháp quản lý hiện đại nhƣ quản lý
chất lƣợng toàn diện, hệ thống sản xuất tinh gọn hay hệ thống tồn kho kịp thời,…
Bên cạnh đó, các tác giả chƣa đi sâu nghiên cứu mối quan hệ giữa tổ chức kế toán
quản trị với yêu cầu, nội dung các chỉ tieu kinh tế tài chính của quản lý doanh
nghiệp.
1.1. Tổng quan về kế toán quản trị
1.1.1. Khái niệm về kế toán quản trị
Kế toán quản trị đƣợc định nghĩa theo nhiều khía cạnh khác nhau, tuy nhiên tất
cả đều thống nhất chung mục đích kế toán quản trị cung cấp thông tin định lƣợng tình
hình kinh tế - tài chính về hoạt động doanh nghiệp cho các nhà quản trị ở doanh
nghiệp và kế toán quản trị là một bộ phận kế toán linh hoạt do doanh nghiệp xây dựng
phù hợp với đặc điểm kinh tế kỹ thuật, tổ chức quản lý.
Kế toán quản trị là thuật ngữ mới xuất hiện ở Việt Nam trong vòng 15 năm trở
lại đây và đã thu hút đƣợc sự chú ý của các doanh nghiệp. Tại Việt Nam, một số doanh
nghiệp đã bƣớc đầu vận dụng và xây dựng cho mình một bộ máy kế toán quản trị riêng
biệt.
Đánh dấu cho sự mở đầu này khi Luật Kế toán Việt Nam đƣợc Quốc hội nƣớc
Cộng hoà XHCN Việt Nam khoá XI kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 17/6/2003 có hiệu
lực kể từ ngày 01/01/2004 đã quy định về KTQT ở các đơn vị nhƣ sau: KTQT là việc
thu thập, xử lý và cung cấp thông tin tài chính theo yêu cầu và quyết định kế toán
trong nội bộ đơn vị kế toán (Luật Kế toán Việt Nam - điều 3, khoản 4). Tuy nhiên,
việc này chỉ đƣợc dừng lại ở góc độ nhìn nhận và xem xét, chƣa có một quyết định cụ
thể hay hƣớng dẫn thi hành mang tính tổng quát. Do đó việc hiểu và vận dụng Kế toán
Quản trị ở các DN Việt Nam còn rất mơ hồ.
Ngày 16/01/2006, Bộ tài chính tổ chức lấy ý kiến về việc ban hành thông tƣ
hƣớng dẫn về thực hiện KTQT tại trƣờng Đại học Kinh tế TP.HCM. Có thể nói, đây là
động thái đầu tiên thể hiện sự quan tâm của cấp nhà nƣớc đối với việc thực hiện
KTQT tại Việt Nam.
Đến ngày 12/6/2006, Thông tƣ số 53/2006/TT-BTC của Bộ Tài Chính về
hƣớng dẫn áp dụng kế toán quản trị trong doanh nghiệp chính thức đƣợc ra đời nhằm
hƣớng dẫn cho các doanh nghiệp thực hiện KTQT. Từ khi ra đời đến nay kế toán quản
trị vẫn mò mẫm lối đi, vẫn chƣa có một tổ chức nào có đủ chuyên môn và kinh nghiệm
chuyên tƣ vấn xây dựng hệ thống KTQT. Còn đối với các doanh nghiệp, thì KTQT
vẫn còn xa vời về mặt lý luận lẫn vận hành
- 6 -
những ngƣời khác trong tổ chức.
1.1.2. Nhu cầu thông tin của nhà quản lý
Hoạt động lãnh đạo, quản lý gắn liền với thông tin. Thông tin luôn đƣợc các
- 7 -
nhà lãnh đạo, quản lý coi nhƣ hệ thần kinh của hệ thống quản lý. Thông tin cung cấp
tin tức để ra quyết định quản lý, thông tin đƣợc truyền đi nhƣ các thông điệp để thực
hiện quyết định quản lý. Thông tin có mặt và tác động đến tất cả các khâu của quá
trình lãnh đạo, quản lý. Trong bối cảnh kinh tế đang phục hồi và phát triển ở Việt
Nam, để lãnh đạo, quản lý tốt một doanh nghiệp, để công việc chạy đều, dự báo đƣợc
trƣớc các rủi ro, các doanh nhân phải nhanh nhẹn và nhạy bén trong việc thu thập
thông tin, chắt lọc thông tin chính xác, phổ biến, cung cấp thông tin đúng lúc, đúng đối
tƣợng.
