Thực trạng việc quản lý giáo dục giới tính cho học sinh ở trường THCS tại huyện Thuận An , tỉnh Bình Dương - Pdf 26

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
ĐỖ HÀ THẾ BÌNH THỰC TRẠNG VIỆC QUẢN LÝ GIÁO DỤC GIỚI
TÍNH CHO HỌC SINH Ở CÁC TRƯỜNG THCS TẠI
HUYỆN THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG VÀ MỘT
SỐ GIẢI PHÁP

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS-TS. BÙI NGỌC OÁNH Thành phố Hồ Chí Minh - 2007
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Trong thế giới loài người là muôn hình vạn trạng, không ở đâu trong sự phát triển

chủ nhiệm và các bộ môn như: Giáo dục công dân và môn Sinh học kiêm nhiệm.
Vấn đề giáo dục giới tính có là vấn đề cần thiết tham gia vào quá trình giáo dục và
đào tạo vẫn đang còn nhiều ý kiến khác nhau. Thiết nghĩ bên cạnh việc học các bộ
môn văn hóa, học sinh vẫn có nhu cầu tìm hiểu, nhận thức đối với các vấn đề giới
tính. Chuyên đề này đang có sức hút nhất định và ảnh hưởng rất lớn đến việc hình
thành và phát triển nhân cách của học sinh bậc trung học cơ sở.
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Thực trạng việc
quản lý gi
áo dục giới tính cho học sinh ở các trường trung học cơ sở tại huyện
Thuận An, tỉnh Bình Dương và một số giải pháp”.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên
cơ sở nghiên cứu lý luận và khảo sát thực tiễn nhằm đánh giá thực trạng
giáo dục giới tính, phát hiện nhu cầu bồi dưỡng, nhu cầu người học ở các trường
THCS trong huyện Thuận An - tỉnh Bình Dương và các kiến thức, kỹ năng, nghiệp
vụ quản lý và giáo dục giới tính. Từ đó đề nghị những biện pháp có tính khả thi góp
phần nâng cao hiệu quả của việc giáo dục giới tính các trường THCS trong huyện
Thuận An.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu một số vấn đề lý luận về giới tính và công tác tổ chức quản lý
giáo dục giới tính cho học sinh bậc THCS.
- Thực trạng hoạt việc quản lý giáo dục giới tính ở các trường trung học cơ sở
trên địa bàn huyện Thuận An.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tổ chức quản lý hoạt động
giáo dục giới tính ở các trường trung học cơ sở tại huyện Thuận An, tỉnh Bình
Dương.
4. Giả thuyết k
hoa học
Hoạt động giáo dục giới tính ở các trường THCS tại huyện Thuận An, tỉnh

Dự một số tiết sinh hoạt chủ nhiệm, sinh học, giáo dục công dân, sinh hoạt
ngoại khóa có liên quan đến giáo dục giới tính ở các trường THCS trên địa bàn huyện
Thuận An nhằm quan sát tinh thần và thái độ học tập của học sinh về vấn đề này,
phương pháp giáo dục của giáo viên đối với chuyên đề giáo dục giới tính.
7.3. Phương pháp phỏng vấn
Tiến hành gặp gỡ chuyện trò và trao đổi với Ban giám
hiệu, giáo viên đang
trực tiếp giảng dạy các môn học liên quan đến giáo dục giới tính ở các trường THCS
tại huyện Thuận An, cán bộ chuyên môn phòng Giáo dục Thuận An, một số cha mẹ
học sinh về các vấn đề có liên quan.
7.4. Phương pháp điều tra bằng phiếu thăm dò ý kiến
Sử dụng phiếu thăm dò ý kiến đối với một số cán bộ, giáo viên trực tiếp làm
công tác này, một số phụ huynh, học sinh học tại các trường trung học cơ sở thuộc
huyện Thuận An tỉnh Bình Dương về thực trạng của đội ngũ gi
áo viên đối với vấn đề
này và các giải pháp
7.5. Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
Thông qua các kết quả điều tra để phân tích, tổng hợp, so sánh. Từ đó rút ra
những kết luận chủ yếu mang tính sự kiện có ý nghĩa.
8. Đóng góp của đề tài

