chi tiết học phần địa lý kinh tế xã hội việt nam - Pdf 26

CHƯƠNG TRÌNH CHI TIẾT HỌC PHẦN
1. Tên học phần: ĐỊA LÍ KINH TẾ XÃ HỘI VIỆT NAM 1, 2, 3
2. Số tín chỉ: 6 (3 học phần, mỗi học phần 2 tín chỉ)
3. Trình độ: cho sinh viên năm thứ 2, 3
4. Phân bổ thời gian: Mỗi học phần có 25 tiết lên lớp, 5 tiết (thực hành, thảo luận,
kiểm tra).
5. Điều kiện tiên quyết:
Các học phần sinh viên phải học trước học phần này: Cơ sở địa lý kinh tế, ĐL tự
nhiên VN. Các học phần tiên quyết phải tích lũy trước khi học học phần này (phải
đạt

5,5 điểm mới được học học phần này):
6. Mục tiêu của học phần:
Cung cấp cho sinh viên những kiến thức cơ bản, cập nhật có hệ thống về: Các
nguồn lực phát triển kinh tế đất nước; Tổ chức lãnh thổ các ngành kinh tế Việt Nam
và vùng kinh tế ở Việt Nam. Trên cơ sở đó, sinh viên có thể vận dụng tốt trong việc
nghiên cứu và giảng dạy địa lý kinh tế.
7. Mô tả vắn tắt nội dung: Chương trình bao gồm 6 chương, chia làm 3 học phần.
- Học phần 1: Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên; Địa lý dân cư.
- Học phần 2: Tổ chức lãnh thổ nông-lâm-ngư; công nghiệp; các ngành dịch
vụ.
- Học phần 3: Tổ chức lãnh thổ các vùng kinh tế; Phát triển kinh tế, an ninh
quốc phòng ở Biển Đông và các đảo - quần đảo.
8. Nhiệm vụ của sinh viên:
Dự lớp đầy đủ các buổi học, không được vắng mặt quá 20% tổng số tiết cho mỗi
học phần. Nghiên cứu và thảo luận tại lớp các câu hỏi hoặc bài tập. Tham dự bài
kiểm tra học phần vào giữa học kỳ. Đọc tham khảo các tài liệu được giới thiệu.
9. Tài liệu học tập:
9.1. Tài liệu, giáo trình chính: Đề cương bài giảng do giảng viên biên soạn.
9.2. Tài liệu tham khảo:
1. Lê Thông (chủ biên), Nguyễn Văn Phú, Nguyễn Minh Tuệ, Địa lý kinh tế xã

KT-XH trong lịch sử đều tồn tại vùng kinh tế. Cụ thể:
- Thời kỳ trước Tư bản chủ nghĩa, nền kinh tế tự nhiên là chủ yếu, LLSX còn
kém phát triển, PCLĐXH theo lãnh thổ còn thô sơ, chưa có những tiền đề vật chất
cần thiết cho việc hình thành vùng kinh tế.
- Đến thời kỳ TBCN, sản xuất hàng hóa ngày càng phát triển mang tính chất
phổ biến. Thời kỳ công trường thủ công là thời kỳ bắt đầu phát triển mạnh nền sản
xuất hàng hóa, nhiều ngành mới xuất hiện, số lượng các ngành riêng biệt & độc lập
tăng lên, thị trường được mở rộng đã hình thành các vùng SX CMH' thúc đẩy mạnh
2
mẽ sự PCLĐ theo lãnh thổ. Công trường thủ công không chỉ tạo ra từng khu vực
rộng lớn mà còn CMH' những khu vực đó nữa (sự phân công theo hàng hóa). Như
vậy, đến thời kỳ công trường thủ công thì vùng kinh tế mới được hình thành Chủ
nghĩa tư bản càng phát triển càng thúc đẩy phân công lao động theo lãnh thổ phát
triển, mỗi vùng nhất định chuyên sản xuất một bộ phận của sản phẩm được hình
thành, và ta thấy "có mối quan hệ chặt chẽ giữa phân công (nói chung) và phân
công (khu vực); Tức là một khu vực nhất định chuyên chế tạo một sản phẩm, đôi
khi chuyên làm một loại sản phẩm, thậm chí làm một bộ phận nào đó của sản
phẩm". Chính PTSX Tư bản chủ nghĩa đã phá vỡ tính chất cô lập nền kinh tế tự
nhiên của chế độ phong kiến, làm cho các mối liên hệ kinh tế giữa các thị trường
dân tộc phát triển, thúc đẩy nhanh chóng thị trường thương mại quốc tế cùng với sự
bành trướng của thị trường thế giới. Như vậy, chủ nghĩa tư bản đã tạo ra những mối
liên hệ có ý nghĩa thế giới & tạo ra sự phân công lao động quốc tế rất nhiều vẻ, sự
phân công lao động quốc tế này cũng tác động mạnh đến sự phân công lao động
theo lãnh thổ ở trong từng khu vực và ở từng nước tư bản.
- Sang hình thái kinh tế xã hội chủ nghĩa, lực lượng sản xuất tiếp tục được
phát triển, phân công lao động (nói chung) & phân công lao động theo lãnh thổ
(nói riêng) càng trở nên sâu sắc. Vùng kinh tế được hình thành nhưng khác tư bản
chủ nghĩa ở chỗ là dựa trên cơ sở nhận thức tính qui luật khách quan của sự hình
thành & phát triển vùng kinh tế và trên cơ sở vận dụng một cách sáng tạo các qui
luật kinh tế vào hoàn cảnh cụ thể của đất nước mình (Tư bản chủ nghĩa, vùng kinh

