Luận văn tốt nghiệp
MỤC LỤC
CHƯƠNG 1 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHO VAY TIÊU DÙNG CỦA NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI 1
Đinh Thị Hằng
Luận văn tốt nghiệp
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
NHNN : Ngân hàng Nhà nước
NHTM : Ngân hàng thương mại
NH TMCP : Ngân hàng thương mại cổ phần
SaigonBank : Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Công thương
SGCT : Sài Gòn Công thương
DNNN : Doanh nghiệp Nhà nước
DNNQD : Doanh nghiệp ngoài quốc doanh
CVTD : Cho vay tiêu dùng
Đinh Thị Hằng
Luận văn tốt nghiệp
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
Đinh Thị Hằng
Luận văn tốt nghiệp
MỞ ĐẦU
Gắn với sự phát triển vượt bậc của nền kinh tế, NHTM đã trở thành tổ chức tài
chính quan trọng bậc nhất. Ở Việt Nam hiện nay, sự phát triển nhanh chóng của nền
kinh tế thị trường một mặt đặt ra yêu cầu, mặt khác là động lực thúc đẩy cho sự phát
triển của hệ thống các NHTM. Trong quá trình đổi mới và phát triển, hoạt động của
ngành Ngân hàng dần được hoàn thiện. Có thể nói trong giai đoạn hiện nay, các NHTM
đã xác lập được vị thế vững chắc trong nền kinh tế quốc dân và ngày càng đóng vai trò
to lớn trong sự nghiệp Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa đất nước.
Dịch vụ ngân hàng đã từng bước đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh và đời
sống sinh hoạt của người dân. Trong các hoạt động của ngân hàng, cho vay là hoạt
thầy cô giáo khác để đề tài của em được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 3 năm 2011
Đinh Thị Hằng
Luận văn tốt nghiệp
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHO VAY TIÊU DÙNG CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. NHTM và hoạt động tín dụng của NHTM
1.1.1. Ngân hàng thương mại
a) Khái niệm NHTM
Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và
thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số
tiền đó để cho vay, thực hiện các nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán.
b) Các hoạt động của NHTM
Hoạt động huy động vốn
Huy động vốn là hoạt động quan trọng đóng vai trò tạo nguồn vốn cho
NHTM, bao gồm: Nhận tiền gửi, phát hành các giấy tờ có giá ra công chúng, vay
từ các tổ chức tài chính khác, tự tài trợ bằng vốn chủ sở hữu của ngân hàng.
Hoạt động cho vay và đầu tư
Hoạt động cho vay và đầu tư là hoạt động mang lại thu nhập chủ yếu cho
ngân hàng. Thông qua hoạt động này ngân hàng có thể bù đắp được các chi phí cho
hoạt động huy động vốn.
Hoạt động trung gian
Các hoạt động trung gian của NHTM như: chuyển tiền, thanh toán không
dùng tiền mặt, thanh toán quốc tế… Đây là hoạt động hỗ trợ các hoạt động nói trên
và mang lại nhiều lợi nhuận cho ngân hàng.
1.1.2. Hoạt động cho vay của NHTM
Cho vay được coi là hoạt động sinh lời cao, đồng thời nó cũng là hoạt động
muốn. Nắm bắt được nhu cầu đó, các ngân hàng đã phát triển nghiệp vụ cho vay
tiêu dùng một mặt tăng tính cạnh tranh với các ngân hàng khác, mặt khác cũng tạo
thêm một khoản lợi nhuận khá lớn cho ngân hàng.
