BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
_______________________ Nguyễn Thị Hạnh
THỰC TRẠNG QUẢN LÍ CÔNG TÁC ĐÀO TẠO
GIÁO VIÊN TIỂU HỌC QUẬN TÂN BÌNH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Chuyên ngành :
Quản lý giáo dục
Mã số
:
60 14 05
Đặc biệt, tác giả mong muốn bày tỏ lòng tri ân sâu sắc đến
PGS.TS ĐOÀN VĂN ĐIỀU , người thầy đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ
và hướng dẫn chu đáo để tác giả hoàn thành bản luận văn này. Tân Bình, ngày 6 tháng 2 năm 2009
Tác giả NGUYỄN THỊ HẠNH
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT
TẮT
CBQL : cán bộ quản lí
CĐSP : cao đẳng sư phạm
CNTH : cử nhân tiểu học
CNTT : công nghệ thông tin
CSVC : cơ sở vật chất
ĐHSP : đại học sư phạm
GDĐT : giáo dục đào tạo
GDTH : giáo dục tiểu học
GVTH : giáo viên tiểu học
GV : giáo viên
HS : học sinh
NL : năng lực
NVSP : nghiệp vụ sư phạm
PGD : phòng giáo dục
PPDH : phương pháp dạy học
Ngoài việc là động lực
cho phát triển kinh tế, giáo dục còn là điểm tựa cho công bằng xã hội
và qua giáo dục, mỗi cá nhân nỗ lực vươn lên tự khẳng định mình bằng tri thức và khả năng sáng tạo.
Nền ki
nh tế tri thức toàn cầu đặt ra yêu cầu nước ta phải cấp bách đổi mới giáo dục và đào
tạo
với mục tiêu “đưa đất nước ra khỏi tình trạng kém phát triển... tạo nền tảng để đến năm 2020 cơ bản
trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại hóa...rút ngắn thời gian so với các nước đi trước..”.
Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2001 – 2010 của Nhà nước Việt Nam đã đề ra sứ mạng mới
của giáo dục là “đào tạo người có trình độ chuyê
n môn cao, người công dân có trách nhiệm, có nhân
lực tư duy, có tinh thần tạo nghiệp, giữ gìn và thúc đẩy những giá trị xã hội.”
Trong quá trình thực hiện sứ mạng giáo dục, vai trò của mỗi cấp học có những giá trị qua
n
trọng khác nhau. Tiểu học là bậc học nền tảng của giáo dục quốc dân, “nhằm giúp học sinh hình thành
những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và
các kĩ năng cơ bản... ” trong đó “Giáo viên là nhân tố hàng đầu quyết định chất lượng giáo dục”. [38,
phần IV]
Để đáp ứng được yêu cầu mới, giáo dục Việt Nam phải quan tâm
đặc biệt đến yếu tố chất
lượng, nhất là chất lượng người thầy. Việc nâ
ng cao chất lượng đội ngũ ngày càng tác động mạnh mẽ
lên tiến trình đổi mới giáo dục nước ta trong giai đoạn hiện nay và cả trong tương lai vì mô hình trường
học theo kiểu cũ không phù hợp nữa. Việc học tập của học sinh là sự tham gia tích cực vào các hoạt
động học. Xã hội ngày nay quan niệm học sinh tốt nghiệp là người có thể nhận diện và giải quyết các
vấn đề liên quan với họ bằng kĩ năng thích ứng nê
n việc giúp học sinh đạt đến trình độ này đòi hỏi
người thầy phải được đào tạo để tạo ra sự thay đổi.
Thời gian gần đây xã hội chú ý đặc biệt đến chất lượng giáo dục thông qua những mục tiêu có
n tiểu học
- Đề xuất một số giải
pháp quản lí công tác đào tạo giáo viên Tiểu học quận Tân Bình trong
giai đoạn sắp tới.
4. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là thực trạng công tác đào tạo giáo viên Tiểu học quận Tân
Bình Tp HCM.
- Khách thể nghiê
n cứu: biện pháp quản lí công tác nâng chuẩn trình độ đào tạo giáo viên tiểu
học tại quận Tân Bình Tp HCM.
5. Giả thuyết nghiên cứu
Dù đội ngũ giáo viên tiểu học quận Tân Bình đáp ứng chuẩn trình độ đào tạo rất cao, nhưng năng
lực chuyên môn nghiệp vụ của nhiều nhà giáo còn hạn chế về chất lượng, hiệu quả công tác, chưa thực sự
đổi mới phương pháp giảng dạy.