vùng. Các nguồn tài nguyên rừng, hải sản & nông sản cũng ảnh hưởng quan trọng
đến sự hình thành & phát triển vùng kinh tế. Cụ thể, các vùng rừng có trữ lượng gỗ
lớn có khả năng hình thành & phát triển các ngành sản xuất CMH' gắn với tài
nguyên rừng. Các nguồn cá biển, cá nước ngọt, các đặc hải sản cho phép hình thành
các vùng CMH' về CB' - khai thác - nuôi trồng các loại thủy sản đặc biệt (tôm, cua,
bào ngư, trai ngọc,.v.v.).
- Đất đai. Vùng kinh tế là một bộ phận của lãnh thổ quốc gia; Khái niệm
vùng gắn liền với khái niệm phạm vi nhất định của diện tích đất đai; Đất đai là
TLSX cơ bản trong nông nghiệp, có vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp
& hình thành các vùng chuyên canh; Yếu tố tạo vùng quan trọng của đất đai là thổ
nhưỡng, vì vậy cần đánh giá ý nghĩa kinh tế của thổ nhưỡng để tạo ra các vùng
chuyên canh phù hợp; Tác dụng tạo vùng của thổ nhưỡng thể hiện ở chất đất, ở tính
chất liền dải đối với việc phát triển một loại cây trồng nào đó. Như vậy khi xem xét
yếu tố tạo vùng của đất đai, cần xem xét cả 2 mặt (thổ nhưỡng & diện tích), ngoài
ra còn xem xét thêm về địa hình, khả năng tưới tiêu
- Khí hậu. Để tạo vùng, thì khí hậu đóng vai trò quan trọng. Ảnh hưởng của
khí hậu đối với SXNN là việc bố trí các loại cây trồng - giống vật nuôi phù hợp.
Khí hậu - thổ nhưỡng là những yếu tố trội tác động mạnh mẽ đến việc hình thành
4
các vùng CMH' sản xuất nông nghiệp. Nước ta, do vị trí & hình dáng lãnh thổ kéo
dài theo nhiều vĩ độ, nằm trong vùng nhiệt đới - gió mùa, địa hình phân hóa đa
dạng. Vì vậy, ng/cứu về đất đai & khí hậu cần được đặc biệt chú ý trong quá trình
hình thành vùng kinh tế.
• Yếu tố kinh tế.
- Trung tâm công nghiệp (TTCN), thành phố lớn. Thông thường, các thành
phố lớn hay TTCN đều tạo ra quanh mình một vùng ảnh hưởng, trong đó mọi sinh
hoạt kinh tế đều do thành phố, TTCN chi phối. Vì vậy, khi nghiên cứu vùng kinh tế
phải xuất phát từ thành phố & TTCN lớn để xác định phạm vi ảnh hưởng không
gian của chúng; Tùy theo qui mô và loại hình thành phố & TTCN mà phạm vi ảnh
hưởng khác nhau, những thành phố & TTCN lớn thường là hạt nhân của vùng kinh

• Yếu tố lịch sử - văn hóa. Vùng mà chúng ta nghiên cứu là kết quả của một
quá trình phát triển lâu dài về lịch sử - văn hóa – xã hội. Vì vậy, khi nghiên cứu quá
trình hình thành vùng phải có quan điểm lịch sử đúng đắn. Những yếu tố tạo vùng
đều có mối quan hệ tác động qua lại với nhau trong một thể thống nhất, việc nghiên
cứu quá trình hình thành & phát triển vùng kinh tế cần phải phân tích tỉ mỉ, sâu sắc
từng yếu tố; mối quan hệ giữa chúng với nhau (cả trong trạng thái tĩnh và động).
3. Nội dung của vùng kinh tế.
Vùng kinh tế là một bộ phận kinh tế lãnh thổ đặc thù của nền KTQD có
CMH' sản xuất kết hợp chặt chẽ với phát triển tổng hợp. Như vậy, có thể hiểu vùng
kinh tế bào hàm 2 nội dung là CMH' & phát triển tổng hợp.
3.1. Chuyên môn hóa sản xuất của vùng kinh tế (CMH' SX).
Trước hết, vùng kinh tế phải là một vùng sản xuất CMH'. Sự CMH' nói lên
chức năng sản xuất cơ bản, quyết định phương hướng sản xuất chủ yếu của vùng
trong một giai đoạn nhất định. Mặt khác, CMH còn nói lên vai trò, vị trí của vùng
trong nền KTQD, xác định nhiệm vụ cơ bản mà vùng phải đảm nhận đối với cả
nước (hay với nhiều vùng) trong một thời gian tương đối dài.
- CMH' sản xuất của vùng kinh tế là dựa vào những ưu thế của vùng để phát
triển một số ngành có ý nghĩa đối với cả nước (hoặc đối với thị trường thế giới).
Những ưu thế của vùng là những điều kiện đặc thù về TN - KT - dân cư - lịch sử -
XH - VH - KH - KT & CN. Các vùng kinh tế khác nhau không chỉ về điều kiện tự
nhiên mà còn khác nhau về trình độ phát triển của LLSX, về mật độ dân số, về
nguồn lao động (đặc biệt là lao động có kĩ thuật), về cơ sở kinh tế, về CSVC - KT,
khoa học được tạo ra trong quá trình lịch sử. Sự CMH' sản xuất của vùng kinh tế
chính là sự lợi dụng những điều kiện đặc thù đó, nhằm tiết kiệm & tăng NS LĐXH,
nâng cao hiệu quả vốn đầu tư vào sản xuất - kinh doanh, tạo ra khối lượng hàng hóa
tốt - rẻ - có sức cạnh tranh, thỏa mãn nhu cầu của vùng, đáp ứng nhu cầu nhất định
6
của nền KTQD, tham gia tích cực vào hoạt động KT-XH giữa các vùng, góp phần
đẩy nhanh quá trình PCLĐXH theo lãnh thổ trên phạm vi cả nước.
Tiêu chuẩn quan trọng để xác định một ngành SX CMH' là khối lượng -