Nhà quản trị ở các cấp khác nhau sẽ có nhu cầu thông tin khác nhau. Tùy theo
chức năng, nhiệm vụ của từng thành viên trong tổ chức mà kế toán quản trị sẽ thiết kế
và cung cấp thông tin phù hợp.
Các thông tin cung cấp phải thỏa mãn các yêu cầu sau:
- Thích hợp: Thông tin thích hợp là những thông tin liên quan đến phƣơng
án trong tƣơng lai và phải phù hợp với mục đích mà nhà quản trị nhắm đến.
- Đầy đủ: Thông tin phải phản ánh đƣợc mọi mặt của quá trình sản xuất kinh
doanh và thông tin đó cung cấp những nội dung cần thiết cho việc ra quyết định của
nhà quản trị đúng, kịp thời.
- Rõ ràng: Nội dung thông tin phải đƣợc trình bày và truyền đạt một cách rõ
ràng, mạch lạc để ngƣời vận dụng có thể thấu hiểu và thực hiện không bị sai xót.
- Đáng tin cậy: Thông tin cung cấp cho nhà quản trị phải đảm bảo độ tin
cậy, chất lƣợng nội dung không bị rò rỉ và có thể sử dụng.
- Đúng lúc: Thông tin cung cấp phải kịp thời, phù hợp với mục đích yêu cầu
công việc.
Thông tin của kế toán quản trị đƣợc thu thập từ hai nguồn:
- Nguồn nội bộ: Thu đƣợc từ sổ sách kế toán tài chính, sổ theo dõi chi tiết
đến việc đạt đƣợc những mục tiêu lâu dài. Kế toán quản trị phải cung cấp các chỉ tiêu
về số lƣợng và giá trị phù hợp với chỉ tiêu kế hoạch. Các chỉ tiêu này vừa có tính quá
khứ, vừa có tính dự báo. Kế toán quản trị cũng tham gia vào việc lập dự toán ngân
sách hàng năm cho tổ chức, đơn vị.
1.1.4.2. Chức năng kiểm tra
Kế toán quản trị cung cấp các thông tin theo mục tiêu quản lý đặt ra. Các thông
tin này đƣợc hình thành trên cơ sở tổ chức hạch toán chi tiết, bằng phƣơng pháp kế
toán và bằng phƣơng pháp phân tích đồ thị biểu diễn các thông tin do kế toán và các
nghành khác cung cấp. Kế toán quản trị cũng cung cấp những báo cáo so sánh biến
động giữa số thực tế và số kế hoạch. Những biến động không theo kế hoạch sẽ đƣợc
chỉ ra và theo đó sẽ có hƣớng sửa chữa.
- 9 -
Vì thế một hệ thống kiểm soát hiệu quả không thể thiếu khâu lập kế hoạch và
ngƣợc lại lập kế hoạch mà không có kiểm soát là vô nghĩa.
1.1.4.3. Chức năng tổ chức và điều hành
Trong việc tổ chức, nhà quản lý sẽ quyết định cách liên kết tốt nhất giữa tổ
chức, con ngƣời với các nguồn lực lại với nhau sao cho kế hoạch đƣợc thực hiện có
hiệu quả nhất. Trong việc điều hành, các nhà quản lý giám sát hoạt động hàng ngày và
giữ cho cả tổ chức hoạt động trôi chảy. Đối với chức năng điều hành, kế toán quản trị
cung cấp thông tin về các chỉ tiêu hoạt động chủ yếu bằng chỉ tiêu phi tiền tệ, trên các
báo cáo nhanh. Để có các thông tin này. Phần lớn các chứng từ phục vụ cho kế toán
quản trị có cùng nguồn gốc với kế toán tài chính, nhƣng do mục đích cung cấp thông
tin khác nhau, nên mức độ xử lý chứng từ có khác nhau. Do vậy trên cùng một hệ
thống chứng từ kế toán, chỉ cần thêm vào các nội dung chi tiết để phục vụ hạch toán
chi tiết theo yêu cầu của kế toán quản trị. Mặt khác cũng cần thiết số liệu từ nguồn
khác. Ví dụ: Số liệu về thống kê thị phần các mặt hàng trên thị trƣờng, số liệu thống kê
về lao động,về thị trƣờng lao động.v.v…
1.1.4.4. Chức năng ra quyết định
Ra quyết định là việc thực hiện những lựa chọn hợp lý trong số các phƣơng án
liệu thu thập đƣợc.