1.2.1. Vai trò của cho vay tiêu dùng trong hoạt động kinh doanh của
NHTM
a) Khái niệm cho vay tiêu dùng
Nghiệp vụ cho vay tiêu dùng (CVTD) là nghiệp vụ trong đó Ngân hàng là
người cho vay, người đi vay là các cá nhân, hộ gia đình, dựa trên nguyên tắc hoàn
trả cả gốc và lãi trong một khoảng thời gian nhất định nhằm giúp người tiêu dùng
sử dụng hàng hóa, dịch vụ trước khi có khả năng chi trả, tạo điều kiện cho họ sớm
được hưởng mức sống cao hơn.
b) Đặc điểm của cho vay tiêu dùng
Cho vay tiêu dùng có các đặc điểm như sau:
- Đối tượng cho vay rất đa dạng: cá nhân, hộ gia đình.
Đinh Thị Hằng 2
Luận văn tốt nghiệp
- Mục đích sử dụng vốn vay linh hoạt vì nó xuất phát từ nhu cầu tiêu dùng
của các cá nhân và hộ gia đình.
- Độ rủi ro của CVTD thường lớn hơn các loại cho vay trong lĩnh vực sản
xuất kinh doanh, vì: nguồn trả nợ hoàn toàn phụ thuộc thu nhập trong tương lai của
người đi vay do đó tình trạng sức khỏe và tình trạng việc làm của người đi vay
luôn là nguyên nhân tiềm ẩn mang đến rủi ro cho khoản tín dụng.
- Chi phí CVTD lớn hơn các loại cho vay thương mại khác: các khoản vay của
tín dụng tiêu dùng thường có quy mô nhỏ mà chi phí cho các khâu lấy thông tin, thẩm
định, xét duyệt cho vay và quản lý hồ sơ vay vốn của khách hàng khá lớn.
- Lãi suất của CVTD thường cao hơn lãi suất của các loại cho vay khác, điều
này xuất phát từ độ rủi ro của CVTD cao và chi phí cho hoạt động CVTD khá lớn.
- Lợi nhuận của CVTD rất cao, xuất phát từ nhu cầu tín dụng tiêu dùng lớn và
lãi suất cho các khoản CVTD khá cao.
- Thời hạn trong tín dụng tiêu dùng khá đa dạng: có cả ngắn hạn, trung và dài hạn.
tiếp với khách hàng xin vay tại ngân hàng hoặc dưới hình thức gián tiếp bằng cách mua
các phiếu tiêu dùng từ những người bán hàng hóa hoặc cung cấp dịch vụ tiêu dùng.
+ CVTD trực tiếp, bao gồm các phương thức:
Tín dụng trả theo định kỳ: là phương thức trong đó khách hàng vay và trả trực
tiếp với ngân hàng với mức trả và thời hạn cho vay được quy định khi cho vay.
Thấu chi: là nghiệp vụ cho phép khách hàng rút tiền từ tài khoản vãng lai của
họ vượt quá số dư có, tới một hạn mức được thỏa thuận.
Thẻ tín dụng: là nghiệp vụ tín dụng, trong đó ngân hàng phát hành thẻ cho
những người có tài khoản ở ngân hàng đủ điều kiện cấp thẻ và ấn định mức giới
hạn tín dụng tối đa mà người có thẻ được phép sử dụng.
+ CVTD gián tiếp: được hiểu là các hoạt động tín dụng tiêu dùng qua việc
ngân hàng mua các phiếu bán hàng từ những người bán lẻ hàng hóa và do vậy nó
chính là hình thức tài trợ bán trả góp của ngân hàng thương mại.Tín dụng trả góp
của ngân hàng được thực hiện qua các bước sau:
(1)Ngân hàng và nhà cung cấp ký hợp đồng mua bán nợ
(2)Nhà cung cấp và người tiêu dùng ký kết hợp đồng mua bán chịu hàng hóa
(3)Nhà cung cấp giao hàng hóa cho người tiêu dùng
(4)Nhà cung cấp bán chịu hàng hóa cho ngân hàng để được thanh toán
(5)Ngân hàng thanh toán cho nhà cung cấp
(6)Người tiêu dùng thanh toán nợ cho ngân hàng
Theo hình thức này, ngân hàng có thể thỏa mãn nhu cầu vay vốn của một số
lượng lớn khách hàng, có thể tiết kiệm chi phí trong việc cấp tín dụng và giảm
thiểu được mức độ rủi ro tín dụng.