(đây cũng là tính ưu việt của nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường - định
hướng XHCN). Muốn phát triển tổng hợp nền kinh tế của vùng, cần xác định rõ số
lượng ngành kinh tế & cơ cấu kinh tế của vùng (số lượng ngành & cơ cấu kinh tế
thường rất khác nhau tùy thuộc vào sự CMH' & trình độ phát triển của LLSX). Bên
cạnh các ngành sản xuất CMH', cần phát triển hợp lý một tổng hợp thể các ngành
kinh tế khác; Mục đích là tạo ra sản phẩm thỏa mãn nhu cầu của vùng; phát triển
cân đối các ngành trong nội vùng nhằm hợp lý hóa các mối liên hệ (trong & ngoài)
vùng ở tất cả các khâu của quá trình sản xuất
Lưu ý, phát triển tổng hợp của vùng kinh tế không phải là sự phát triển của
một tập hợp đơn giản các ngành kinh tế khác nhau chỉ có liên hệ với nhau về mặt
cùng chung một lãnh thổ phân bố; mà là một sự kết hợp xã hội của sản xuất trong
phạm vi một vùng kinh tế. Giữa các ngành của tổng hợp thể kinh tế vùng có sự phụ
thuộc lẫn nhau theo một tỉ lệ nhất định, khiến chúng phát triển một cách cân đối,
nhịp nhàng theo một kế hoạch thống nhất. Tất nhiên, mối liên hệ đó không phải
hình thành ngay trong cùng một lúc, mà nó hình thành dần dần theo sự phát triển
của LLSX của vùng. Cho nên, việc xác định cơ cấu kinh tế của vùng theo nguyên
tắc tương lai là phải dự báo được những khả năng biến động để tìm ra các giải pháp
đảm bảo cho sự phát triển tổng hợp - hợp lý của vùng. CMH' sản xuất kết hợp chặt
chẽ với phát triển tổng hợp nền kinh tế của vùng tạo thành tổng hợp thể kinh tế của
vùng.
● Tổng hợp thể kinh tế vùng bao gồm 3 nhóm ngành chủ yếu sau:
+ Các ngành SX CMH’. Các ngành sản xuất CMH' của vùng là những
ngành đóng vai trò chủ yếu trong nền kinh tế vùng; quyết định phương hướng sản
xuất chủ yếu; quyết định vị trí của vùng trong sự PCLĐ theo lãnh thổ (giữa vùng &
cả nước); quyết định việc hình thành tổng hợp thể kinh tế của vùng & việc tổ chức
- quản lý kinh tế của vùng. Những ngành này hình thành & phát triển trên cơ sở các
điều kiện thuận lợi nhất của vùng & tạo ra sản phẩm hàng hóa có ý nghĩa quốc gia
& quốc tế; Sản phẩm hàng hóa phải có chất lượng cao, giá thành hạ, đủ sức cạnh
tranh; thỏa mãn nhu cầu cả nước hay của nhiều vùng khác, là ngành chiếm tỉ trọng
tương đối lớn trong cơ cấu kinh tế của vùng (hoặc cả nước).