Nguyên nhân có thể xuất phát từ chất lượng việc thực hiện đào tạo nâng chuẩn của người
GVTH.
Cần điều c
hỉnh việc tổ chức, quản lý và thực hiện công tác đào tạo nâng chuẩn trình độ theo yêu
cầu chuẩn hoá, hiện đại hoá nguồn lực.
Xây dựng, quy hoạch đội ngũ hợp lý, có cơ cấu đồng bộ về trình độ, độ tuổi, giới tính…đảm
bảo tính kế thừa và phá
t triển.
Có chính sách sử dụng hiệu quả giáo viên sau đào tạo nâng chuẩn trình độ.
Hoàn thiện các chức năng quản lý công tác đào tạo.
6. Các phương pháp nghiên cứu
6.1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Phân tích, hệ thống hóa các vấn đề lý luận từ các tài liệu, văn bản, nghị quyết của Đảng và Nhà
nước, của Bộ Giáo dục và Đào tạo, của Sở Giáo dục thành phố HCM có liên quan đến đề tài.
6.2. P
dựng chương trình đào tạo giáo viên phù hợp với yêu cầu mới.
- Nội dung khảo sát :
Khái quát về tình hình đội ngũ và tình hình cơ sở trường lớp.
Đánh giá tính hiệu quả của nội dung đào tạo, những hạn chế bất cập trong kĩ năng và kiến thức
của GV.
Những năng lực nghề nghiệp m
à người GV mong muốn được cải thiện.
- Lập bảng hỏi :
Phiếu hỏi có 22 câu, gồm 4 phần chính với 87 mục hỏi (169 biến quan sát).
Phần đầu của phiếu hỏi là những chi tiết về cá nhân (tuổi, giới tính, trình độ chuyên môn, thâm
niên dạy học và quản lí) và đặc điểm của đơn vị trường.
Phần 2 (từ câu 1-7) là thông tin về đặc điểm đào tạo và cách thức tham gia của GV, nhận xét của
GV & CBQL về nội dung đào tạo.
Phần 3 (từ câu 8- 16) đánh giá của GV & CBQL về lợi
ích, hiệu quả cũng như những hạn chế cơ
bản của GVTH hiện nay.
Phần 4 (từ câu 17-22) đánh giá của GV & CBQL về năng lực cần cải thiện, mức độ ảnh hưởng
của các yếu tố trong điều kiện, phương thức tổ chức đào tạo, các giải pháp đề nghị và ý kiến riêng của
họ nhằm nâng cao chất lượng công tác đào tạo G
VTH tại địa phương.
Số liệu được nhập và xử lý trên phần mềm SPSS 16.0.
7. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
- Chỉ nghiên cứu hiệu quả giảng dạy sau đào tạo nâng chuẩn trình độ giáo viên Tiểu học.
- Phạm
vi nghiên cứu: 23 trường tiểu học thuộc quận Tân Bình.
Nguyễn Ngọc
Hợi, Phạm Minh Hùng, Thái văn Thành đã nhất trí nhận định việc nâng cao chất lượng GVTH là một
yêu cầu cấp thiết để nâng cao chất lượng giáo dục nói chung và đòi hỏi phải thực hiện đồng bộ các giải
pháp về tuyển sinh, đổi mới nội dung, PP đào tạo bồi dưỡng GVTH. [16, tr.11]
- Trong đề tài “Tìm hiểu kĩ năng dạy học của giáo viên tiểu học” tác giả
Phạm Minh Hùng đã
phân tích những hạn chế cụ thể trong kĩ năng dạy học của GVTH hiện nay và chỉ ra nguyên nhân dẫn
đến thực trạng này đồng thời yêu cầu phải đổi mới công tác đào tạo bồi dưỡng để tăng cường nghiệp
vụ sư phạm cho người GVTH. [18, tr.30]
- Với bài viết “Người thầy trong nhà trường hiện đại” tác giả
Hoàng Tụy, đã nhấn mạnh vai trò
quyết định nhất đối với hiệu quả giáo dục thuộc về các yếu tố có liên quan trực tiếp tới người thầy. [37]
- Trong “Biện pháp nâng cao chất lượng đào tạo” tác giả Phạm Phi Yên đã quan tâm đánh giá
yếu tố đồng bộ của quản lí, phương pháp giảng dạy, chương trình, CSVC với chất lượng đào tạo và
nhấn mạnh chính quản lí quyết định chất lượng giáo dục. [44]
Ngoài ra còn có các đề tài nghiên cứu của các tác giả Lê Khánh Bằng “Một số phương hướng
đổi mới việc nghiên cứu, học và dạy các khoa học giáo dục góp phần nâng cao chất lượng đào tạo
giáo viên” năm 2006, tác giả Phạm Quang Huân “Nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác bồi
dưỡng giáo viên phổ thông đáp ứng yêu cầu phát triển giáo dục” năm 2006, tác giả Lê Thị Phương
Hồng “Thực trạng và giải pháp đào tạo – bồi dưỡng đội ngũ giáo viên tiểu học, Trung học cơ sở tại
tỉnh Hải Dương”, các tác giả đã đề xuất những biện phá
p rà soát lại đội ngũ, tuyển dụng và điều chỉnh
lại cơ cấu cho cân đối về số lượng, phân công dạy chéo môn để đảm bảo sử dụng hiệu quả đội ngũ hiện
có đồng thời với việc nâng số lượng GV đư
ợc bồi dưỡng đào tạo...
