1
LỜI CẢM ƠN
Trước hết em xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới thầy giáo ThS. Lục Minh Diệp
đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em vượt qua mọi khó khăn trong quá trình thực
hiện đề tài.
Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo TS. Nguyễn Hữu Dũng cùng với các thầy
cô trong ban điều hành Trung tâm nghiên cứu sản xuất giống và dịch bệnh Thuỷ
sản-Trường Đại học Nha Trang, đã tạo mọi điều kiện thuận lợi về cơ sở vật chất và
tinh thần để em hoàn thành tốt luận văn tốt nghiệp đúng thời gian quy định.
Qua đây em xin bày tỏ lời cảm ơn tới chị Phạm Thị Hạnh, anh Phan Văn Út đã
có những ý kiến đóng góp quý báu giúp em hoàn thành tốt nội dung nghiên cứu. Em
cũng xin cảm ơn các anh em kỹ sư, công nhân ở trung tâm đã giúp đỡ em trong thời
gian thực tập.
Cũng xin gửi lời cảm ơn tới bạn Lê Vũ Ni Na, bạn Đồng Xuân Quang cùng với
các bạn trong và ngoài lớp đã nhiệt tình giúp đỡ mình thu thập và xử lý số liệu trong
thời gian thực hiện đề tài.
Xin chân thành cảm ơn!
2. Sự phát triển phôi và ấu trùng cá chẽm 7
2.1 Sự phát triển phôi 7
2.2.Sự phát triển hình thái của cá chẽm con 8
2.3.Sự phát triển đường tiêu hoá ấu trùng cá chẽm 9
3.Khả năng chuyển đổi thức ăn sớm trong ương nuôi ấu trùng cá chẽm 11
4. Những nghiên cứu về cá chẽm ở Việt Nam 12
Phần II: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 14
1.Thời gian, địa đểm và đối tượng nghiên cứu 14
2. Phương pháp nghiên cứu 14
2.1.Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 14
2.2.Phương pháp theo dõi sự phát triển đường tiêu hoá ấu trùng cá chẽm 14
2.2.1. Phương pháp theo dõi và xác định kích thước noãn hoàng giọt dầu 14
2.2.2. Phương pháp theo dõi thời gian mở miệng và sự biến đổi kích thước miệng 14
2.2.3. Phương pháp theo dõi sự hình thành và phát triển của đường ruột 16
2.2.4. Phương pháp theo dõi sự hình thành và phát triển của dạ dày 16
2.3. Thí nghiệm xác định khả năng chuyển đổi thức ăn sớm trong ưong nuôi ấu
trùng cá chẽm 16
2.3.1 Điều kiện thí nghiệm 16
2.3.2. Bố trí thí nghiệm 17
2.3.3. Chăm sóc và quản lý 17 3
3. Phương pháp xác định các chỉ tiêu 19
3.1. Phương pháp xác định các yếu tố môi trường 19
3.2. Phương pháp xác định các chỉ tiêu tăng trưởng và tỷ lệ sống 20
4. Phương pháp xử lý số liệu 20
Phần III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 22
1. Sự phát triển đường tiêu hoá của ấu trùng cá chẽm 22
4
DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ HÌNH
Trang
Danh mục các bảng
Bảng 1:Phát triển phôi của cá chẽm (Kungvankij, 1981) 8
Bảng 2: Thời gian cho ăn trong quá trình thí nghiệm 18
Bảng 3: Kích thước noãn hoàng, giọt dầu sau 132 giờ 23
Bảng 4: Kích thước miệng qua từng ngày tuổi (2 – 20 ngày tuổi) 27
Bảng 5: Tỷ lệ hình thành dạ dày của ấu trùng cá chẽm 33
Bảng 6: Yếu tố môi trường trong quá trình thí nghiệm 35
Bảng 7: Kết quả tăng trưởng chiều dài cá của hai lô thí nghiệm 36
Bảng 8: Tỷ lệ sống ấu trùng cá chẽm ở hai lô thí nghiệm 38
Danh mục các hình
Hình 1: Sơ đồ khối nội dung đề tài 15
Hình 2: Hình ảnh và sơ đồ bố trí thí nghiệm chuyển đổi thức ăn sớm 17
Hình 3:
Đồ thị biểu diễn biến động kích thước noãn hoàng, giọt dầu 23
Hình 4:
Đồ thị biểu diễn thời gian và tỷ lệ hình thành đường ruột 25
Hình 5: Đồ thị biểu diển thời gian và tỷ lệ cá mở miệng 26
Giờ
Đề tài gồm có những nội dung sau:
Theo dõi sự phát triển đường tiêu hoá của ấu trùng cá chẽm
Xác định khả năng chuyển đổi thức ăn sớm của ấu trùng cá chẽm
Mục tiêu của đề tài nhằm xác định:
- Thời gian cá hấp thụ hết noãn hoàng, giọt dầu, thời gian cá mở miệng và sự
phát triển kích thước miệng, thời gian hình thành và tỷ lệ cá hình thành ruột, dạ dày.