Xác định những cơ sở có tính khoa học về việc cần thiết phải tổ chức quản lý
chặt chẽ việc giáo dục giới tính ở các trường THCS trong huyện Thuận An nhằm
nâng cao hiệu quả giáo dục.
Đưa ra biện pháp nhằm chấn chỉnh công tác giáo dục giới tính ở các trường
THCS trong huyện Thuận An và các huyện khác có điều kiện tương tự như tại huyện
Thuận An, tỉnh Bình Dương.
CHƯƠNG I:
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ GIÁO DỤC GIỚI
TÍNH Ở CÁC TRƯỜNG THCS

yêu, hôn nhân gia đình đã bắt đầu được công bố. Các tác giả Đặng Xuân Hoài, Trần
Trọng Thuỷ, Phạm Hoàng Gia, Nguyễn Thị Đoan, Nguyễn Thị Tho, Bùi Ngọc Oánh,
Lê Nguyên, Phạm Ngọc, Minh Đức… đã nghiên cứu nhiều vấn đề, nhiều khía cạnh
chi tiết của giới tính và giáo dục giới tính. Những công trình này đã nêu lên nhiều vấn
đề rất phong phú đa dạng về vấn đề giới tính và giáo dục giới tính ở Việt Nam.
Công trình nghiên cứu các dự án VIE/88/P09, VIE 88/P11... cấp-quốc gia do tổ
chức PATH CANADA tài trợ cùng nhóm nghiên cứu là các nhà khoa học tầm cỡ của
Việt Nam đã xem xét việc giáo dục giới tính là vấn đề mấu chốt của đức dục đối với
tuổi vị t
hành niên nói chung và học sinh bậc trung học cơ sở nói riêng được triển khai
thực nghiệm từ thập niên 1980 và chính thức đưa vào thực hiện rộng rãi trong các
trường THCS từ năm học 1990-1991 đã mở ra một bước ngoặc quan trọng trong việc
nghiên cứu, quy hoạch, xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên ở
các cơ sở giáo dục trực tiếp làm
công tác giáo dục giới tính có phẩm chất, có năng lực
trình độ chuyên môn nhất định, có tầm nhìn trong lĩnh vực này nhằm đáp ứng kịp
thời cho sự nghiệp ''trông người''. Giáo dục giới tính bao hàm những tri thức về mối
quan hệ giữa sự phát triển tình dục và nhân cách, thể chất và tinh thần của trẻ em và
thanh thiếu niên thông qua các hình thức: lồng ghép vào một số môn văn hóa, sinh
hoạt nội khóa, sinh hoạt ngoại
khóa bằng phương pháp dạy học tích cực và việc trao
đổi kinh nghiệm giáo dục để tìm ra những giải pháp tốt nhất cho việc giáo dục giới
tính trong nhà trường phổ thông nói chung và ở bậc THCS nói riêng.
Các tác giả, các nhà nghiên cứu giáo dục, các chuyên gia đầu ngành trong và
ngoài nước đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề giáo dục giới tính trong nhà
trường, về vai trò của các nhà giáo dục nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục như :
- Tác giả J.P MA-SƠ-LÔ-VA (Tiệp Khắc) đã nghiê
n cứu các vấn đề về giới tính
cho rằng:''Nhiều người trong chúng ta biết rằng không nên để con cái phải tự lần mò
tìm hiểu lấy chuyện tình dục, song lại không biết hướng dẫn, tác động, không biết khi

biệt là giáo dục sức khỏe sinh sản trong thanh niên.
- Đặc biệt từ năm 1988, một đề án với quy mô lớn nghiên cứu về giáo dục đời
sống gia đình và giới tính cho học sinh (gọi tắt là Giáo dục đời sống gia đình) có kí

hiệu VIE/88/P09 (gọi tắt là đề án P09) đã được Hội đồng Chính phủ, Bộ Giáo dục và
Đào tạo, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam thông qua và cho phép thực hiện với sự
tài trợ của UNFPA và UNESCO khu vực. Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Giáo sư Trần
Trọng Thuỷ và Giáo sư Đặng Xuân Hoài, Đề án đã được tiến hành rất thận trọng và
khoa học, nghiên cứu khá sâu rộng nhiều vấn đề như: quan niệm về tình bạn, tình
yêu, hôn nhân, nhận thức về giới tính và giáo dục giới tính của giáo viên, học sinh,