d) Vai trò của cho vay tiêu dùng trong hoạt động kinh doanh của NHTM
Đối với NHTM:
Tín dụng tiêu dùng giúp NHTM mở rộng quan hệ với khách hàng, từ đó làm
Đinh Thị Hằng 4
Luận văn tốt nghiệp
tăng khả năng huy động các loại tiền gửi từ dân cư cho ngân hàng. Tín dụng tiêu
dùng tạo điều kiện cho ngân hàng đa dạng hóa hoạt động kinh doanh, từ đó làm
động CVTD chư theo kịp sự phát triển của cả ngân hàng.Vì vậy, khi đánh giá về
Đinh Thị Hằng 5
Luận văn tốt nghiệp
tốc độ tăng của dư nợ cho vay phải đánh giá nó trong mối tương quan với sự gia
tăng của các hoạt động khác của ngân hàng.
b) Tỷ lệ nợ quá hạn trong tổng dư nợ cho vay tiêu dùng
Nợ quá hạn là khoản nợ đã đến thời điểm hoàn của khách hàng trả mà ngân hàng
vẫn chưa thu hồi được. Đây là một chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng của ngân
hàng. Công thức xác định như sau:
Tỷ lệ nợ quá hạn = Dư nợ quá hạn / Tổng dư nợ x 100
Nếu tỷ lệ nợ quá hạn thấp, nằm trong giới hạn cho phép phản ánh chất lượng các
khoản vay tốt, nằm trong tầm kiểm soát của ngân hàng. Ngược lai, nếu tỷ lệ nợ quá
hạn cao và vượt quá giới hạn cho phép phản ánh chất lượng tín dụng của ngân hàng
còn nhiều yếu kém, chứa đựng nhiều rủi ro. Sự phát triển cho vay tiêu dùng không chỉ
là sự gia tăng về số lượng mà quan trọng hơn đó là sự nâng cao về chất lượng của các
khoản vay. Nghĩa là, các khoản vay tiêu dùng vừa đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng
của người đi vay và ngân hàng thu được hết số nợ gốc và tiền lãi khi đến hạn. Vì thế,
các ngân hàng luôn luôn chú trọng công tác đảm bảo an toàn cho các khoản vay tiêu
dùng khi phát triển hoạt động tín dụng này để hạn chế tới mức thấp nhất có thể chấp
nhận được tỷ lệ nợ quá hạn trong tổng dư nợ cho vay tiêu dùng.
c) Sự đa dạng trong các sản phẩm cho vay tiêu dùng
Đa dạng hóa sản phẩm là một chiến lược marketing đúng đắn của bất kỳ
doanh nghiệp nào trong nền kinh tế thi trường nhằm tránh rủi ro tập trung và tối đa
hóa lợi nhuận. Các ngân hàng cũng vậy, luôn tìm ra cách tạo ra những sản phẩm
mới nhằm phục vụ tốt nhất nhu cầu của khách hàng, tăng tính cạnh tranh trong nội
bộ ngành và gia tăng lợi nhuận cho ngân hàng. Một ngân hàng có hoạt động cho
vay tiêu dùng phát triển khi mà sản phẩm CVTD phong phú và đa dạng: sản phẩm
cho vay bất động sản, sản phẩm cho vay du học, sản phẩm cho vay mua mới hay
sửa nhà, mua ô tô… Nhu cầu tiêu dùng của người đi vay rất đa dạng vì thế càng
nhiều sản phẩm CVTD thì càng chứng tỏ khả năng đáp ứng nhu cầu của khách
a) Nhân tố khách quan
Có rất nhiều nhân tố khách quan tác động đến hoạt động CVTD như: Môi
trường kinh tế, môi trường xã hội, môi trường pháp lý. Môi trường kinh tế là nhân
tố ảnh hưởng gián tiếp đến khả năng mở rộng hoạt động CVTD của ngân hàng.