Từ đó tạo cơ sở để lựa chọn thức ăn, kích cỡ thức ăn thích hợp và lượng cho ăn phù
hợp với từng giai đoạn phát triển của ấu trùng cá chẽm, góp phần nâng cao tỷ lệ
sống trong quá trình ương nuôi. 7
- Khả năng chuyển đổi thức ăn sống bằng thức ăn tổng hợp ở giai đoạn sớm để
có thể ứng dụng vào thực tế sản xuất, làm đơn giản hóa trong quá trình chăm sóc
quản lý bể ương. Đồng thời góp phần giảm thiểu chi phí và nâng cao hiệu quả kinh
tế trong ương nuôi ấu trùng cá chẽm.
Tuy bản thân đã hết sức cố gắng, nhưng do tính mới của nội dung nghiên cứu và
những hạn chế về thời gian và trang thiết bị. Đặc biệt do lần đầu làm quen với
phương pháp nghiên cứu khoa học nên không thể tránh khỏi những thiếu sót. Rất
mong nhận được ý kiến đóng góp của quý thầy cô và bạn đọc để đề tài của tôi được
hoàn thiện hơn. Nha Trang, tháng 11 năm 2007
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Văn Mạnh
Ngành phụ : Vetebrata
Lớp : Osteichthyes
Bộ : Perciformes
Họ : Centropomidae
Giống : Lates
Loài : Lates calcarifer Bloch, 1790
Theo Mai Đình Yên (1979) và Nguyễn Nhật Thi (1991) thì ở Việt Nam chỉ có
một loài cá chẽm duy nhất và loài cá này được xếp vào họ cá mú (serranidae), tên
thường gọi là cá chẽm hoặc cá vược
[4].
1.1.2 Hình thái và đặc điểm nhận dạng.
Cá chẽm có thân hình ô van hơi dài, hẹp, cuối đuôi khuyết sâu. Đầu nhọn, nhìn
bên lõm phía lưng, lưng gù nhô cao, miệng rộng hơi so le, răng dạng lông nhung
không có răng nanh. Tỷ lệ deep 3 - 3,1 chiều dài đầu nhỏ hơn chiều dài toàn thân từ
2,7- 2,8 lần. Vây lưng có 7-9 tia vây cứng và 10-11 tia vây mềm, vây ngực ngắn và
tròn với công thức vây: 3 tia vây cứng và 7- 8 tia vây mềm. Vảy dạng lược. Xét về
màu sắc, ở giai đoạn đầu cá có màu nâu ô liu với màu sáng bạc ở hai bên và ở bụng
khi cá sống trong môi trường nước biển và màu nâu vàng khi sống trong môi trường
nước ngọt. Ở giai đoạn trưởng thành cá có màu xanh lục hay vàng nhạt ở phần trên
lưng và có màu bạc ở phần dưới bụng [3],
[
4].
9
1.1.3 Phân bố.
Theo Green Wood (1970) và Moor (1980) thì cá chẽm (Lates calcarifer) là loài
của cá thể, cá chẽm thành thục sinh dục tập trung ở vùng cửa sông ven biển, đẻ
trứng ở đây, cá con sau khi nở thì chúng được thuỷ triều đưa vào các thuỷ vực nước
lợ sinh sống, khi cá con trưởng thành thì chúng bơi ngược dòng lên các dòng sông
để sinh sống. Khi cá đạt tuổi thành thục, chúng di cư xuôi dòng về vùng cửa sông
ven biển tham gia sinh sản
[3].