phụ huynh… ở nhiều nơi trong cả nước, để chuẩn bị tiến hành giáo dục giới tính cho
học sinh phổ thông từ lớp 9 đến lớp 12.
Ngoài ra, còn nhiều tác giả, nhiều công trình nghiên cứu được công bố trên các
tập san chuyên nghành như: nghiên cứu giáo dục, giáo dục phổ thông,... Những công
trình này thực sự nghiên cứu những mảng đề tài hết sức thiết thực, cụ thể trong công
tác quản lý, xây dựng đội ngũ làm công tác giáo dục giới tính trong các trường phổ
thông. Riêng ở huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương, vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ -
giáo viên tham
gia làm công tác giáo dục giới tính trong nhà trường nói chung và ở
bậc THCS nói riêng chưa được quan tâm đúng mức của các cấp Chính quyền và của
ngành Giáo dục. Do đó, đối tượng này cần được nghiên cứu khách quan từ thực trạng
giáo dục giới tính hiện nay, để từng bước củng cố, đào tạo bồi dưỡng đội ngũ làm
công tác này trở thành lực lượng c
hủ yếu, quyết định sự phát triển nhân cách của học
sinh theo đúng hướng phát triển sự nghiệp giáo dục ở tỉnh Bình Dương nói chung và
huyện Thuận An nói riêng trong thời gian tới.
1.2. Một số kh
ái niệm cơ bản
1.2.1. Giới

nữ, sức lực của từng giới và về nhiều đặc điểm sinh lí cơ thể khác. Do cấu tạo sinh lí
cơ thể khác nhau, ở mỗi giới có những chức nănh sinh lí khác nhau, như nữ giới có
khả năng thụ thai, sinh nở, có hiện tượng kinh nguyệt… gới nam
không có những
chức năng trên, nhưng thường cao lớn khoẻ mạnh hơn, có khả năng sản xuất tinh
trùng…
+ Xét về mặt xã hội, giới là những đặc điểm do xã hội tạo ra, do những quy
định, luật lệ, đòi hỏi… của xã hội đối với con người là nam hay nữ. Ban đầu dưới ảnh
hưởng của đặc tính về sinh l
í cơ thể như chiều cao, tầm vóc, sức mạnh,… người nam
và người nữ được phân công những công việc, những vai trò khác nhau trong đời
sống xã hội. Dần dần ở mỗi người, mỗi giới tạo nên những đặc tính về mặt xã hội như
vai trò của gia đình, địa vị xã hội, nhu cầu về đời sống tình cảm… Những yếu tố trên
chịu sự tác động của xã hội, của lịch sử tạo nên những đặc điểm, chức năng, vai trò
xã hội khác nhau. Giới được thể hiện ở v
ai trò, chức năng, nghĩa vụ xã hội. Giới là
tập hợp người có những vai trò chức năng xã hội nhất định.
Như vậy, giới có thể được hiểu là giới sinh học hay giới xã hội.
Khi nói đến giới sinh học, người ta thường chú ý nhiều đến hệ cơ quan sinh dục
của con người. Khi em
bé lọt lòng mẹ sinh ra, người ta chỉ dựa vào hệ cơ quan sinh
dục để xếp em bé đó thuộc về giới nam hay giới nữ (em trai hay em gái). Khi em bé
lớn lên, đặc biệt là khi bước vào thời kỳ dậy thì, người ta có thể xếp một người vào
giới thứ ba nếu hoạt động của hệ cơ quan sinh dục của người đó là không bình
thường.
Khi nói đến giới xã hội, có nhiều vấn đề được quan tâm như:
- Vai trò của người nam, người nữ trong xã hội.
- Sự phân công lao động trong xã hội cho người nam và người nữ.
- Sự bình đẳng giữa giới nam
và giới nữ (vấn đề bình đẳng giới).