Khi nền kinh tế ổn định, tăng trưởng GDP ổn định, lạm phát duy trì ở mức hợp lý,
thu nhập bình quân đầu người cao… sẽ thúc đẩy nhu cầu tiêu dùng từ đó làm tăng
nhu cầu vay tiêu dùng của người dân. Ngược lại khi nền kinh tế bấp bênh, không
ổn định, thu nhập của người dân thấp thì nhu cầu tiêu dùng sẽ hạn chế một cách tối
đa, bó hẹp nhu cầu vay tiêu dùng. Bên cạnh đó, môi trường xã hội cũng ảnh hưởng
đến CVTD. Tình hình xã hội không ổn định, an ninh trật tự không được đảm bảo,
Đinh Thị Hằng 7
Luận văn tốt nghiệp
an toàn xã hội kém sẽ gây tâm lý bất an cho các nhà sản xuất, do đó sẽ gây giảm
đầu tư. Ngoài ra, môi trường pháp lý cũng gây ảnh hưởng không nhỏ đối với hoạt
động tín dụng tiêu dùng của ngân hàng. Trong nền kinh tế thị trường, tất cả các
thành phần kinh tế đều phải giới hạn trong khuôn khổ pháp luật. Các ngân hàng
cũng phải tuân theo các quy định của nhà nước, Luật của các tổ chức tín dụng,
Luật dân sự và các quy định khác. Riêng về hoạt động tín dụng tiêu dùng sẽ có
những điều khoản quy định riêng buộc các NHTM phải tuân theo.
b) Nhân tố chủ quan
Ngoài những nhân tố khách quan kể trên thì còn có các nhân tố chủ quan tác
động đến hoạt động cho vay tiêu dùng như: Vốn tự có của ngân hàng, chính sách
tín dụng, thủ tục vay vốn, quy trình cấp tín dụng, thông tin tín dụng, công tác tổ
chức của ngân hàng, chất lượng nhân sự, cơ sở vật chất thiết bị… Vì là doanh
nghiệp hoạt động trên lĩnh vực tiền tệ nên vốn tự có của ngân hàng là một nhân tố
hết sức quan trọng. Nó quyết định khả năng mở rộng hoạt động cho vay tiêu dùng,
khả năng thu hút khách hàng và là khởi đầu tạo uy tín cho ngân hàng. Chính sách
tín dụng cũng tác động không nhỏ đến việc mở rộng hoạt động CVTD như: Hạn
mức cho vay đối với một khách hàng, kỳ hạn của khoản tín dụng, lãi suất cho vay
và mức lệ phí… Chính sách tín dụng thắt chặt hay ưu đãi sẽ tác động trực tiếp
Sau hơn 23 năm thành lập, NH TMCP SGCT đã tăng vốn điều lệ từ 650 triệu
đồng lên 2.460 tỷ đồng (ngày 29 tháng 12 năm 2010) với 32 chi nhánh, 75 phòng
giao dịch cùng 05 quỹ tiết kiệm tại các khu vực trên toàn quốc.
Tính đến 31/12/2009, Ngân Hàng TMCP Sài Gòn Công Thương có quan hệ
đại lý với gần 700 Ngân hàng và chi nhánh tại 75 quốc gia và vùng lãnh thổ trên
khắp thế giới. Hiện nay Saigonbank là đại lý thanh toán thẻ Visa, Master Card,
JCB, CUP… và là đại lý chuyển tiền kiều hối Moneygram.
Để mở rộng và nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh, Hội đồng quản trị
NH TMCP SGCT đã đề nghị NHNN cho phép mở thêm chi nhánh tại Hà Nội và
đã được NHNN chấp nhận. Ngày 30/01/1993 NHNN Việt Nam đã cấp giấy phép
số 0015/GCT chấp thuận cho NH TMCP SGCT được mở chi nhánh tại Hà Nội.