1.2. Đặc điểm dinh dưỡng
Tính ăn và phổ thức ăn của cá chẽm đã được nhiều tác giả đi sâu nghiên cứu.
Theo Chocko (1956) cá chẽm là loại cá dữ, ăn mồi sống và thậm chí chúng ăn thịt
cả đồng loại, đây cũng là kết luận của Davis (1986)
[3]
. Tính ăn của cá chẽm là săn
mồi, cá con (10-100 mm) có thể sử dụng thức ăn bất kì lúc nào nhưng mạnh nhất là
vào xế chiều (Barlow và ctv, 1993) [6].
Cũng theo Chocko (1936), cá chẽm ăn mồi sống chủ yếu là cá như: cá đối, cá
măng, giáp xác (tôm, cua, ruốc), nhuyễn thể hai vỏ và thực vật mềm bám trên đá 10
[3]. Tính ăn của cá chẽm thay đổi tuỳ theo từng giai đoạn phát triển của cơ thể. Ở
kích thước 11-20 mm về chiều dài thân, cá bắt đầu ăn các loại cá nhỏ với khối
lượng bằng 0,8% khẩu phần thức ăn, tuy nhiên khi kích thước 100 mm chiều dài
thân thì tỷ lệ cá nhỏ trong khẩu phần thức ăn sẽ tăng dần đến 87% (Davis,1980).
Theo Bahatia và Kungvankij (1971) thì trong khẩu phần ăn của cá kich thước cỡ
10–100 mm có 20% sinh vật phù du và 80% cá, tôm, cua nhỏ. Khi đạt kích cỡ 200
mm thức ăn chủ yều là mồi động vật, trong đó giáp xác ( tôm, cua nhỏ) chiếm 70%,
còn lại 30% là các loại cá nhỏ. Trong khi đó theo nghiên cứu của Borlow và ctv
(1993) thì cá có kích thước trung bình từ 19-49 mm, khẩu phần ăn có khoảng 96,0-
97,7% là giáp xác cỡ nhỏ, phần còn lại là động vật không xương sống và các loại
ở giai đoạn đầu như sau: Cá mới nở có chiều dài 1,5 mm sau 1-15 ngày tuổi đạt từ 11
1,5-5 mm. Cá 15-20 ngày tuổi đạt 5-8 mm, 20-25 ngày tuổi đạt 8-10 mm; 25-30
ngày tuổi đạt 10-13 mm và 30-40 ngày tuổi đạt 13–30 mm chiều dài thân. Cá chẽm
ở giai đoạn cá hương thả nuôi sau 5 tháng nuôi đạt 700–800 g/con; sau 12 tháng
nuôi đạt 1000 g/con và sau 20 tháng nuôi đạt 2000-3000 g/con.
Còn theo nghiên cứu của Moore (1979) thì cá chẽm ở độ tuổi 2
+
đạt 42 cm chiều
dài thân và 5
+
đạt 73 cm. Theo Davis (1982) nghiên cứu và cho biết cá chẽm tuổi từ
3
+
-4
+
có chiều dài thân từ 60–70 cm và đạt khối lượng thân từ 2,6-4,2 kg; 6
+
-8
+
đạt
từ 85-100 cm và 7-12 kg khối lượng thân. Tuy nhiên tốc độ tăng trưởng của cá
chẽm còn phụ thuộc vào thức ăn và điều kiện môi trường sống của chúng [3].
1.4 Đặc điểm sinh học sinh sản
Kích cỡ và tuổi cá sinh dục lần đầu
Theo nghiên cứu của Russell và Garrett (1982) kết luận, cá chẽm ở Queenland
phát dục lần đầu tiên ở) trên cá chẽm đực ở India. tuổi 3
6
trứng [4].