của chúng còn có ý nghĩa đối với cả các vùng kinh tế tổng hợp khác.
Khi lực lượng sản xuất càng phát triển, thì PC LĐXH (cả PCLĐ theo ngành)
càng sâu sắc sẽ làm cho cơ cấu kinh tế của các vùng kinh tế tổng hợp càng phức
tạp. Khi đó, CMH' của các vùng kinh tế tổng hợp trở thành sự CMH' của các ngành
kinh tế trong vùng, số lượng các ngành CMH' sẽ tăng lên.
Vùng kinh tế tổng hợp bao gồm 2 loại:
9
+ Vùng kinh tế cơ bản. Là vùng có diện tích rộng; có nhiều ngành sản xuất
CMH' và sự phát triển tổng hợp của vùng phức tạp hơn so với vùng kinh tế hành
chính. Là vùng chỉ có ý nghĩa & chức năng kinh tế, giúp cho việc nghiên cứu & lập
các chương trình kế hoạch dài hạn về phát triển kinh tế có tầm cỡ quốc gia; giúp
cho việc phân bố hợp lý LLSX trong cả nước & giữa các vùng; xây dựng mối liên
hệ kinh tế giữa các vùng và cả nước, tạo điều kiện khai thác tốt mọi nguồn tài
nguyên, lao động, cơ sở vật chất kỹ thuật của đất nước; hình thành & điều tiết các
cân đối lãnh thổ lớn; định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo lãnh thổ.
+ Vùng kinh tế hành chính. Là vùng có cả chức năng kinh tế lẫn hành chính,
là sự thống nhất giữa quản lý kinh tế với quản lý hành chính, là vùng được xây
dựng theo nguyên tắc kinh tế (ranh giới kinh tế - hành chính thống nhất). Do ý
nghĩa & chức năng kinh tế, nên vùng kinh tế hành chính cũng có đầy đủ 2 chức
năng cơ bản của một vùng kinh tế tổng hợp (CMH' sản xuất & phát triển tổng hợp).
Bản thân vùng kinh tế hành chính cũng là một tổng hợp thể kinh tế lãnh thổ, nhưng
do ý nghĩa & chức năng hành chính của nó cho nên mỗi vùng kinh tế hành chính là
một đơn vị kinh tế trong phân cấp quản lý của Nhà nước, có ngân sách riêng, có thị
trường địa phương. Những cơ quan-chính quyền của vùng kinh tế hành chính thực
hiện cả 2 chức năng là quản lý hành chính & quản lý kinh tế.
B. NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN VÙNG KINH TẾ Ở VIỆT NAM
1. Quan niệm về vùng
Trên thực tế, có nhiều cách nhìn nhận khác nhau về vùng kinh tế với mục
đích & tiêu chí khác nhau. Song, dù qui mô của vùng có thể lớn-nhó khác nhau thì
đều có những điểm chung là trong một lãnh thổ đều có ranh giới nhất định (dù

nhất thống chí, ". Xét dưới góc độ địa lý hành chính, mỗi triều đại phân chia lãnh
thổ ra thành những đơn vị nhiều cấp khác nhau để thuận tiện cho việc quản lý &
bảo vệ an ninh. Ví dụ: Từ thời Hai Bà Trưng (nước ta chia ra các quận, huyện với
65 thành trì); dưới các triều Lý, Trần, Hồ (các bộ phận lãnh thổ mang tên là Lộ);
đời Lê (Lộ đổi thành Trấn. Cả nước có 5 Đạo (mỗi Đạo lại bao gồm nhiều Phủ,
Châu, Huyện), đến đời Nguyễn (Trấn đổi thành Tỉnh); thời kỳ Trịnh - Nguyễn phân
tranh (Đàng trong-Đàng ngoài).
- Thời kỳ Pháp thuộc, Pháp chia lãnh thổ nước ta (Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam
Kỳ).
- Sau 1954, các khu tự trị được thành lập như "Khu tự trị Việt Bắc (1956),
Khu tự trị Thái-Mèo (1955) và năm 1962 đổi thành Khu tự trị Tây Bắc
Như vậy, tùy từng thời kỳ, tùy theo mục đích chính trị - kinh tế - quân sự mà
các đơn vị hành chính được gộp lại thành những đơn vị hành chính dưới cấp quốc
11
gia. Việc hình thành các đơn vị hành chính này đó là do nhu cầu quản lý đất nước,
cần có nhiều cấp, trong đó nổi lên cấp quản lý trung gian giữa quốc gia và tỉnh -
tạm gọi là vùng.
b. Giai đoạn 1960 - 1975. Giai đoạn này, việc nghiên cứu & phân vùng diễn
ra chủ yếu ở M.Bắc (từ Vĩnh Linh) với đặc trưng chính về kinh tế N - L - N. Chia
thành 2 thời kỳ:
* Thời kỳ 1960 - 1970: Việc phân vùng, qui hoạch tập trung chủ yếu vào
những vấn đề nhỏ lẻ từng vùng cụ thể (chủ yếu là PVNN). UB KH Nhà nước phối
hợp với Bộ NN nghiên cứu và PVNN ở miền Bắc VN (chia 4 vùng NN lớn: Tây
Bắc, Đông Bắc, Đồng bằng sông Hồng & Khu IV cũ). Tổng cục Lâm nghiệp đã tổ
chức, điều tra và tiến tới phân vùng lâm nghiệp làm cơ sở cho phát triển ngành.
Năm 1968, UB XD cơ bản Nhà nước triển khai nghiên cứu qui hoạch các điểm
công nghiệp ở miền Bắc VN.
* Thời kỳ 1971 - 1975 (phương án 2 vùng kinh tế cơ bản).
- Một số vùng kinh tế mới được hình thành ở TDMN', Nhà nước tiến hành qui
hoạch các vùng chuyên canh cây công nghiệp. Ngành lâm nghiệp qui hoạch một số