bởi nhiều đặc điểm về sinh lí, về tâm lí ở mỗi người, bởi những đặc điểm về văn hoá,
chính t
rị, phong tục tập quán của xã hội, trong đó có các đặc điểm đặc trưng của mỗi
giới. Từ đó lại hình thành nên nhiều yếu tố mới, hiện tượng mới trong đời sống giới
tính như: Sự giao tiếp giữa hai giới, quan hệ bạn khác giới, quan hệ tình yêu, hôn
nhân…
Đời sống giới tính của con người rất phong phú và đa dạng. Đó là những hiện
tượng tâm lí và sinh lí nảy sinh trong đời sống của mỗi người, trong mối quan hệ giữa
người này với người kia, trong cuộc sống chung của mỗi người, trong sự tồn tại của
xã hội. Đời sống giới tính là một tổng hợp phức tạp các hiện tượng tâm
lí và sinh lí có
liên quan đến mỗi giới, là mọi yếu tố, mọi mặt hoạt động, mọi mối quan hệ… tr
ong
đời sống của con người, trong đời sống xã hội loài người.
Đời sống giới tính là toàn bộ những hiện tượng về mặt sinh lí cơ thể xuất hiện
trong con người có liên quan đến hệ cơ quan sinh dục (đời sống tính dục), những hiện
tượng tâm lí đặc trưng ở mỗi giới, những hiện tượng tâm lí người trong mối quan hệ
với người khác giới (tình bạn khác giới, tình yêu… ), những hiện tượng t
rong đời
sống xã hội như hôn nhân, gia đình… Gần đây còn xuất hiện những biểu hiện phức
tạp hơn của đời sống giới tính như: các quan điểm yêu đương ngoài hôn nhân, tình
dục ngoài hôn nhân, tình bạn và sự giao tiếp giữa những người khác giới…
* Như vậy, khái niệm về giới tính cần được hiểu một cách đầy đủ, toàn diện về
nhiều mặt sinh lí và tâm
lí, cá nhân và xã hội, hôn nhân và gia đình, tình yêu và tình
bạn, sự giao tiếp nam nữ…
1.2.3. Giáo dục giới tính
Giáo
dục giới tính là một lĩnh vực rất phức tạp. Có nhiều quan niệm, nhiều ý
kiến khác nhau về vấn đề này.

vấn đề có liên quan đến đời sống tình cảm của con người.

- Theo A.G. Khrivcova, D.V. Kolexev, “Giáo dục giới tính là một quá trình
hướng vào việc vạch ra những nét, những phẩm chất, những đặc trưng cũng như
khuynh hướng phát triển của nhân cách, xác định thái độ xã hội cần thiết của con
người đối với người khác.” – Cô bé-Thiếu nữ-Thanh nữ, NXB Giáo dục, 1981.
- Giáo dục giới tính là một bộ phận hữu cơ của phức hợp các vấn đề giáo dục
nhân cách, giáo dục con người mới, con người phát triển toàn diện, kết hợp một cách
hữu cơ hài hoà sự phong phú về tinh thần, sự thuần khiết về đạo đức và sự hoàn thiện
về thể xác. Theo A.X. Makarenko, “ khi giáo dục cho đứa trẻ tính ngay thẳng, khả
năng làm việc, tính chân thật, tôn trọng người khác, tôn trọng những cảm
xúc và
hứng thú của họ là chúng ta đã đồng thời giáo dục nó về quan hệ giới tính”.
- Giáo sư Trần Trọng Thuỷ, Giáo sư Đặng Xuân Hoài cho rằng, giáo dục giới
tính có phạm vi rất rộng lớn, tác động toàn diện đến tâm lí, đạo đức con người, “là
hình thành tiêu chuẩn đạo đức của hành vi có liên quan đến lĩnh vực thầm kín của đời
sống con ngưòi, hình thành những quan niệm đạo đức lành mạnh giữa em trai và em
gái, thanh nam
và thanh nữ, giáo dục những sự “kiềm chế có đạo đức”, sự thuần khiết
và tươi mát về đạo đức trong tình cảm của các em.”- Trần Trọng Thuỷ, Vấn đề giáo
dục đời sống gia đình và giới tính cho thế hệ trẻ, Báo cáo khoa học của đề án P09.
Theo giáo sư Phạm Hoàng Gia, giáo dục giới tính phải được xem xét như một
bộ phận hợp thành của nền giáo dục xã hội. Nó có mối liên hệ mật thiết với giáo dục
dân số, kế hoạch hoá gia đình, hôn nhân-gia đình và với các mặt giáo dục khác trong
nhà trường phổ thông. Do vậy cần phải tiến hành công tác giáo dục giới tính một cách