Sự chuyển đổi giới tính của cá chẽm
Theo các kết quả nghiên cứu của các tác giả (Moore, 1979; Davis, 1982; Russell
và Garrelt, 1983; Griffin, 1985) thì cá chẽm là loài cá đặc biệt, chúng có sự chuyển 12
đổi giới tính, trong đó yếu tố đực chín trước. Tuy nhiên không phải tất cả cá cái đều
là do cá đực chuyển đổi giới tính mà thành. Trong quần đàn vẫn có một phần rất
nhỏ cá cái phát triển trực tiếp từ cá cái chưa thành thục, những cá cái này được
Moor (1979) gọi là cá cái “đơn tính”, còn Davis (1984) thì gọi là cá cái “nguyên
thuỷ”. Con đực thành thục tham gia sinh sản một vài lần, cho đến khi đạt tới một
kích thước hay độ tuổi nào đó mới chuyển đổi giới tính thành con cái. Nhưng không
phải con đực nào cũng buộc phải chuyển đổi giới tính, có những con đực vẫn giữ
nguyên tính đực trong suốt vòng đời của nó (Grarrelt và Russell, 1982). Cũng theo
Davis (1984) thì kích cỡ chuyển đổi giới tính của cá đực ở các vùng khác nhau thì
khác nhau: cá đực ở vịnh Carpentaria chuyển thành con cái ở tuổi 4
+
-5
+
, dài khoảng
30-50 cm; ở Australia cá đực chuyển đổi giới tính ở tuổi 6
+
-8
+
, với khối luợng cơ
thể 7-12 kg và có chiều dài thân từ 85-100 cm.
13
Theo nghiên cứu của Kungvankij ở nhiệt độ 28-30
o
C, độ muối 20-38 ‰ thì quá
trình phát triển phôi được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 1: Phát triển phôi của cá chẽm (Kungvankij, 1981)
Thời gian sau khi đẻ
Giai đoạn phôi
Giờ Phút
thụ tinh
2 tb
4 tb
8 tb
16 b
32 tb
64 tb
128 tb
Phôi nang
Phôi vỏ
Phôi thần kinh
Phôi mầm
Phôi hoạt động
trứng nở
0
0
0
1
hoàng đuơc hấp thụ theo hàm số mũ, trong khoảng 16h sau khi nở thì đã có 87,6%
noãn hoàng được hấp thụ. Giọt dầu biến đổi khi noãn hoàng được hấp thụ hết, giọt
dầu chuyển hoá hoàn toàn trong khoảng thời gian 120-145h sau khi nở
[9].
Theo mô tả Kosutarak và Watanabe (1984) ở Thái Lan, cá bột mới nở có chiều
dài toàn thân 1,6±0,4 mm, nhưng theo nghiên cứu của Kungvankij và ctv (1986), cá
chẽm bột mới nở có chiều dài từ 1,21–1,65 mm ( trung bình 1,49 mm), cá bột có
noãn hoàng dài trung bình 0,86 mm. Trong túi noãn hoàng có một hạt dầu đường
kính 0,2-0,28 mm ở phần trước, điều này làm cho cá bột lơ lửng trong nước theo 14
chiều thẳng đứng hay nghiêng một góc 45
0
so với mặt phẳng ngang. Lúc này sắc tố
chưa hình thành ở nhiều cơ quan, mới có thể nhìn thấy sắc tố ở mắt, trên thân và bề
mặt hạt dầu. Ống tiêu hoá đã nhìn thấy rõ nhưng miệng vẫn chưa mở. Cá 2 ngày
tuổi có chiều dài 2,52±0,06 mm, noãn hoàng gần như được hấp thụ hết, miệng đã
mở, cá có thể bắt đầu sử dụng thức ăn ngoài. Cá bột lúc này có tập tính hướng
quang. Cá 7 ngày tuổi có chiều dài 3,44±0,09 mm, tia vây lưng và tia vây hậu môn
bắt đầu xuất hiện, có răng cưa ở xương nắp mang trước. Sắc tố đen đã xuất hiện từ
đầu đến đuôi làm cho cá có màu đen. Cá 14 ngày tuổi có chiều dài 4,75±0,32 mm,
vây lưng và vây hậu môn đã tách ra khỏi vây đuôi, vây bụng bắt đầu xuất hiện. Tia
vây đuôi đã phát triển. Một dải băng trắng từ giữa vây lưng đến vây hậu môn có thể
nhìn thấy bằng mắt thường. Khi cá đạt từ 18–20 ngày tuổi, cá chẽm bước vào cuối
giai đoạn biến thái với sự xuất hiện của ba sọc phân biệt: một sọc ở cuống đuôi, một
sọc ở góc vây lưng giữa phần tia cứng và phần tia mềm và một sọc thứ 3 ngang qua
đầu. Cá 21 ngày tuổi có chiều dài 8,91±1,19mm, số lượng tia vây cứng và tia vây
được hấp thụ hết, giọt dầu vẫn còn và được chuyển hóa hoàn toàn chậm nhất đến 5
ngày tuổi. Đã thấy có những biến đổi nhỏ về hình thái đường ruột, phần ruột trước,
ruột giữa và phần trực tràng trở nên to hơn, thấy rõ van trực tràng tách thành hai
phần. Đường ruột tiếp tục phát triển mạnh và bắt đầu cuộn lại ở ngày tuổi thứ 6
(Walford và Lam, 1993) hay sau 121 giờ sau khi nở (Kohno và Taki, 1986).