Đinh Thị Hằng 9
Luận văn tốt nghiệp
Ngày 29/11/1993, UBND thành phố Hà Nội đã ra quyết định số 621QĐ/UB cho
phép thành lập NH TMCP SGCT –chi nhánh Hà Nội, đánh dấu sự có mặt của NH
TMCP SGCT tại thủ đô. Ngày 18/01/1994, SGCT - chi nhánh Hà Nội làm lễ khai
trương và chính thức đi và hoạt động tại trụ sở 162-164 Thái Hà, Đống Đa, Hà Nội
và đã đạt được những thành tựu đáng khích lệ.
2.1.2. Chức năng, nhiệm vụ
Saigonbank hoạt động trong ngành ngân hàng, trong đó các chức năng, nhiệm
vụ chính như sau:
a. Tổ chức huy động vốn và quản lý các nguồn vốn kinh doanh, bao gồm: tiền
gửi tiết kiệm có kỳ hạn, không kỳ hạn; tiền gửi thanh toán bằng VNĐ và ngoại tệ.
b. Tổ chức cho vay đối với mọi thành phần kinh tế: cho vay theo dự án đầu
tư, bảo lãnh trong nước, cho vay tiêu dùng…
c. Quản lý Ngân quỹ
d. Trung tâm thanh toán kinh doanh dịch vụ trong và ngoài nước: thư tín
dụng L/C, nhờ thu, chuyển tiền…
e. Các dịch vụ ngân hàng như: Kiều hối – MoneyGram, thu chi hộ, xác nhận
khả năng tài chính, Phone Banking, Internet Banking, SMS Banking…
Phòng Kế toán Phòng Kinh
doanh
Phòng Ngân
quỹ
Bộ phận Tín
dụng
Bộ phận Thanh
toán quôc tế
Giám đốc
Luận văn tốt nghiệp
- Phòng kế toán: Giao dịch, cung cấp các dịch vụ của Ngân hàng cho khách
hàng, đồng thời kết hợp với phòng ngân quỹ để thu chi tiền mặt theo chứng từ hợp
lý, hợp lệ, hạch toán kế toán các nghiệp vụ huy động vốn, cho vay thu nợ thu lãi
và các nghiệp vụ khác thực hiện công tác thanh toán, xây dựng kế hoạch tài chính,
quyểt toán thu chi theo kế hoạch tài chính, tổng hợp lưu giữ hồ sơ, hạch toán kinh
tế, lập báo cáo thống kê…
-Phòng kinh doanh
+)Bộ phận tín dụng: Tổ chức quản lý việc thực hiện hoạt động cấp hạn mức
tín dụng cho khách hàng. Thiết lập duy trì và mở rộng các mối quan hệ, tiếp thị tất
cả các sản phẩm dịch vụ của Ngân hàng đối với khách hàng là doanh nghiệp theo
đối tượng khách hàng được phân công, trực tiếp tiếp nhận các thông tin phản hồi từ
phía khách hàng.
+)Bộ phận thanh toán quốc tế: Thực hiện dịch vụ hỗ trợ thanh toán quốc tế
cho các doanh nghiệp có hoạt động sản xuất kinh doanh xuất nhập khẩu và các cá
nhân có nhu cầu chi trả kiều hối theo đúng các quy định hiện hành của ngành Ngân
hàng và của Nhà nước.
2.1.4. Các nghiệp vụ và dịch vụ chủ yếu của chi nhánh
1) Nghiệp vụ huy động vốn
- Nhận tiền gửi ngắn hạn, trung và dài hạn bằng VNĐ và ngoại tệ của các tổ
chức và cá nhân.