đồng thời, đồng bộ trong mối quan hệ có tính chất hệ thống với các mặt giáo dục
khác.
Ngoài ra còn rất nhiều quan niệm của các nhà khoa học, nhà nghiên cứu về tâm
lí học giới tính.

b) Giáo dục khả năng hiểu biết những đặc điểm giới tính trong quá trình cùng
hoạt động chung với các bạn khác giới. Biết tôn trọng và giúp đỡ lẫn nhau.
c) Bồi dưỡng những hiểu biết về hành vi tốt xấu, cái cho phép và cái không
phải vượt qua trong quan hệ với ngưòi khác giới. Biết tự đánh giá hành vi của mình

trong quan hệ với người khác giới.
d) Bồi dưỡng những hiểu biết đúng đắn về sự trưởng thành sinh lí của con
người (bao gồm nội dung, những dấu hiệu thực sự thể hiện của nó).
e) Bồi dưỡng ý thức trách nhiệm đối với sức khoẻ của bản thân và của người
khác, ý thức được tác hại của v
iệc kết hôn sớm.
f) Bồi dưỡng tinh thần phê phán và thái độ không khoan nhượng đối với những
tàn tích và quan điểm đạo đức phong kiến tư sản trong phạm trù quan hệ giới tính.
Như vậy, nhiệm vụ của giáo dục giới tính bao gồm cả việc truyền thụ tri thức
về giới tính, về mối quan hệ nam nữ và các mối quan hệ khác (với người lớn, với gia
đình, xã hội, bản thân…) và cả việc giáo dục những phẩm chất đạo đức, những hành
vi cư xử với mọi người, nhất là làm cho các em biết được những hành vi tốt và xấu,
đúng và sai trong quan hệ với người khác giới, những tri thức và quan niệm đúng đắn
về đời sống giới tính của con người. Vấn đề này, tác giả Nguyễn Bích Ngọc trong
Báo cáo khoa học tại đề án P09., Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam
đã đi sâu vào hai
nhiệm vụ cơ bản:
Thứ nhất, giáo dục giới tính cần phải giúp con người biết phê phán, bác bỏ
những quan niệm, nhận thức sai về giới tính và giáo dục giới tính như:
- Phê phán, bác bỏ những nhận thức không đúng đắn về bản năng sinh dục, về
quan hệ tình dục, về khuynh hướng “giải phóng tình dục”, “cách mạng tình dục” hoặc
xu hướng tiêu cực, phó mặc mọi chuyện “cho nó đến đâu thì đến”, dẫn đến sự tan
vỡ
của nhiều cuộc hôn nhân.
- Phân tích, phê phán những tư tưởng và những hành vi không lành mạnh: quan

ình yêu, hôn
nhân và đời sống gia đình…
- Giúp cho các em có bản lĩnh vững vàng bước vào đời sống xã hội, biết bảo vệ,
giữ gìn sức khoẻ cho người bạn và cho chính mình, có khả năng chống chọi lại những
cạm bẫy, quyến rũ của lối sống ăn chơi đồi truỵ, biết phê phán, bác bỏ những quan
niện không đúng về tình yêu, tình dục, quan hệ tình dục quá sớm h
oặc buông xuôi, cả
nể, dẫn tới quan hệ tình dục bừa bãi, yêu nhau, bỏ nhau quá dễ dàng.
- Giúp cho các em biết trân trọng và bảo vệ những giá trị cao cả và thiêng liêng
của tình bạn thân thiết và gắn bó, của tình yêu sâu nặng và chung thuỷ, biết được cái
hay cái đẹp của nếp sống văn hoá văn minh.
- Chuẩn bị về tinh thần và khả năng thực tiễn cho thế hệ trẻ, giúp cho họ phát
triển nhân cách toàn diện, biết cách tổ chức và xây dựng cuộc sống gi
a đình hạnh
phúc, nâng cao chất lượng cuộc sống, góp phần xây dựng và thúc đẩy xã hội phát
triển, giàu mạnh.
1.5. Các yêu cầu cơ bản của giáo dục giới tính
- Yêu cầu về lứa tuổi: p
hải căn cứ vào lứa tuổi để có những biện pháp tác động
thích hợp, có mục tiêu và nội dung tri thức khác nhau
- Tính liên tục: Tính liên tục ở đây là những hệ thống mang tính liên thông với
nhau. Mỗi hệ thống được các em đón nhận để chuẩn bị khả năng tư duy tốt hơn cao
hơn.
- Tính logic: Tính logic đảm bảo cho sự phát triển từ đơn giản đến phức tạp, từ
chỗ chưa toàn diện đến chỗ toàn diện hơn.
- Quan điểm toàn diện: Đảm bảo khả năng phát huy mọi mặt tư duy của con
người.
1.6. Những nguyên tắc của giáo dục giới tính
Việc giáo
dục giới tính cho thanh niên học sinh là vấn đề quan trọng, cần thiết,