Ở
ngày
tuổi thứ 8 (chiều dài thân 6,08 mm), sự cuộn lại của đường ruột đã hoàn tất, phần
đầu của ruột phình to tạo thành một túi rộng. Ấu trùng 11 ngày tuổi, đoạn phình này
bắt đầu biến dạng thành dạ dày. Sự chuyển dạng này rõ ràng ở 13 ngày tuổi (chiều
dài thân 11,04 mm), có thể thấy rõ sự co thắt môn vị và sự nhô ra của manh tràng.
Sự phát triển của dạ dày, cơ thắt môn vị và manh tràng gần như hoàn chỉnh ở ngày
tuổi 15 (chiều dài thân 11,50 mm). Lúc này, dạ dày đã có hình dạng nhất định, phần
trung tâm dạ dày liên kết với phần môn vị tại một góc nhọn tạo nên hình nhọn đặc
trưng của dạ dày. Ở ấu trùng 17 ngày tuổi (chiều dài thân 12,32 mm), đường tiêu
hoá đã hoàn chỉnh về mặt hình thái. Ở các giai đoạn lớn hơn, dạ dày to hơn và
manh tràng tiếp tục phát triển dài ra. Đến cá giống 80 ngày tuổi, hình dạng dạ dày
và manh tràng cơ bản không có sự biến đổi về hình dạng [10].
Cũng theo Walford và Lam (1993), có sự biến động lớn về pH ở trong ống tiêu
hoá của ấu trùng cá chẽm trước và sau khi hình thành dạ dày. Khi ấu trùng mới nở,
dạ dày chưa hình thành thì đường ruột là cơ quan tiêu hoá và hấp thụ dinh dưỡng.
Lúc này pH ở trong đường ruột mang tính kiềm ( pH từ 7,7–8,0 ), sau đó pH bắt
đầu giảm xuống dần dần ở các ngày tuổi tếp theo, khi dạ dày hình thành (ngày tuổi
17) thì pH của dạ dày mang tính acid (pH=5,0), đến 22 ngày tuổi thì pH của dạ dày
giảm xuống mạnh chỉ còn 3,7.
Sự hoạt động của các enzyme tiêu hóa protein xác định ở ấu trùng và cá con như
sau:
Ngay
sau khi nở, khả năng hoạt động của proteaza dạng kiềm (dạng trypsin)
khá cao (6,0 đơn vị/mg protein, một đơn vị protein tương ứng với 1µg tyrosine
với sự thay đổi tập tính và khả năng tiêu hoá. Tuy nhiên, khi cơ thể cá đạt đến một
giai đoạn phát triển nhất định mà kích thước miệng lớn hơn kích thước thức ăn
chuyển đổi và trong quần đàn cá xuất hiện một tỷ lệ nhất định cá hình thành dạ dày,
thì có thể tiến hành chuyển đổi thức ăn được. Nhưng để đảm bảo an toàn thì cần
phải đợi cho đến khi hệ tiêu hoá của ấu trùng hoàn thiện thì mới tiến hành chuyển 17
đổi thức ăn cho cá. Trong giai đoạn này số lượng mồi sống cung cấp cho cá sẽ giảm
dần và được đền bù bằng việc tiêu hoá thức ăn tổng hợp.
Theo kết quả nghiên cứu của Barnabé (1989), tỷ lệ sống của cá chẽm châu Âu và
cá bánh đường ( Sparus aurata), trong giai đoạn chuyển đổi thức ăn là rất thấp, tỷ lệ
chết có thể lên tới 50%.