sơn, chè, trẩu, thuốc lá, hoa quả cận nhiệt, ngô, sắn, trâu, bò, dê. (2) Đồng bằng
sông Hồng (6 tỉnh): lúa gạo, lạc, đậu tương, mía, cói, đay, rau, chăn nuôi lấy thịt.
(3) BTBộ (3 tỉnh): gỗ, lạc, hồ tiêu. (4) DHNTBộ (4 tỉnh): mía, bông, đào lộn hột,
quế, tiêu, lạc, lúa gạo, khoai, bò, lợn. (5) Tây Nguyên (3 tỉnh): cà phê, cao su, chè,
dâu tằm, ngô, trâu, bò. (6) ĐNBộ (4 tỉnh): cao su, cà phê, hồ tiêu, lạc, đậu tương,
mía, ngô. (7) Đồng bằng sông Cửu Long (9 tỉnh): lúa gạo, đậu tương, mía, cây ăn
quả, lợn, vịt, tôm, cá.
- Năm 1977, UBPV KT TW được thành lập. Vụ phân vùng qui hoạch của
UBKH Nhà nước được tách ra & đổi tên thành Viện phân vùng qui hoạch TW là cơ
quan thường trực của UB phân vùng kinh tế TW. Cả nước đã hình thành hệ thống
tổ chức ngành từ TW đến địa phương, toàn bộ quá trình phân vùng qui hoạch được
tiến hành dưới sự chỉ đạo của CP & UBND các cấp.
d. Giai đoạn 1981 - 1985 (phương án 4 vùng kinh tế cơ bản). Năm 1982,
được sự giúp đỡ của Liên Xô (cũ), lần đầu tiên chúng ta lập sơ đồ phân bố LLSX
giai đoạn 1986 - 2000, đây là quá trình nghiên cứu tương đối tổng hợp và toàn diện.
Với 40 tỉnh - TP - đặc khu, lãnh thổ nước ta được chia thành 4 vùng KT cơ bản với
7 tiểu vùng NN - CNCB’:
Vùng Bắc Bộ (16 tỉnh), chia 2 tiểu vùng là TDMN' (10 tỉnh) và ĐBSH (6
tỉnh), gồm: Hà Tuyên, Hoàng Liên Sơn, Lai Châu, Quảng Ninh, Sơn La, Lạng Sơn,
Vĩnh Phú, Cao Bằng, Bắc Thái, Hà Bắc, Hà Nam Ninh, Hà Nội, Hà Sơn Bình, Hải
Hưng, Hải Phòng, Thái Bình.
Vùng Bắc Trung Bộ (3 tỉnh) Thanh Hóa, Nghệ Tĩnh, Bình Trị Thiên.
13
Vùng Nam Trung Bộ (7 tỉnh), 2 tiểu vùng là DH khu V và Tây Nguyên
(Quảng Nam-Đà Nẵng, Phú Khánh, Nghĩa Bình, Thuận Hải, Lâm Đồng, Đắc Lắc,
Gia Lai-Kon Tum).
Vùng Nam Bộ (14 tỉnh), 2 tiểu vùng là Đ.Nam Bộ & Tây Nam Bộ (Đồng
Nai, TPHCM, Bà Rịa - Vũng Tàu, Sông Bé, Tây Ninh, An Giang, Bến Tre, Cửu
Long, Đồng Tháp, Hậu Giang, Kiên Giang, Long An, Tiền Giang, Minh Hải).
▪ Những căn cứ để phân chia hệ thống 4 vùng kinh tế cơ bản:

- Hệ thống 8 vùng KT lớn được gộp từ 61 tỉnh - TP của cả nước
Đông Bắc (11 tỉnh): Quảng Ninh, Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Giang, Phú Thọ,
Thái Nguyên, Bắc Kạn, Hà Giang, Tuyên Quang, Lào Cai, Yên Bái.
Tây Bắc (3 tỉnh) Lai Châu, Sơn La, Hòa Bình.
Đồng bằng sông Hồng (11 tỉnh, Tp) TP Hà Nội, Hải Phòng, Hưng Yên, Hải
Dương, Hà Tây (cũ), Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình, Hà Nam, Bắc Ninh, Vĩnh
Phúc.
Bắc Trung Bộ (6 tỉnh) Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng
Trị, T-T-Huế.
DH Nam Trung Bộ (6 tỉnh,Tp) Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình
Định, Phú Yên, Khánh Hòa.
Tây Nguyên (4 tỉnh) Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc, Lâm Đồng.
Đông Nam Bộ (8 tỉnh, Tp) là TPHCM, Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước,
Tây Ninh, đặc khu BR-Vũng Tàu, Ninh Thuận, Bình Thuận.
Đồng bằng sông Cửu Long (12 tỉnh) là Cần Thơ, Long An, Tiền Giang, Bến
Tre, Trà Vinh, Vĩnh Long, An Giang, Đồng Tháp, Kiên Giang, Cà Mau, Bạc Liêu,
Sóc Trăng.
- Ba vùng kinh tế trọng điểm là (KTTĐ):
Vùng KTTĐ Bắc Bộ (5 tỉnh-TP): TP Hà Nội, Hải Dương, Hưng Yên, Hải
Phòng, Quảng Ninh, 3 đô thị chính đồng thời là 3 cực phát triển (Hà Nội - Hải
Phòng - Quảng Ninh).
Vùng KTTĐMT (4 tỉnh-TP): T-T-Huế, TP Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng
Ngãi.
Vùng KTTĐP'N (4 tỉnh-TP): TPHCM, Đồng Nai, BR-Vũng Tàu, Bình
Dương. Ba cực tạo thành tam giác phát triển là TPHCM - Biên Hòa - Vũng Tàu.
● Từ 2001 đến nay.
15
- Hệ thống 6 vùng & trọng điểm KT được gộp từ 64 tỉnh - TP của cả nước
TD - MN'PB' (15 tỉnh): Đông Bắc (11 tỉnh: Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Giang,
Phú Thọ, Thái Nguyên, Bắc Kạn, Hà Giang, Tuyên Quang, Lào Cai, Yên Bái, và