Trong Luận văn tốt nghiệp của học viên Cao học QLGD trường ĐHSP thành phố HCM đã có
nhiều tác giả tập trung nghiên cứu đề tài đào tạo GV như:
“Thực trạng và một số giải pháp về quản lí quá trình đào tạo tại trường Đại học Mở bán công
Các tác giả Tom Peters và Robert Waterman trong “In Search of Excellence
–
Quản lí chất
lượng tổng thể” đã nêu rõ: “Năng suất thông qua con người – Cần đối xử và xem nhân viên như là
nguồn gốc của chất lượng.” [48]
1.2. Cơ sở lí luận của đề tài
1.2.1. Một số khái niệm
* Quản lí: là quá trình tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lí lên
khách thể hay một hệ thống về các mặt chính trị, văn hoá, xã hội, kinh tế và bằng các luật lệ, chính
sách, nguyên tắc, phương pháp cụ thể nhằm tạo ra ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối
tượng, làm thay đổi hiện trạng của đối tượng đó hoặc đưa vào hệ thống đó những thuộc tính mới.
Quản lí là phương tiện c
hỉ huy, điều khiển các quá trình xã hội và hoạt động của con người
nhằm đạt đến mục tiêu đúng ý chí của người quản lí và phù hợp với quy luật khách quan. “Mục tiêu
của mọi nhà quản lí là nhằm hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các
mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất”. [10, tr.29]
“Quản lý là một hoạt động mà mọi tổ chức đều c
ó, nó gồm 5 yếu tố tạo thành là: kế hoạch, tổ
chức, chỉ đạo, điều chỉnh và kiểm soát. Quản lý chính là thực hiện kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo điều
chỉnh và kiểm soát ấy” - Fayel
Quản lý không đơn giản chỉ là khái niệm
, nó là sự kết hợp của 3 phương diện
* Thứ nhất, thông qua tập thể để thúc đẩy tính tích cực của cá nhân.
* Thứ hai, điều hoà quan hệ giữa người với người, giảm mâu thuẫn giữa các bên.
* Thứ ba, tăng cường hợp tác hỗ trợ lẫn nhau, thông qua hỗ trợ để làm được những việc mà một cá
nhân không thể làm được, thông qua hợp tác tạo ra giá trị lớn hơn gi
á trị cá nhân - giá trị tập thể.
* Quản lí giáo dục
Dù có rất nhiều định nghiã về quản lí giáo dục nhưng những định nghiã này đều thống nhất về
mặt bản chất cuả quản lí giáo dục:
- QLGD có 2 thuộc tính chủ yếu là tổ chức kĩ thuật và kinh tế xã hội. Trong mọi lĩnh vực của
cuộc sống khi đã xuất hiện quản lí thì thuộc tính đầu tiên là tổ chức – kĩ thuật. Thuộc tính này thể hiện
phải có một tổ chức để thực hiện công tác quản lí và đòi hỏi phải thường xuyên cải tiến, đổi mới công
việc nhằm nâng cao hiệu quả chất lượng hoạt động trong tổ chức. Thuộc tính kinh tế xã hội thể hiện ở
chỗ QLGD có hiệu quả sẽ đem lại lợi ích cho xã hội.
1.2.
2 Tổng quan về hiệu quả và quản lí hiệu quả
1.2.2.1. Hiệu quả
* Khái niệm: hiệu quả là kết quả mong muốn mà con người chờ đợi và hướng tới; hiệu quả có
nội dung khác nhau ở những lĩnh vực khác
nhau. Trong sản xuất, hiệu quả có nghĩa là hiệu suất, là
năng suất. Trong kinh doanh, hiệu quả là lãi suất, lợi nhuận. Trong lao động nói chung, hiệu quả là
năng suất lao động, được đánh giá bằng số lượng t
hời gian hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm,
hoặc là bằng số lượng sản phẩm được sản xuất ra trong một đơn vị thời gian.