giới tính mà các nước đang áp dụng, chúng ta lựa chọn những vấn đề nào để
dạy cho học sinh phổ thông Việt Nam?
- Nên dạy cho học sinh từ lớp nào?
- Nên dạy lồng ghép vào các môn học có liên quan hay dạy thành một m
ôn
riêng.
Ban chỉ đạo đề án VIE/88/P09 Cụm các tỉnh phía Nam và Thành phố Hồ Chí
Minh đã tiến hành một cuộc điều tra thăm dò ý kiến của giáo viên và học sinh về
những vấn đề trên, để thực hiện có hiệu quả hơn những nhiệm vụ của đề án do Ban
Chủ nhiệm đề án Trung ương trao cho Ban Chỉ đạo sau khi điều tra đã kết luận như
sau:
- Việc giảng dạy chương trình giáo dục đời sống gia đình và giới tính là cần
thiết và có
thể tiến hành sớm trong tình hình hiện nay.
- Trước mắt, đối với một số bài, có thể dạy lồng ghép vào các môn có liên quan
như: Sinh học, Giáo dục công dân… Tuy nhiên có thể nghiên cứu để dạy thành một
môn riêng biệt. Thực tế, một số bài, rất khó ghép vào một môn nào như các bài: tình
yêu, hôn nhân,…
- Có thể dạy nội dung chương trình Giáo dục đời sống gia đình và Giới tính
trong chính khoá và trong hoạt động ngoại khoá. Đây là những kiến thức quan trọng,
cần thiết cho học sinh.
- Có thể dạy cho học sinh phổ t
hông từ trung học cơ sở trở lên. Việc giảng dạy
này vừa xuất phát từ đặc điểm tâm sinh lí của các em, vừa xuất phát từ thực tế giáo
dục và thực tế đời sống học sinh mà các thầy cô giáo đã phát hiện được.
1.8. Một số nét về đặc điểm t
âm sinh lý học sinh Trung học cơ sở
- Bước vào bậc trung học cơ sở, các em ở độ tuổi từ 12 đến 15-16 tuổi, đây là
quản đời diễn ra những “biến cố” đặc biệt. Do sự trưởng thành và tích luỹ ở giái đoạn
trước, các em đã có một vị trí xã hội mới: nó không hoàn toàn là trẻ con nhưng cũng

- Quản lý việc xây dựng và thực hiện kế hoạch giáo dục giới tính.
- Quản lý việc tham gia giáo dục giới tính của các đoàn thể và cán bộ trong nhà

trường.
Những vấn đề được trên là những yếu tố chủ yếu trước mắt trong tình hình
hiện nay ở các trường phổ thông. Đặc biệt là ở các trường trung học cơ sở nói chung
và tại huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương nói riêng. CHƯƠNG II:
THỰC TRẠNG VIỆC QUẢN LÝ GIÁO DỤC GIỚI TÍNH
CHO HỌC SINH Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ TẠI HUYỆN
THUẬN AN,TỈNH BÌNH DƯƠNG