MN' (chia ra thành 2 dải TD và dải MN').
- Năm 1998, Chính phủ đã phê duyệt chương trình phát triển KT-XH các xã
đặc biệt khó khăn ở MN' vùng sâu, vùng xa (QĐ số 135/1998/QĐ-TTg ngày
31/07/1998). Loại vùng khó khăn gồm 2356 xã (2002) của 49 tỉnh là một loại vùng
không liền khoảnh và là sự tập hợp của các xã, một cấp trong hệ thống 4 cấp hành
chính của VN.
▪ Dựa theo cách phân chia trên, có thể rút ra một số nhận định: Mỗi hệ
thống vùng được phân chia đều dựa trên một hệ thống chỉ tiêu phục vụ cho một số
mục đích trong một giai đoạn nhất định. Mục đích của phân vùng là hình thành hệ
thống vùng để làm căn cứ cho các kế hoạch phát triển lãnh thổ, phục vụ cho việc
xây dựng cơ chế - chính sách, đảm bảo sự phát triển bền vững và hiệu quả trong cả
nước. Căn cứ chủ yếu để phân vùng là các lãnh thổ có sự đồng nhất ở mức độ nhất
định về tự nhiên, dân cư & xã hội; cùng chịu sự chi phối của cơ chế thị trường,
cùng đảm nhận một nhiệm vụ nào đó đối với nền kinh tế trong tương lai.
C. CÁC VÙNG KINH TẾ.
1. Trung du - miền núi phía Bắc (TDMN'PB')
17
1.1. Vị trí địa lý (VTĐL) .
Phạm vi lãnh thổ bao gồm 15 tỉnh. Trong đó Đông Bắc (11) và Tây Bắc (4).
Diện tích 101.579.000 km
2
(30,66% diện tích cả nước), Đ.Bắc: 64.025.200 km
2
,
Tây Bắc: 37.553.800 km
2
. Dân số (2005): 11.925.000 người (Đ.Bắc 9.458.500
người và Tây Bắc 2.606.900 người). Mật độ dân số (Đ.Bắc 148 người/km
2
, Tây

cả
nước
Vùng phân bố
Than
antraxit
Tỉ tấn 3,5 90
Quảng Ninh
Than mỡ Triệu tấn 7,1 56 Phấn Mễ,Làng Cẩm (Thái Nguyên)
18
Than nâu Triệu tấn 100,0 - Na Dương (Lạng Sơn)
Sắt Triệu tấn 136,0 16,9
Làng Lếch, Quang Xá (Yên Bái) Tùng
Bá (Hà Giang)
Mangan Triệu tấn 1,4 - Tốc Tát (Cao Bằng)
Titan Ngàn tấn 390,9 64
Nằm trong quặng sắt núi Chúa
(Th.Nguyên)
Thiếc Triệu tấn 10,0
Tĩnh Túc (C.Bằng), Sơn Dương
(T.Quang)
Apatit Tỉ tấn 2,1 Lào Cai
Bảng 6.2. Một số tài nguyên khoáng sản có qui mô nhỏ của Đông Bắc.
Khoáng
sản
Vùng phân bố Sử dụng
Amiăng Khuổi Hân (Cao Bằng) Cách nhiệt, cách điện
Angtimon Quảng Ninh, Hà Giang
Sơn. Men tráng, thủy
tinh
Cát Đảo Quan Lạn (Quảng Ninh) Thủy tinh