Báo cáo của kế toán quản trị đựoc sử dụng kết hợp với các báo cáo khác của
doanh nghiệp nhƣ báo cáo về thị trƣờng, đối thủ cạnh tranh, công nghệ sản xuất… để
có cái nhìn toàn diện hơn về các yếu tố đang tác động đến hoạt động của doanh nghiệp
Ứng dụng công nghệ thông tin vào việc xử lý số liệu để giúp cho việc xử lý số
liệu đƣợc nhanh chống và chính xác, tiết kiệm đƣợc thời gian và chi phí bỏ ra để có
nguồn số liệu thông tin cần thiết, giúp cho việc ra quyết định của nhà quản trị đƣợc
linh hoạt.
1.2. Nội dung của kế toán quản trị đối với doanh nghiệp
1.2.1. Kế toán quản trị chi phí
Chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ
các hao phí về lao động sống và lao động vật hóa mà doanh nghiệp đã chi ra để tiến
hành các hoạt động sản xuất thi công trong một thời kỳ nhất định.
Chi phí sản xuất đƣợc hình thành do có sự chuyển dịch giá trị của các yếu tố
sản xuất vào sản phẩm sản xuất ra và đƣợc biểu hiện trên hai mặt:
- Về mặt định tính: Đó là bản thân các yếu tố vật chất phát sinh và têu hao
tạo nên quá trình sản xuất để đạt đƣợc mục đích tạo ra sản phẩm, dịch vụ.
- Về mặt định lƣợng: Đó là mức tiêu hao cụ thể của các yếu tố vật chất
tham gia vào quá trình sản xuất và đƣợc biểu hiện qua thƣớc đo phù hợp, mà thƣớc đo
- 11 -
tổng quát là tiền tệ.
Cả hai mặt định tính và định lƣợng của quá trính sản xuất chịu sự chi phối
thƣờng xuyên của quá trình tái sản xuất và đặc điểm sản xuất sản phẩm của Doanh
Nghiệp.
Các doanh nghiệp muốn tồn tại và vƣơn lên khẳng định vị trí của mình cần phải
năng động trong tổ chức quản lý, điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh, đặc biệt
cần làm tốt công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm, nhằm giảm
chi phí từ đó hạ giá thành sản phẩm song vẫn đảm bảo yêu cầu về chất lƣợng công
trình. Ngành xây dựng cơ bản trong điều kiện phát triển nhƣ hiện nay ngày càng giữ
dùng trực tiếp cho sản xuất thi công và những TSCĐ phục vụ cho nhu cầu quản
lý.
+ Chi phí dịch vụ mua ngoài: là toàn bộ số tiền doanh nghiệp xây lắp chi trả cho
các loại dịch vụ mua từ bên ngoài phục vụ cho hoạt động sản xuất nhƣ: tiền
điện, điện thoại, tiền nƣớc, tiền thuê máy…
+ Chi phí khác bằng tiền: bao gồm các khoản chi phí khác chi ra bằng tiền cho hoạt
động sản xuất không thuộc các chi phí đã kể trên nhƣ: chi tiếp khách, hội nghị.
Với cách phân loại này sẽ giúp cho doanh nghiệp xác định đƣợc kết cấu tỷ
trọng của từng loại chi phí trong tổng chi phí sản xuất để phục vụ cho công tác quản trị
trong doanh nghiệp, làm cơ sở để lập dự toán cho kỳ sau.
1.2.1.2. Phân loại chi phí theo cách ứng xử của chi phí
Cách phân loại chi phí chủ yếu sử dụng trong kế tóan quản trị là phân loại chi
phí trong mối quan hệ với khối lƣợng hoạt động (số lƣợng sản phẩm hoàn thành, số
giờ máy hoạt động ). Theo cách phân loại này, các chi phí đƣợc phân thành chi phí
biến đổi, chi phí cố định và chi phí hỗn hợp.