Trong xã hội học, một hiện tượng, một sự việc có hiệu quả xã hội, tức là có tác dụng tích cực
đối với sự phát triển của một lĩnh vực xã hội đó. Hiệu quả là kết quả tối ưu đạt được so với mục tiêu.
Hiệu quả mô
tả các kết quả được thực hiện đích thực và rõ rệt như thế nào so với mục tiêu đề ra.
* Quản lí hiệu quả
"Suy cho cùng, quản lý là thực tiễn. Bản chất của nó không nằm ở nhận thức mà là ở hành
động; kiểm chứng nó không nằm ở sự logic mà ở thành quả; quyền uy duy nhất của nó là thành tích"-
Peter F. Druker
“Quản lý phải được giới hạn bởi môi trường bên ngoài nó. T
heo đó, quản lý bao gồm 3 chức
năng chính là: quản lý tổ chức, quản lý ban điều hành, quản lý công việc và nhân công" - Peter. F.
Dalark.
Quản lý tổ chức phải theo nguyên tắc: "lấy hiệu quả kinh tế thực tế làm nguyên tắc hoạt động,
nhìn tổng thể lấy thành tích làm cốt lõi".
Quản lý công việc thì nhấn mạnh công việc cần có sức sản xuất và phải thông qua những công
tranh cơ bản của một tổ chức. Thực tế cho thấy việc hiểu đúng, đầy đủ khái niệm q
uản lí chất lượng và
mối quan hệ của nó với hoạt động của hệ thống góp phần quan trọng để hoạt động quản lí được triển
khai một cách có hiệu quả.
1.2.3.1. Chất lượng
Theo quan niệm triết học, chất lượng là một phạm trù biểu thị cái bản chất nhất của sự vật mà
nhờ nó, có thể phâ
n biệt vật này với vật khác.
Theo bộ tiêu chuẩn ISO 9000:2000, chất lượng là “Mức độ tập hợp các đặc tính vốn có đáp ứng
các yêu cầu” .
“Chất lượng tốt không nhất thiết là chất lượng cao, nó có nghĩa là mức độ đồng đều ( về hình
thức, về tính chất.. ) và sự tin cậy với giá thành thấp nhưng chất lượng được thị trường chấp nhận.”-
W.E.Deming
Từ những định nghĩa trên ta có thể rút ra một số đặc điểm của khái niệm chất lượng :
Chất lượng được đo bởi sự thỏa m
ãn nhu cầu. Nếu 1 sản phẩm vì 1 lí do nào đó không được
nhu cầu chấp nhận thì phải coi là chất lượng kém cho dù công nghệ chế tạo ra sản phẩm đó có thể rất
hiện đại.
Chất lượng quan tâm đến các yếu tố: đạt được yêu cầu, ổn định và phù hợp, sự tin cậy.
Chất lượng không phải chỉ là thuộc tính của sản phẩm, chất lượng còn áp dụng cho một hệ
thống, một quá trình.
Trong giáo dục, chất lượng là một lĩnh vực rộng bao gồm các tiêu chuẩn, kết quả, quá trình
giảng dạy học tập, sinh hoạt của nhà trường với sự tương hợp giữa mục tiêu chương trình và khả năng
của người học sau khi tốt nghiệp.(Frazer 1992,1994).
Hệ thống chất lượng bao gồm cơ cấu tổ chức, các thủ tục, quá
trình và các nguồn lực cần thiết
để thực hiện quản lí chất lượng.
1.2.3.2. Các mô hình quản lí chất lượng
Với sự tiến bộ của xã hội loài người, công nghiệp và dịch vụ ngày càng phát triển, hàng hóa sản
phẩm luôn được cải thiện luôn là yếu tố sống còn đối với bất kì tổ chức nào. [11, tr.152]
Theo tiêu chuẩn ISO 9000:2005, quản lí chất lượng là “các hoạt động có phối hợp nhằm định
hướng và kiểm soát một tổ chức về mặt chất lượng”. Quản lí chất lượng là quá trình nhằm nâng cao
khả năng đạt được các kết quả, các yêu cầu đã hoạch định trước thông qua việc áp
dụng một cách nhất
quán những phương pháp tiêu chuẩn, thực hiện bởi những người có đủ nhận thức và năng lực, được
cung cấp thông tin, cơ sở vật chất và môi trường làm việc thích hợp.