chuyên
dùng
Đất

Đất chưa
sử dụng
CẢ NƯỚC 33121,2 28,4 43,6 4,2 1,8 22,0
Đông Bắc 6402,4 15,3 55,5 3,2 1,2 24,8
Lào Cai 638,4 12,1 44,8 2,0 0,5 40,6
Lạng Sơn 833,1 13,5 46,2 1,8 0,7 37,8
Quảng Ninh 609,9 9,0 49,5 5,1 1,5 34,9
Hà Giang 794,6 18,6 47,3 1,1 0,8 32,2
Yên Bái 689,9 11,5 64,8 1,5 0,6 21,6
Bắc Kạn 486,8 7,7 68,4 2,2 0,5 21,2
Th Nguyên 354,7 26,4 46,6 5,4 2,6 19,0
Phú Thọ 352,8 27.9 46,9 5,9 2,5 16,8
Bắc Giang 382,7 32,5 34,2 13,1 5,5 14,7
T. Quang 587,0 11,9 76,1 2,2 0,9 8,9
Cao Bằng 672,5 12,4 76,5 1,6 0,7 8,8
Tây Bắc 3753,4 13,3 47,3 1,1 0,9 37,4
Lai Châu 911,2 8,5 39,6 0,5 0,3 51,1
Sơn La 1417,5 17,5 40,8 1,0 0,5 40,2
Hòa Bình 468,4 11,9 51,9 3,5 4,4 28,3
Điện Biên 956,3 12,4 61,9 0,7 0,3 24,7
▪ Tài nguyên rừng của vùng còn rất ít (do khai thác quá mức trước đây), chủ
yếu là rừng thứ sinh, xa van, cây bụi. Vùng đang khôi phục lại vốn rừng để phục vụ
cho KCN Quảng Ninh, cho nguyên liệu giấy, cho môi sinh, trong rừng còn có
nhiều dược liệu như quế (Quảng Ninh), hồi (Lạng Sơn, Cao Bằng), sa nhân, tam
thất (Lào Cai, Hà Giang), cây ăn quả á nhiệt đới (Cao Bằng, Lạng Sơn, Lào Cai).
Đông Bắc cũng có nhiều đồng cỏ liền dải trong các thung lũng, trên các đồi thấp, là

▪ Nguồn nước nóng khá phong phú, phân bố theo các đứt gãy kiến tạo, đây là
nguồn nhiệt lớn sử dụng để chữa bệnh (Lai Châu, Sơn La có 16 điểm, Hòa Bình có
Kim Bôi).
▪ Than ~ 10 triệu tấn (Điện Biên); Ni ken đã phát hiện ở Bản Phúc, Bản Sang
và Tạ Khoa; Đồng (Vạn Chài - Suối Chát) 980 tấn; Vàng sa khoáng dọc sông Đà.
Đất hiếm là nguyên liệu khoáng duy nhất có ở Tây Bắc có giá trị trong nhiều ngành
CN hiện đại, đã phát hiện các mỏ như mỏ Đông Pao (Phong Thổ - Lai Châu) trữ
lượng 5,5 triệu tấn (cùng với đất hiếm còn có friorit 6,1 triệu tấn, barit 12,7 triệu
tấn); mỏ Năm Xe (Lai Châu) thuộc đất hiếm nhóm nặng 874.660 tấn. Ngoài ra,
còn có Tan & Asbét (khoáng sản phi kim loại), Tan dùng trong công nghệ gốm, sứ,
sản xuất giấy, sơn, cao su có ở Sơn La, Hòa Bình 1.780 tấn. Asbét (100.000 tấn)
dùng trong CN SX vật liệu cách điện, nhiệt, cách âm, chống cháy, chịu được axit
và kiềm (găng tay, quần áo chống cháy, má phanh ô tô ).
▪ Đất chủ yếu là đất feralít đỏ - vàng phong hóa từ đá vôi và sa diệp thạch, có
một ít đất bồi tụ trong các thung lũng và ven sông. Trong cơ cấu sử dụng: đất NN
(13,3%), đất lâm nghiệp (47,3%), đất CD-TC (2,01%), đất chưa sử dụng (37,4%
21
tương đương với 1,4 triệu ha). Như vậy, đây là vùng đất hoang hóa còn rất lớn, về
chất lượng, các loại đất đều khá tốt, song do địa hình dốc cho nên các loại đất đỏ -
vàng ở các sườn núi có xu hướng thoái hóa nhanh (do việc trồng cây hàng năm, du
canh, du cư, khai thác rừng bừa bãi). Hoạt động nông nghiệp của Tây Bắc tập
trung chủ yếu ở một số cao nguyên đất đỏ đá vôi (Mộc Châu, Nà Sản, Tà Phình):
trồng ngô, cây CN hàng năm (bông, đậu tương), cây ăn quả (mận, đào). Các sườn
đồi diệp thạch trồng chè, sơn, trẩu, sở Đất thung lũng được xây dựng theo hệ
thống bậc thang để trồng lúa (Mường Thanh, Quang Huy, Bình Lư, ). Trên các
cao nguyên và thung lũng còn là địa bàn phát triển chăn nuôi trâu, bò qui mô lớn.
▪ Khí hậu. Yếu tố địa hình làm cho khí hậu của Tây Bắc có những nét khác
với Đông Bắc (mặc dù cùng vĩ tuyến); Gió Đông Bắc lạnh đến muộn hơn; lạnh do
2 yếu tố (lạnh theo vĩ tuyến & độ cao) nên nhiệt độ về mùa đông thường thấp hơn ở
Đông Bắc. Những ngày mà nhiệt độ xuống thấp thì ở những vùng núi cao thường

2
), Thái Nguyên
(318 ng/km
2
), Phú Thọ (379 ng/km
2
), Quảng Ninh (179 ng/km
2
) - gắn với các
TTCN lớn; Trong khi đó ở Bắc Kạn (62 ng/km
2
), Cao Bằng (77 ng/km
2
), Hà Giang
(86 ng/km
2
).
Trình độ học vấn của dân cư và nguồn nhân lực nhìn chung khá cao. Tổng số
nguồn nhân lực đã tốt nghiệp