- Chi phí biến đổi (biến phí) là các chi phí thay đổi về tổng số tỷ lệ với sự thay
đổi của mức độ hoạt động. Tuy nhiên có loại chi phí biến đổi tỷ lệ thuận trực tiếp với
biến động của mức hoạt động nhƣ chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí lao động
trực tiếp nhƣng có chi phí biến đổi chỉ thay đổi khi mức hoạt động thay đổi nhiều và
rõ ràng nhƣ chi phí lao động gián tiếp, chi phí bảo dƣỡng máy móc thiết bị
- Chi phí cố định (định phí) là những khoản chi phí mà tổng số không thay đổi
khi có sự thay đổi mức độ hoạt động, nhƣng chi phí trung bình của một đơn vị hoạt
động thì thay đổi tỷ lệ nghịch với mức biến động của mức hoạt động. Chi phí cố định
không thay đổi về tổng số trong phạm vi phù hợp của mức độ hoạt động (ví dụ nhƣ chi
phí khấu hao máy móc thiết bị sản xuất sẽ không thay đổi trong phạm vi khối lƣợng
sản xuất từ 0 đến 2.000 tấn) nhƣng nếu mức độ hoạt động tăng vƣợt quá phạm vi phù
hợp đó thì chi phí khấu hao máy móc thiết bị sản xuất sẽ tăng vì phải đầu tƣ thêm máy móc
- 13 -
thiết bị sản xuất.
cho doanh thu thay đổi và sự thay đổi đó sẽ tác động nhƣ thế nào đến lãi thuần.
- 14 -
* Tỷ lệ số dƣ đảm phí: là tỷ lệ phần trăm của số dƣ đảm phí (SDĐP) tính trên
doanh thu hoặc giữa phần đóng góp với đơn giá bán
Gọi g: là giá bán
a: là chi phí khả biến đơn vị
Tỷ lệ SDĐP
=
g - a
x
100%
g
Thông qua khái niệm về tỷ lệ số dƣ đảm phí ta thấy đƣợc mối quan hệ giữa
doanh thu và lợi nhuận, cụ thể là : Khi doanh thu tăng lên một lƣợng thì lợi nhuận
cũng tăng một lƣợng bằng doanh thu tăng lên nhân cho tỷ lệ SDĐP.
* Kết cấu chi phí: là một chỉ tiêu tƣơng đối phản ánh mối quan hệ tỷ lệ giữa
định phí và biến phí chiếm trong tổng chi phí kinh doanh. Phân tích cơ cấu chi phí là
nội dung quan trọng của phân tích hoạt động kinh doanh, vì cơ cấu chi phí có ảnh
hƣởng trực tiếp đến lợi nhuận khi mức độ hoạt động thay đổi.
Không có một mô hình kết cấu chi phí chuẩn để tất cả các doanh nghiệp có thể
áp dụng, cũng không có câu trả lời chính xác nào cho câu hỏi kết cấu chi phí nhƣ thế
nào là tốt nhất. Mỗi doanh nghiệp xác lập kết cấu chi phí riêng căn cứ trên các đặc
điểm kinh doanh và mục tiêu kinh doanh của mình qua việc xem xét các yếu tố : kế
hoạch phát triển dài hạn và trƣớc mắt của doanh nghiệp, tình hình biến động doanh thu
qua các năm, quan điểm của các nhà quản trị đối với rủi ro,…
* Đòn bẩy kinh doanh (Operating leverage)
Đòn bẩy kinh doanh là một chỉ tiêu đo lƣờng ảnh hƣởng của những thay đổi
doanh thu đối với lợi nhuận kinh doanh của doanh nghiệp. Độ lớn của đòn bẩy kinh
doanh đƣợc xác định nhƣ sau:
động kinh doanh, dự toán bảng cân đối kế toán.
- Dự toán tiêu thụ là nền tảng của dự toán tổng thể doanh nghiệp, vì dự toán
này sẽ xác lập mục tiêu của doanh nghiệp so với thị trƣờng, với môi trƣờng. tiêu thụ
đƣợc đánh giá là khâu thể hiện chất lƣợng hoạt động của doanh nghiệp.
- Dự toán sản xuất là nhằm xác định số lƣợng, chủng loại sản phẩm sản xuất
trong kỳ tới.