2.1. Khái quát về điều k
iện tự nhiên, kinh tế xã hội và giáo dục Huyện Thuận An
- Tỉnh Bình Dương
2.1.1. Vị tr

văn hóa của nhân dân, tạo việc làm cho người lao động, chuyển đổi lao động sang
dịch vụ và công nghiệp. Tạo chuyển biến cơ bản về văn hóa, giáo dục, y tế và các vấn
đề xã hội khác. Ưu tiên vùng nông thôn như một số xã ở ven sông Sài Gòn. Rút ngắn
khoảng cách giữa thành thị và nông thôn (Thị trấn và các xã), giữa người nghèo và
người giàu.
- Phát triển nguồn nhân lực của huyện. Coi trọng đào tạo để nâng cao trình độ
dân trí, trình độ chuyên môn, đáp ứng yêu cầu tăng t
rưởng kinh tế.
- Quá trình phát triển kinh tế - xã hội phải kết hợp chặt chẽ với bảo vệ môi
trường sinh thái, bảo đảm phát triển bền vững.
- Kết hợp phát triển với an ninh quốc phòng, đảm bảo môi trường sinh thái.
2.1.3. Định hướng phát triển giáo dục từ nay đến năm 2010
Cùng với sự phát triển công nghiệp và các ngành khác, việc đầu tư để phát triển
ngành giáo dục và đào tạo là cấp bách, đáp ứng với
nhu cầu lực lượng lao động về số
lượng, chất lượng ngày càng tăng của huyện Thuận An nói riêng và của tỉnh Bình
Dương nói chung. Đồng thời với chiến lược phát triển giáo dục đào tạo của cả nước
nói chung và tỉnh B
ình Dương nói riêng, ngành giáo dục đào tạo huyện Thuận An
còn có vai trò hỗ trợ về giáo dục và đào tạo cho các huyện thị lân cận và TP. HCM.
Những mục tiêu tổng quát đến năm 2000: Chương trình được gọi là "Chương
trình mục tiêu quốc gia giáo dục và đào tạo". Chương trình này gồm 4 mục tiêu, đó
là:
2.1.3.1. Mục tiêu nâng cao dân trí
- Chống mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học.
- Đảm bảo hầu hết trẻ em
5 tuổi được học chương trình mẫu giáo lớn trước khi
vào lớp một nhằm phổ cập giáo dục tiểu học trong cả nước. Tiểu học sẽ học 2
buổi/ngày. Thu nhận tối đa học sinh tiểu học vào trung học cơ sở.
- Thanh toán nạn mù chữ cho độ tuổi 15-35 nhằm phổ cập giáo dục tiểu học và

giảng dạy cho tất cả các bộ m
ôn. Trong đó phải chú trọng đến cơ sở vật chất cho giáo
dục SKSS và giới tính cho học sinh.
- Chuyển dần học sinh tiểu học sang học 2 buổi/ngày
b) Ở khối đào tạo:
- Tập trung xây dựng các ký túc xá trường đại học và trung học sư phạm để
phát triển giáo dục đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và tạo điều kiện cho
con em nông dân, dân tộc nghèo có thể đi học được.
- Tăng cường trang bị cho các phòng thí nghiệm và sản xuất của trường đại
học, cao đẳng, trung học, trung học chuyên nghiệp. Trong đó có một số phòng thí
nghiệm, các thiết bị dạy học, phương tiện hiện đại phục vụ cho công tác đào tạo,
nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ. Đồng thời p
hải chú trọng công tác
giáo dục dân số nói chung và giáo dục giới tính nói riêng cho thế hệ công dân mới
trong giai đoạn hiện nay.
* Như vậy để thực hiện được 4 mục tiêu trên, ngành giáo dục phải đào tạo cho con
người phát triển t
oàn diện về cả tài năng và nhân cách. Trong đó giáo dục giới tính
phải được quan tâm.
2.2. Thực trạng việc quản lý giáo dục giới tính ở các trường Trung học cơ sở
trên địa bàn Huyện Thuận An, Tỉnh Bình Dương
2.2.1. Tìm hiểu quan điểm của giáo viê
n về giáo dục giới tính
2.2.1.1 Quan điểm của giáo viên về hình thức giáo dục giới tính
Kết quả điều tra được trình bày trong bảng 1 sau đây:
Bảng 2.1: Quan điểm của giáo viên về các hình thức GDGT
Số TT Hình thức GDGT
SL Tỉ lệ % T.số
1 Lồng ghép vào GDCD+Sinh 95 79,2 120
2 SHCN. 72 60,0 120


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status