Mục đích của quản lí chất lượng là “nâng cao sự thỏa mãn của khách hàng, cải tiến liên tục hệ
thống,
bảo đảm sự phù hợp với các yêu cầu của khách hàng và yêu cầu chế định được áp dụng” - ISO
9000:2000
Là một phần của công tác quản lí chung, quản lí chất lượng có mối quan hệ chặt chẽ với các lĩnh
vực quản lí khác của một đơn vị, và việc quản lí tốt các mối quan hệ này giúp nâng cao hiệu quả của
hoạt động quản lí chất lượng. Phần lớn quan hệ giữa quản lí chất lượng và quản lí chung đư
ợc thể hiện
ở ba phương diện chính là quản lí chiến lược, quản lí tác nghiệp và tổ chức. Quản lí chất lượng chỉ có
thể được thực hiện, duy trì và cải tiến một cách có hiệu quả khi ba phương diện này được giải quyết tốt
trong quá trình xây dựng và duy trì hệ thống quản lý chất lượng.
* Chất lượng giáo dục:
Theo cách tiếp cận hệ thống và tổng thể ta thấy giáo dục được tổ chức từ nhiều thành tố vật chất
và tinh t
hần, có thể quan sát và cảm nhận được, đó là nguồn lực người, cơ sở vật chất, các hoạt động,
các mối quan hệ, môi trường hoạt động, kết quả (sản phẩm) được thể hiện trong các lĩnh vực: quản lí
giáo dục, đào tạo sư phạm
, nghiên cứu và thông tin giáo dục, quá trình và hoạt động giáo dục.
Chất lượng giáo dục được toàn xã hội đặc biệt quan tâm vì chất lượng giáo dục có ý nghĩa quyết
định đến chất lượng nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Theo tác giả Đặng Thành Hưng chất lượng giáo dục là “tổng hòa những thuộc tính đặc điểm
bản chất của tất cả những bộ phận t
huộc nền giáo dục nhất định, làm cho nền giáo dục đó có khả năng
trọng tâm cần thực hiện trong đó những giải pháp có liên quan đến công tác đào tạo GV là:
Giải pháp 1: chăm lo v
à đầu tư cho phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ QLGD : xây dựng
chương trình tự học về đổi mới PP dạy, đổi mới kiểm tra, đánh giá cho tất cả GV từ tiểu học đến
THPT. Có chính sách đặc thù để phát triển GV sư phạm và các môn học còn thiếu GV: tiếng Anh, Tin
học, Âm nhạc, Mỹ thuật, tiếng dân tộc, GD quốc phòng – an ninh.
Giải pháp 2: xây dựng đề án chương trình đào tạo the
o nhu cầu xã hội giai đoạn 2008 -2015, tổ
chức các hội thảo quốc gia đào tạo theo nhu cầu xã hội phục vụ các ngành kinh tế trọng điểm, hỗ trợ
đào tạo nhân lực, thành lập trung tâm dự báo nhu cầu GD.
Giải pháp 3: nâng cao hiệu quả hoạt động giáo dục- đào tạo, hiện đại hóa giáo dục với chi phí
thấp, cụ thể là tiếp tục đổi mới PP kiểm tra – đánh giá, khuyến khíc
h tự học, ứng dụng công nghệ thông
tin, đảm bảo chất lượng và hiệu quả với cả người học và người dạy trong một trường, giữa các
trường...
Giải pháp 4: đổi mới cơ chế tài chính của nền giáo dục, thực hiện xã hội hóa mạnh mẽ, tăng
ngân sách cho giáo dục- đào tạo và nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách, triển khai chương trình mục
tiêu quốc gia giáo dục- đào tạo đến năm 2010 gắn với tiêu chí hiệu quả, hỗ trợ đào tạo giáo viên...
Giải pháp 5: thực hiện phân cấp và quản lí theo tiêu chí chất lượng, tiến hành cải cách hành
chính mạnh mẽ, xây dựng và công bố các tiêu chí về chất lượng các loại hình trường học, chất lượng
chương trình đào tạo, chất lượng đội ngũ nhà giáo ở phổ thông, GD chuyên nghiệp và ĐH. Thực hiện
kiểm định, đánh giá c
hất lượng các trường phổ thông, hoàn thiện và ban hành điều lệ nhà trường các
cấp, quy chế tổ chức và hoạt động đối với các loại hình trường.