- Dự toán chi phí sản xuất nhằm xác định toàn bộ chi phí để sản xuất một khối
lƣợng sản phẩm đã đƣợc định trƣớc. quá trình sản xuất nào cũng luôn gắn với một
trình độ kỹ thuật trong một thời kỳ nhất định.
- Dự toán giá vốn hàng bán: giá vốn hàng bán thực chất là tổng giá thành của
khối lƣợng sản phẩm tiêu thụ trong kỳ tính theo phƣng pháp giá toàn bộ.
- Dự toán chi phí bán hàng nhằm mục đích tính trƣớc và tập hợp các phƣơng
tiện chủ yếu trong quá trình bán hàng. Khi xây dựng dự toán cho các chi phí này cần
tính đến nội dung kinh tế của chi phí cũng nhƣ yếu tố biến đổi và yếu tố cố định trong
thành phần chi phí.
- 16 -
- Dự toán chi phí quản lý DN thƣờng phụ thuộc vào cơ cấu tổ chức của doanh
nghiệp. chi phí này liên quan đến toàn bộ doanh nghiệp, mà không liên quan đến từng
bộ phận hoạt động nào.
- Dự toán chi phí tài chính là quan tâm đến chi phí lãi vay mà doanh nghiệp
phải trả. Cơ sở để lập dự toán chi phí tài chính là số tiền cần vay dài hạn và ngắn hạn
trong mỗi kỳ lập dự toán cũng nhƣ lãi suất vay phải trả cho từng khoản vay.
- Dự toán báo cáo kết quả kinh doanh số liệu dự toán trên các báo cáo tài
chính này thể hiện kỳ vọng của các nhà quản lý tại doanh nghiệp và có thể xem nhƣ
một công cụ quản lý của doanh nghiệp cho phép ra các quyết định về quản trị, nó cũng
là cơ sở để đánh giá tình hình thực hiện dự toán đã đề ra.
- Dự toán vốn bằng tiền là một trong những dự toán quan trọng của doanh
nghiệp. Vì qua đó nó thể hiện khả năng đáp ứng nhu cầu thanh toán bằng tiền cho
ngƣời lao động, các nhà cung cấp và đáp ứng các nhu cầu chi tiêu khác. Dự toán vốn
lợi nhuận
- Xác định các nguyên nhân chủ quan, khách quan tác động đến tình hình thực
hiện các định mức và dự toán.
1.2.4.2. Trung tâm lợi nhuận
Một trung tâm trách nhiệm đƣợc gọi là trung tâm lợi nhuận khi ngƣời quản lý
chịu trách nhiệm cho cả chi phí (đầu ra) và doanh thu (đầu vào) và chênh lệch giữa đầu
ra và đầu vào chính là lợi nhuận. Các trung tâm lợi nhuận không chỉ là các công ty
chuyên về phân phối trong một tập đoàn hoặc các cửa hàng bán lẻ. Ví dụ, một ngân
hàng có thể xem mỗi phòng ban là một trung tâm lợi nhuận.
Tổng hợp đầy đủ, chính xác doanh thu, chi phí, xác định kết quả kinh doanh;
theo dõi và quản lý tình hình sử dụng tài sản, bảo toàn và phát triển vốn đƣợc đầu tƣ.
1.2.4.3. Trung tâm đầu tƣ
Trung tâm đầu tƣ cũng tƣơng tự nhƣ trung tâm lợi nhuận, chịu trách nhiệm
trong việc tạo ra doanh thu, lập kế hoạch và kiểm soát chi phí. Ngoài ra, ngƣời quản lý
của trung tâm đầu tƣ có thẩm quyền điều phối, sử dụng, đầu tƣ tài sản để tìm kiếm
mức lợi nhuận cao nhất. Sự thành công của nó đƣợc đo lƣờng không chỉ bởi số lợi
nhuận tạo ra mà là lợi nhuận trong mối tƣơng quan với tổng vốn đầu tƣ, tức khả năng
sinh lợi của đồng vốn.
Thành quả của các trung tâm đầu tƣ thƣờng đƣợc đánh giá bằng việc sử dụng
các thƣớc đo:
- Tỷ lệ hoàn vốn đầu tƣ (ROI)
- Lợi nhuận còn lại (RI)