đã đạt được kết quả như sau:
2.2.1. Nghiệp vụ huy động vốn
Nhận thức sâu sắc vai trò, vị trí của công tác huy động vốn phục vụ đầu tư
phát triển, bởi vốn là khâu mở đường, quyết định quy mô, tầm cỡ hoạt động tín
dụng của ngân hàng, ban lãnh đạo chi nhánh đã tập trung chỉ đạo công tác huy
động vốn và tỏ ra rất có hiệu quả. Tình hình huy động vốn của chi nhánh trong giai
đoạn 2008 – 2010 được thể hiện qua bảng số liệu sau:
Đinh Thị Hằng 13
Luận văn tốt nghiệp
Bảng 2.1: Kết quả hoạt động huy động vốn
Đơn vị tính: Triệu đồng / %
Năm
Chỉ tiêu
2008 2009 2010
So sánh
2009/ 2008
So sánh
2010 / 2009
Số tiền
Tỷ lệ
%
Số tiền
Tỷ lệ
%
Tổng nguồn vốn huy động 418.20
1
598.726 718.071 180.502 43,16
119.34
5
19,93
Qua bảng số liệu trên ta thấy, tổng nguồn vốn huy động tại chi nhánh năm sau
cao hơn năm trước. Năm 2009 tăng so với 2008 là 180.502 trđ tương ứng với tỷ lệ
tăng là 43,16%. Năm 2010 tăng so với 2009 là 119.345 trđ tương ứng với tỷ lệ tăng
là 9,94%. Như vậy tổng nguồn vốn huy động của ngân hàng không ngừng tăng,
qua đó cho ta thấy chi nhánh đã thực hiện rất tốt công tác huy động vốn, sự tăng
trưởng của nguồn vốn đáp ứng được nhu cầu sử dụng vốn của chi nhánh.
Xét nguồn vốn huy động theo đối tượng gửi tiền thì tiền gửi dân cư chiếm tỷ
trọng lớn hơn nguồn tiền gửi từ các tổ chức kinh tế khác: Năm 2008 là 73,18%,
Đinh Thị Hằng 14
Luận văn tốt nghiệp
năm 2009 là 66,43%, năm 2010 là 60,9% và nguồn vốn huy động từ dân cư cũng
tăng qua các năm. Năm 2009 tăng 91.734 trđ so với năm 2008 tương ứng tỷ lệ
tăng là 29,97%, năm 20010 tăng vượt bậc so với năm 2009 với mức tăng 39.779 trđ
tương ứng tỷ lệ tăng 9,94%. Lượng tiền gửi của các tổ chức kinh tế cũng không ngừng
tăng cao qua các năm, cụ thể: năm 2009 tăng so với 2008 88.791 trđ tương ứng tỷ lệ tăng
79,17%, năm 2010 tăng 79.818 trđ so với năm 2009 với tỷ lệ tăng tương ứng 39,72%. Từ
đó, cho ta thấy sự tăng trưởng ổn định và không ngừng của nguồn vốn NH trong khi lãi
suất và các chính sách ưu đãi của các ngân hàng khác đưa ra không kém phần hấp dẫn
nhưng lượng khách hàng đến với NH vẫn không ngừng tăng lên. Chi nhánh SGCT Hà
Nội đã dần khẳng định được vị thế và lòng tin đối với khách hàng.
Xét về cơ cấu nguồn vốn theo thời gian ta thấy nguồn vốn trung – dài hạn
chiếm một tỷ trọng tương đối đáng kể trong tổng nguồn vốn huy động. Năm 2008
chiếm 52,39%; năm 2009 là 39,78%; năm 2010 chiếm 38,96% so với tổng nguồn
vốn huy động của NH. Nguồn vốn trung và dài hạn liên tục tăng qua các năm:
Năm 2009 tăng 19.022 trđ tương ứng với 8,68% so với năm 2008, đặc biệt năm
2010 tăng 41.606 trđ, tương ứng 17,47% so với năm 2009. Những con số này sẽ
đảm bảo việc sử dụng vốn ổn định và lâu dài hơn.