1.2.4.2 Một số văn bản pháp quy có liên quan đến công tác đào tạo GV
* Thông tư 28/TT-TC (1984), hướng dẫn và
tổ chức hoạt động của trường bồi dưỡng giáo dục
huyện của Bộ giáo dục và đào tạo.
* Văn bản số 16 /ĐTBD (1990), hướng dẫn thực hiện thông tư 28/TT-TC về hoạt động bồi
dưỡng giáo viên của trường ĐTBD huyện của Bộ giáo dục - đào tạo.
1.2.5.2. Đào tạo sư phạm
Đào tạo sư phạm là một loại hình đào tạo nghề, là quá trình được hoạch định có mục đích nhằm
nâng cao kĩ năng thực hành nghề chuyên m
ôn của cá nhân, nó là sự mong muốn của GV hoặc của đôi
bên: cá nhân người GV và tổ chức QLGD. Đào tạo sư phạm là “những quy trình chính quy mà quản lí
ngành giáo dục sử dụng để thúc đẩy học tập sao cho kết quả đạt được góp phần vào việc thực hiện các
mục tiêu và mục đích giáo dục”. (William McGehee, 1979)
Theo Max Foster, đào tạo sư phạm phải tạo điều kiện và thúc đẩy giáo viên thực hiện 4 điều
sau:
1. Dấy lên sự hưởng ứng của những người khác
.
2. Phát triển kiến thức, kĩ năng và thái độ.
3. Tạo nên sự thay đổi trong hành vi.
4. Đạt được những mục tiêu cụ thể.
Chất lượng giáo viên hình thành và biến đổi trong suốt quá trình phát triển của nghề ở các khâu
cơ bản là đào tạo sư phạm ban đầu, đào tạo lại (bồi dưỡng chuyên môn, bồi dưỡng nghề nghiệp, đào
tạo nâng chuẩn), tự bồi dưỡng. Hệ thống đào tạo sư phạm có
trách nhiệm chủ yếu về chất lượng giáo
viên ở 2 khâu: đào tạo ban đầu và đào tạo lại.
+ Đào tạo sư phạm ban đầu tạo ra chất lượng nền của giáo viên, còn gọi là chất lượng xuất
phát trong quá trình phát triển nghề nghiệp của GV. Đào
tạo sư phạm ban đầu trang bị cho GV những
kiến thức vừa cơ bản vừa chuyên sâu, thời gian đào tạo dài.
Ngoài việc hình thành chất lượng nền, đào tạo ban đầu còn chi phối mạnh mẽ chất lượng hoạt
động nghề nghiệp lâu dài của giáo viên, chất lượng và hiệu quả của hoạt động bồi dưỡng thường
xuyên, bồi dưỡng đáp ứng chương trình mới, bồi dưỡng chuẩn hóa nghề nghiệp và thậm ch
í cả năng
lực và khả năng tự bồi dưỡng của họ nữa.
+ Đào tạo lại (bồi dưỡng): đây là quá trình đào tạo tiếp tục nhằm đổi mới, nâng cao chất lượng
kĩ năng nghề, trang bị thêm những kiến thức mới, cập nhật với thực tiễn, tạo nên những thay đổi ở chất
bồi dưỡng cho tất cả GV tiểu học trên cả nước (giáo dục môi trường,
giáo dục an toàn giao thông,
phòng chống dịch bệnh, giáo dục hòa nhập…), có những chuyên đề tổ chức bồi dưỡng cho 1 bộ phận
GVTH hoặc ở một số địa phương, cơ sở giáo dục (dạy tiếng dâ
n tộc cho HS người dân tộc, dạy lớp
ghép ở những địa phương có nhu cầu...) Phương thức bồi dưỡng là tổ chức hội thảo nghe báo cáo, trao
đổi kinh nghiệm.
- Bồi dưỡng chuẩn hóa và bồi dưỡng trên chuẩn
Để đáp ứng việc mở rộng quy mô giáo dục và yêu cầu phổ cập, ngà
nh giáo dục đã mở nhiều lớp
đào tạo cấp tốc GVTH, thỏa mãn nhu cầu học tập của trẻ em khắp mọi miền đất nước. Đây chính là
nguồn gốc ra đời của thế hệ GV sư phạm cấp tốc 7+1 (tháng), 7+3, 9+3... Số GV này tuy trình độ, năng
lực còn yếu nhưng có nhiều yếu tố phù hợp để thực hiện việc quản lí và dạy học sinh biết đọc và viết
tiếng Việt. Đến nay việc phát triển giáo dục tiểu học đã đi vào ổn định, tình t
rạng thiếu GVTH cơ bản
đã được khắc phục, thực tiễn mới đòi hỏi phải thống nhất trên cả nước về chuẩn năng lực nghề nghiệp
của GVTH, bắt đầu giai đoạn chuyển từ quản lí số lượng sang quản lí chất lượng đối với đội ngũ
GVTH.