Theo Cao Khánh Ly (2004) khi tìm hiểu chuyển đổi thức ăn ở ấu trùng cá chẽm
đã đưa ra kết luận, tốc độ sinh trưởng của cá khi đưa vào chuyển đổi thức ăn tỷ lệ
thuận với thời gian chuyển đổi. Tiến hành thí nghiệm về ảnh hưởng của kích thước
cá đến khả năng chuyển đổi thức ăn cũng cho kết luận: không nên sử dụng cá có
kích thước nhỏ hơn 5,67±0,23 mm chiều dài, 4,68±0,4 mg khối lượng thân để đưa
vào chuyển đổi vì khả năng ăn mồi của nhóm cá đó là rất kém [6].
Theo Nguyễn Hoàng Anh (2006), khi thử nghiệm chuyển đổi thức ăn sớm ở
nhóm cá 14 ngày tuổi cho kết luận: có thể sử dụng thức ăn Gemma micro 300 để
chuyển đổi thức ăn sớm, cá giai đoạn đầu sinh trưởng tuy hơi chậm nhưng sau thời
gian tập cho ăn thì cá đạt tốc độ sinh trưởng khá cao [1].
Kỹ thuật chuyển đổi thức ăn đã được mô tả ở cá chẽm châu Âu, cá bánh đường,
và cá bơn. Để rút ngắn thời gian chuyển đổi thức ăn, giúp cho cá quen với thức ăn
tổng hợp nhưng đồng thời không làm ô nhiễm nước, Barnabé đề nghị sử dụng máy
cho thức ăn tự động để cung cấp vào bể một lượng thức ăn nhỏ nhưng thường
xuyên. Với thiết bị này, cá có thể bắt gặp các mẫu thức ăn và có thể tập dần để chấp
nhận một lượng thức ăn mỗi ngày.
Như vậy, mặc dù chậm hơn một số nước trên thế giới nhưng các nghiên cứu về
cá chẽm ở Việt Nam đã đáp ứng phần nào những nhu cầu về thực tế sản xuất đối
tượng này.
19
PHẦN II
:
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1. Thời gian, địa điểm và đối tượng nghiên cứu
- Thời gian thực hiện : Từ 30-7-2007 đến 11-10-2007.
- Địa điểm nghiên cứu : Trung tâm nghiên cứu sản xuất giống và dịch bệnh
Thủy sản-Trường Đại học Nha Trang.
- Đối tượng nghiên cứu: cá chẽm (Lates calcarifer , Bloch, 1790)
2. Phương pháp nghiên cứu
2.1 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu (xem hình 1)
2.2 Phương pháp theo dõi sự phát triển đường tiêu hoá ấu trùng cá chẽm
20
Sử dụng kính hiển vi soi nổi để quan sát. Độ phóng đại của kính là 4, 2, 1 tuỳ vào
sự phát triển kích thước cá qua từng giai đoạn phát triển, các thông số theo dõi sau:
Chiều dài cá, chiều dài miệng và chiều cao miệng.
Hình 1: Sơ đồ khối nội dung đề tài
triển
kích
thước
miệng
Theo
dõi
quá
trình
hình
thành
và
phát
triển
của
dạ
dày
Lô thí
nghiệm
chuyển
đổi
thức ăn
sớm
bằng
thức ăn
tổng hợp
(Gemma
micro
300)
21
2.2.3 Phương pháp theo dõi sự hình thành và phát triển của đường ruột
Xác định thời gian và tỷ lệ hình thành đường ruột
- Thu mẫu cá trong bể ương để tiến hành quan sát và theo dõi, thời gian thu
mẫu kể từ khi trứng nở hoàn toàn cho tới khi đường ruột được hình thành 100%. Ở
giai đoạn này định kỳ thu mẫu 12 h/lần, mỗi lần 30 con/mẫu. Quan sát trên kính
hiển vi soi nổi (vật kính 4).
Phương pháp theo dõi sự phát triển của đường ruột
- Thu mẫu: cá sau khi đã hình thành đường ruột 100% thì tiến hành thu mẫu để
quan sát. Định kỳ thu mẫu 1 ngày/lần, mỗi lần 15 con/mẫu, thời gian thu mẫu là lúc
19h30
’
. Thời gian kết thúc thu mẫu được tính khi 100% đường ruột cá cuộn lại.
2.2.4 Phương pháp xác định quá trình phát triển của dạ dày
Sau khi cá hình thành đường ruột thì tiến hành thu mẫu định kì 1 ngày/lần (15
con/mẫu) và giải phẩu để quan sát. Cá sử dụng làm mẫu được lấy từ bể sản xuất (10
m
3
). Số lượng cá làm mẫu là 15 con/mẫu, thời gian thu mẫu là 20h.