PTCS là 53,7% (Đồng bằng sông Hồng 68,9%, cả
nước 45%); Số người đã tốt nghiệp PTTH

14,5%, nguồn nhân lực tập trung trong
nhóm tuổi 15 - 29, đây là lợi thế trong việc phát triển CN - tiếp thu kỹ thuật mới.
Tuy nhiên, vùng còn khoảng 7,43% số người không biết chữ (chủ yếu là đồng bào
dân tộc ít người). Đội ngũ LĐ có trình độ từ sơ cấp trở lên 16,22%, thấp hơn mức
TB cả nước & vùng KTTĐ Bắc Bộ (23,6%). Trong số đó, có ~ 8,0 vạn người có
trình độ từ CĐ, ĐH trở lên, trong số này 50% làm việc trong ngành GD, YT, quản
lý nhà nước. Về LĐ, vùng trung du nhìn chung đủ để phát triển kinh tế, ở khu vực

độ từ sơ cấp trở
lên
Tỉ lệ LĐ có trình độ
từ công nhân KT trở
lên
Đông Bắc 7,43 16,22 12,20
Quảng Ninh 1,55 25,50 19,02
Tuyên Quang 12,40 19,05 17,38
23
Thái Nguyên 3,81 19,69 14,16
Lào Cai 15,30 16,07 13,53
Lạng Sơn 3,78 15,37 12,62
Phú Thọ 2,12 16,52 12,00
Cao Bằng 20,45 14.02 11,80
Bắc Giang 3,27 14,77 8,66
Yên Bái 12,77 10,16 8.44
Bắc Kạn 9,33 9,71 8,09
Hà Giang 19,47 6,89 5,51
Tây Bắc 18,09 10,93 8,79
LaiChâu,ĐiệnBiên 22,78 12,60 10,83
Hòa Bình 5,50 10,92 8,26
Sơn La 26,33 9,84 7.92
Về nguồn lao động: số người trong độ tuổi lao động 96,8 vạn người, đang
làm việc trong các ngành KTQD 87,8 vạn (90,7%), chưa có việc làm (9,3%). Lao
động trong nông nghiệp 76,6%; công nghiệp (cả TTCN & dịch vụ) 23,4%. Số
người (trên & dưới) độ tuổi lao động có khả năng tham gia lao động khoảng 16,3
vạn người (chiếm 18,8% LLLĐ). Trình độ học vấn của dân cư & nguồn nhân lực
thuộc loại thấp nhất cả nước. Tỉ lệ chưa biết chữ trong độ tuổi lao động 18,09% (cả
nước 3,4%); lao động có trình độ sơ cấp trở lên 10,09% (cả nước 19,7%); Cán bộ
có trình độ CĐ, ĐH trở lên chỉ chiếm 1,72%.

nhiều vấn đề đáng lo ngại, nhất là tài nguyên rừng đã bị khai thác quá mức. Độ che
phủ của rừng còn rất ít, đã ảnh hưởng đến việc giữ đất, giữ nước và gây ra nhiều
hậu quả nghiêm trọng cho đời sống & sản xuất của nhân dân (lũ lụt ở Sơn La).
Tây Bắc là vùng có tiềm năng thủy điện lớn nhất cả nước, đã khai thác thủy
điện Hòa Bình (1.920MW), đang XD thủy điện Sơn La (2.400MW). Các nguồn tài
nguyên khác khai thác nhỏ, có ý nghĩa địa phương như CNCB' đường mía (Điện
Biên), chè (Mộc Châu), Tam Đường (L.Cai), Cửu Long (H.Bình), khai thác than
(Điện Biên, S.La), CB' sữa (Mộc Châu).
GDP năm 2002 mới chỉ đạt 10.784 tỉ đồng (2% GDP cả nước); tăng trưởng
kinh tế chỉ bằng 74,4% mức TB cả nước. GDP/người (tính cả khu vực SX điện Hòa
Bình) 3,2 triệu đồng/năm (bằng 47% mức TB cả nước). Nếu tách thủy điện Hòa
Bình ra, thì GDP/người chỉ đạt 74.000 đồng/người/tháng. Đến năm 2004:
GDP/người/tháng đã tăng lên 265.700 đồng (cũng chỉ bằng 54,85% mức TB của cả
nước). Cơ cấu kinh tế tuy có bước chuyển biến, song chủ yếu vẫn là nông - lâm
(56%), CN-XD (14%), dịch vụ (30%).
1.4.2. Các ngành kinh tế chủ yếu.
a. Công nghiệp (CN):
● Đông Bắc. Giá trị gia tăng của công nghiệp chiếm 5,8% so với cả nước.
Những ngành chiếm tỉ trọng lớn trong cơ cấu công nghiệp của vùng là Nhiên liệu
(26,7%); sản xuất VLXD (13,8%); thực phẩm (10,3%); hóa chất (8,5%); luyện kim
25

Trích đoạn Định hướng phát triển. Vị trí địa lý và tài nguyên thiên nhiên (VTĐL – TNTN). Bộ khung lãnh thổ của vùng 1 Hệ thống đô thị. Định hướng phát triển 1 Định hướng chung. Tài nguyên thiên nhiên.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status