- Những GVTH có trình độ ban đầu là SP cấp tốc, 9+3, 12+
1... lần lượt được tham gia học các
lớp nâng chuẩn cho đến hệ đào tạo trung học sư phạm 12+2. Quá trình đào tạo này được gọi tên chung
là bồi dưỡng chuẩn hóa.
- Từ những năm 90 của thế kỉ XX, xuất hiện các hệ cao đẳng SP, Đại học SP tuyển HS tốt
nghiệp phổ thông đào tạo thành GVTH, đồng thời những GVTH có trình độ trung học sư phạm tiếp tục
tham gia các khóa đào tạo lên CĐSP, Cử nhân Tiểu học, một bộ phận GVTH ưu tú đã được cử đi đào
tạo Thạc sĩ... Quá trình đào tạo này được gọi tên chung là bồi dưỡng trên chuẩn. Chương trình đào tạo
trên chuẩn thực hiện nhiệm vụ “nâng dần tỉ lệ G
VTH có trình độ cao đẳng sư phạm, đại học sư phạm”
tạo ra đội ngũ GVTH có nhiều trình độ, trong đó mỗi tập thể SP có những GV trên chuẩn chung, làm
nòng cốt nâng cao chất lượng dạy học. [22, tr.33]
uan
niệm mới này có thể diễn đạt bằng phương trình CQ + PQ > IQ: sự hiếu học cộng lòng đam mê quan
trọng hơn trí thông minh. [31]
Về sinh học, mỗi bán cầu não người điều khiển một chuỗi hoạt động tư duy khác nhau, việc tập
trung rèn luyện để phát huy sức mạnh của bán cầu não nào là rất quan trọng và liên quan đến mục tiêu
dạy học. Daniel Pink, (nhà báo Mỹ, tác giả cuốn New York times, BusinessWeek bestseller 2007) đã
viết:
“Mãi gần đây, bán cầu não trái vẫn còn chi phối khả năng thành công trong học tập, công việc
hay kinh doanh. Ngày nay năng lực đó vẫn cần thiết song không còn đủ nữa.
Trong một thế giới bị đảo lộn bởi việc cho t
huê làm bên ngoài, tràn ngập thông tin và đầy rẫy
các lựa chọn thì những khả năng quan trọng nhất gần với bán cầu não phải hơn. Đó là khả năng cảm
thụ nghệ thuật, biết cảm thông, có tầm nhìn và khát vọng lớn. Để thành công cần bổ sung khả năng suy
tưởng cao và sự mẫn cảm cao, nghĩa là tạo ra các vẻ đẹp thẩm mỹ và xúc cảm.”
Kết luận này cũng phù hợp với xu hướng giáo dục hiện nay, các nhà trường phổ thông hiện đại
không c
hỉ chú ý rèn luyện khả năng tư duy, phân tích logic mà còn rất quan tâm đến việc hình thành
khả năng suy tưởng, cảm xúc thẩm mỹ cho HS.
Những trọng tâm này chưa được nhà trường truyền thống trước đây đề cập tới và trang bị cho
GV cũng như HS. Tiến bộ xã hội đang gâ
y sức ép buộc hệ thống giáo dục nước ta phải có những thay
đổi khẩn trương để có thể cung cấp cho xã hội những con người phù hợp với yêu cầu của xã hội hiện
đại.
1.2.6.2. Cơ hội học tập của người học thay đổi
Trẻ em là đối tượng giáo dục của người GVTH cũng đang thay đổi cùng với thế giới xung
quanh. Trước đây cơ hội học tập của trẻ hầu hết không xảy ra tr
ong trường học mà chủ yếu từ quan sát
thực tế và bắt chước người lớn, tri thức và kĩ năng thu được qua quan sát và quá trình tương tác. Việc
học tập chủ yếu thông qua phạm sai lầm, trẻ quan sát cách làm và tự sửa các sai lầm.
Học sinh trong thời đại hiện nay làm quen và nắm được ngay các thao tác phức tạp của công
học tập.
Giáo dục trở thành tư duy mới trong “sự chuyển đổi từ thời đại thông tin s
ang thời đại khái
niệm” (Daniel Pink), vai trò tổ chức và điều khiển của người GV càng rõ nét hơn, càng khó khăn hơn,
nhất là GV dạy tiểu học.