Xét theo cơ cấu loại tiền: tiền gửi bằng VNĐ chiếm tỷ trọng lớn hơn lượng tiền
gửi bằng ngoại tệ: năm 2008 là 79,96%, năm 2009 là 74,42%, năm 2010 là 72,65%.
Tiền gửi bằng nội tệ năm 2009 tăng so với năm 2008 là 111.146 trđ với tỷ lệ tăng
2. DNNQD
199.146 376.007 405.760 116.861 50,99 59.753 17,26
3. Cá nhân, hộ gia đình 52.261 78.643 73.354 26.382 50,48 -5.289 -6,73
II. Phân theo thời gian
1. Ngắn hạn
208.203 288.644 321.587 80.441 38,63 32.943 11,41
2. Trung – dài hạn
105.445 171.400 195.424 65.955 62,54 24.024 14,01
(Nguồn số liệu: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh tại NHTMCP
Sài Gòn công thương- chi nhánh Hà Nội)
Qua bảng số liệu trên ta thấy tổng dư nợ của chi nhánh đều biến động tăng
qua các năm. Năm 2009 so với 2008 tăng 146.396 trđ tỷ lệ tăng 46,67%. Năm
2010 tăng mạnh so với năm 2009 là 56.967 trđ, tương ứng tỷ lệ tăng 12,38%. Qua
đó, cho thấy công tác tín dụng tại chi nhánh ngày càng tốt hơn, sự phát triển mang
tính chất ổn định.
Phân loại theo đối tượng vay vốn cho thấy, dư nợ của các DNNN giảm nhẹ
vào năm 2009, giảm 2.917 trđ bằng 8,28% so với năm 2008 nhưng có chiều hướng
tăng vào năm 2010, tăng 5.573 trđ bằng 17,24%. Còn dư nợ đối với các DNNQD
đã tăng mạnh vào năm 2009, năm 2010 vẫn tiếp tục tăng. Cụ thể, năm 2009 tăng
116.861 trđ bằng 50,99% so với 2008 và năm 2010 tăng 59.723 trđ bằng 17,26%
so với năm 2009. Điều này chứng tỏ chi nhánh đã có những chính sách vay vốn
Đinh Thị Hằng 16
Luận văn tốt nghiệp
hợp lý bắt kịp với nhu cầu khôi phục và mở rộng sản xuất của các doanh nghiệp
sau khủng hoảng năm 2008. Riêng đối với cá nhân, hộ gia đình, dư nợ năm 2009
tăng mạnh so với năm 2008, tăng 26.382 trđ bằng 50,86% nhưng bất ngờ giảm
trong năm 2010. Năm 2010 dư nợ của các cá nhân và hộ gia đình giảm 5.289 trđ
bằng 6,73%. Cần đặt ra câu hỏi tại sao ở đây, phải chăng chính sách vay vốn đối
với cá nhân và hộ gia đình chưa thực sự thỏa đáng?
Những năm qua, hoạt động huy động vốn tương đối hiệu quả, từ đó, tạo điều kiện
a) Đối tượng và điều kiện cho vay
Đối tượng:
Khách hàng vay là cán bộ - công nhân viên đang công tác tại các đơn vị sản
xuất kinh doanh (Doanh nghiệp nhà nước, Công ty cổ phần), các đơn vị hành
chánh sự nghiệp, trường học, bệnh viện, cơ quan đoàn thể thuộc các địa bàn hoạt
động của SGCT.
Điều kiện cho vay:
- Có mục đích vay vốn ràng, nguồn trả nợ chắc chắn
- Có nguồn vốn tự có tối thiểu bằng 30% nhu cầu
- Có tài sản đảm bảo (bất động sản, giấy tờ có giá, tài sản hình thành từ tiền
vay) hoặc bên thứ 3 đứng ra bảo lãnh tài sản.