Giới hạn thu mẫu là từ khi đường ruột cá cuộn lại cho đến khi dạ dày cá hình
thành hoàn toàn (100%).
Sự phát triển của dạ dày được biểu thị thông qua các mức: chưa hình thành (ruột
chưa có phình), ruột trước phình to, dạ dày bắt đầu hình thành và dạ dày hình thành
hoàn chỉnh (có hình dạng của loài) ở phía sau dạ dạy hình thành manh tràng.
2.3 Thí nghiệm xác định khả năng chuyển đổi thức ăn sớm trong ương nuôi ấu
trùng cá chẽm
Ấu trùng cá dùng làm thí nghiệm được lấy từ Trung tâm nghiên cứu sản xuất
giống và dịch bệnh Thủy sản của Trường Đại học Nha Trang.
( a) Hình ảnh bố trí thí nghiệm (b) Sơ đồ thí
nghiệm
Hình 2: Hình ảnh và sơ đồ bố trí thí nghiệm chuyển đổi thức ăn
2.3.3. Chăm sóc và quản lý
Thức ăn, thời gian và lượng cho ăn trong quá trình tiến hành thí nghiệm được
trình bày ở bảng 2:
1 2 1
2 1 2
1 Lô chuyển đổi thức ăn sớm
2 Lô theo quy trình nuôi
23
Bảng 2: Thời gian cho ăn trong quá trình thí nghiệm
Thời gian và lượng cho ăn trong quá trình thí nghiệm
Lô thí
Nghiệm
Ngày
tuổi
6h 10h 13h 16h
10 – 12
10 – 19
20 – 22
Lô đối
chứng (
thực
hiện
theo
quy
trình
nuôi)
23 – 29
Artemia (mới nở và làm giàu)
0,5÷8 (con/mL) Gemma Artemia
2 g/bể 7÷10 (con/mL) NRD 3/5 Artemia
3 ÷ 4 ( g /bể ) 9 ÷ 14
con/mL
- Sử dụng dụng cụ thu váng bề mặt (skimer) để gom váng ở trên mặt nước.
- Quản lý sục khí đảm bảo thuận lợi cho cá phát triển.
- Định kỳ 2 ngay/lần xử lý mazzal (1- 3 ppm).
- Che chắn không để cho nước mưa vào bể ương.
- Hàng ngày đo các yếu tố môi trường: pH, hàm lượng oxy hoà tan, độ mặn,
nhiệt độ, độ kiềm.
3. Phương pháp xác định các chỉ tiêu:
3.1 Phương pháp xác định các yếu tố môi trường
Hàng ngày đo các yếu tố môi trường vào hai buổi lúc 7h và 14h). Các thông số
môi trường cần đo gồm:
- T
0
(nhiệt độ), O
2
(oxy), đo bằng máy đo Oxy Guard độ chính xác 0.1.
- pH: xác định bằng máy đo điện tử Oxy Guard độ chính xác 0.01. 25
- S ‰ (độ mặn): đo bằng khúc xạ kế, độ chính xác 0.1.
- Độ kiềm: được đo bằng test độ kiềm.
3.2 Phương pháp xác định chỉ tiêu sinh trưởng, tỉ lệ sống
- Chỉ tiêu tăng trưởng chiều dài : cá từ 10–20 ngày tuổi đo bằng kính hiển vi soi
nổi có độ chuẩn xác 0,01 mm. Cá lớn hơn 20 ngày tuổi dùng giấy ôli (độ chuẩn xác
0,1mm)
- Xác định tỷ lệ sống bằng phương pháp đếm.
Đếm cá trước khi đưa vào thí nghiệm và khi kết thúc thí nghiệm.
4. Phương pháp xử lý số liệu .
- Xử lý số liệu dựa vào phương pháp thống kê sinh học (xử lí trên phần mềm
Số cá hình thành ruột
x 100%
Tổng số cá kiểm tra
Số cá hình thành dạ dày
x 100%
Số cá bố trí thí nghiệm
Số cá sống + số cá lấy mẫu + số cá chết do tác động cơ học
x 100%
T
2
– T
1
L
2
– L
1