b) Các sản phẩm cho vay tiêu dùng
- Cho vay mua mới, sửa chữa nhà
Đối tượng khoản vay là chi phí mua nhà, mua nền nhà theo đất đã được quy
hoạch để xây dựng nhà mới, mua căn hộ, xây dựng, sửa chữa nâng cấp nhà. Khách
hàng là những cá nhân và điều kiện về nhân thân theo quy định; có phương án vay
vốn rõ ràng, có nguồn trả nợ chắc chắn; có 1 phần vốn tự có tham gia vào phương
án; có tài sản đảm bảo. Phương thức cho vay: cho vay theo từng lần hoặc cho vay
trả góp, áp dụng lãi suất cố định hoặc thả nổi theo thị trường. Mức cho vay: theo
nhu cầu thực tế, tối đa là 70% giá nhà hoặc dự toán sửa chữa nhà; hoặc tối đa 60%
giá trị tài sản đảm bảo.
- Cho vay mua ô tô
Mức sống của người dân ngày một nâng cao, rất nhiều người dân có những
nhu cầu sở hữu những sản phẩm sang trọng, đắt tiền và sản phẩm cho vay mua ô tô
của SGCT đã đáp ứng một phần không nhỏ những nhu cầu này. Cho vay mua ô tô
của SGCT có các điều kiện vay linh hoạt, hấp dẫn, đáp ứng những yêu cầu đa dạng
Đinh Thị Hằng 18
Luận văn tốt nghiệp
của người dân.
- Cho vay du học
sao CMND, hộ khẩu, giấy tự giới thiệu về bản thân, phương án sử dụng vốn vay và
các giấy tờ khác theo quy định.
Bước 2: Thẩm định hồ sơ
- Nhân viên tín dụng phải nghiên cứu kỹ hồ sơ vay vốn, tham khảo thông tin từ
nhiều nguồn khác nhau có thể đảm bảo được kết quả thẩm định có độ tin cậy cao.
- Thẩm định về tư cách lai lịch khách hàng: Lịch sử xuất thân, nghề nghiệp,
sức khỏe, quan hệ gia đình, tư cách bản thân và các thông tin khác.
- Thẩm định về mục đích sử dụng tiền vay: mục đích vay phải hợp pháp,
phương án sử dụng tiền vay phải có tính khả thi, có hiệu quả kinh tế hoặc hiệu quả
về mặt đời sống.
- Thẩm định về tài sản đảm bảo: Nhân viên tín dụng trực tiếp định giá tài sản
đảm bảo là các chứng từ có giá hoặc là các tài sản hình thành từ vốn vay. Một số
trường hợp sẽ do phòng thẩm định tài sản đảm bảo thẩm định.
Bước 3: Tổng hợp hồ sơ trình ban tín dụng phê duyệt
Sau khi tiến hành thẩm định đầy đủ theo các nội dùng hướng dẫn trong quy
trình này, nhân viên tín dụng tập hợp các tờ trình, báo cáo trình lên các cấp tín
dụng của ngân hàng. Hồ sơ trình ban tín dụng gồm tờ trình thẩm định khách hàng,
đánh giá tài sản đảm bảo, hồ sơ vay do khách hàng cung cấp. Ban tín dụng trong
thẩm quyền của mình sẽ quyết định cho vay hoặc từ chối cho vay. Nếu cho vay sẽ
quyết định mức vay, thời hạn, lãi suất và phương thức trả nợ.
Bước 4: Hoàn thiện hồ sơ và ký hợp đồng tín dụng
Nhân viên tín dụng phối hợp cùng phòng thẩm định tài sản đảm bảo bổ sung
các giấy tờ pháp lý như hợp đồng thế chấp, cầm cố, bảo lãnh; đăng ký giao dịch
đảm bảo; yêu cầu khách hàng mua bảo hiểm vật chất. Sau khi có đủ các giấy tờ cần
thiết, nhân viên tín dụng trình lãnh đạo có thẩm quyền phê duyệt.
Bước 5: Giải ngân
Sau khi hoàn tất hồ sơ và các điều kiện cần thiết theo quy định, nhân viên tín
Đinh Thị Hằng 20