Giáo dục tiểu học phải nâng đỡ trẻ em phát triển thuận lợi về thể chất, tinh thần đồng thời phải
ngăn chặn những khó khăn nảy sinh trong quá trình nhận thức của trẻ, nhất là tăng cường hỗ trợ trẻ
phát triển ý thức lành mạnh về l
òng tự trọng thông qua các bài học đạo đức. Thế giới kinh nghiệm của
trẻ phải được làm giàu, khi trẻ tự mình khám phá và bộc lộ kĩ năng cá nhân ở các lĩnh vực quan tâm
mới khác (new areas of interest).
Người GVTH phải dạy cách học để trẻ có khả năng tự nhận biết điều đúng sai để các hành động
ứng xử có trách nhiệm của trẻ sẽ biểu hiện nhiều hơn, hướng dẫn trẻ thực hiện các quy tắc cùng tồn tại
(rules of co- existence) và cam kết thực hiện các quy tắc đó. Dạy trẻ tiếp thu những chuẩn mực của xã
hội, hiểu được ý nghĩa của các chuẩn mực này như là một phần trong c
uộc sống hàng ngày. Trẻ phải
được dạy cách kiểm soát bản thân tốt hơn và cách thức ứng phó với các tình huống, trẻ phải đư
ợc
hướng dẫn để hiểu được giá trị bình đẳng và cách giữ gìn sức khỏe tùy theo từng độ tuổi.
Người GVTH phải tổ chức cho trẻ em hình thành kĩ năng tự khám phá, với các sự kiện và hiện
tượng gắn liền với môi trường sống của trẻ. Các bài thực hành và các hoạt động phải dựa trên khả năng
tiếp thu của trẻ, phải hướng và
o mục đích cụ thể và mang tính thử thách. Người GVTH phải đặt hoạt
động giảng dạy trẻ tiểu học trên cơ sở những hoạt động vui chơi và phải nhằm nâng đỡ khả năng ngôn
ngữ và thúc đẩy sự phát triển tiềm năng của trẻ.
Những yêu cầu mới về GD tiểu học cho thấy để thực hiện đầy đủ trách nhiệm, người GV dạy
tiểu học phải thực sự là một nhà giáo có kĩ năng ưu việt về khoa học giáo dục và tâm lí sư phạm. Giáo
dục trẻ ở tuổi tiểu học là giúp hình thành một con người. Những gì có được ở lứa tuổi này sẽ đặt nền
tảng cho toàn bộ sự phát triển về sau vì:
- Đây là thời kì hình thành về thể chất của một chủ thể. Mục tiêu phát triển con người bắt đầu từ
- Năng lực kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục.
- Năng lực hoạt động xã hội.
- Năng lực giải quyết những vấn đề nảy sinh trong t
hực tiễn giáo dục.
- Năng lực phát triển nghề nghiệp.
Để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của giáo dục, ngoài những năng lực thiết yếu trên, người
GVTH còn phải được đào tạo để có những kĩ năng mới:
Kĩ năng quản lí và tổ chức các hoạt động GD, giao tiếp và quản lí các dự án.
Kĩ năng sử dụng thành thạo kĩ thuật thông tin mới như Internet, giảng dạy bằng phương tiện
công nghệ thông tin, thiết kế giáo án bằng phần mềm điện tử.
Kĩ năng tiếp cận với các PP mới trong các lĩnh vực đặc biệt của việc giảng dạy như đánh giá
hồ sơ, giảng dạy dựa trên vấn đề...
Kĩ năng tiếp xúc và làm
quen với môi trường GD mới, với các tổ chức và dự án, các thuật ngữ
và cách làm việc mới trong đó việc đánh giá GV, hệ thống kiểm tra, đảm bảo chất lượng, tự chủ và tính
chịu trách nhiệm sẽ trở thành những khái niệm và hoạt động thường xuyên. [4]
Những thay đổi trên tạo ra khoảng cách giữa thực tiễn và nội dung đào tạo sư phạm đã tr
ang bị
trước đây cho người GV. Để thu hẹp sự khác biệt ấy, công tác đào tạo bồi dưỡng giáo viên phải thực
hiện việc cải thiện nguồn lực GVTH ngay từ điểm gốc, đó là trình độ nghiệp vụ của người thầy.
1.2.7. Quy trình và hệ thống quản lí nghiệp vụ đào tạo giáo viên tiểu học
1.2.
7.1.Khái niệm
- Theo từ điển bách khoa toàn thư, quy trình quản lí là “quá trình hoạt động của các chủ thể
quản lí tập hợp thành một cơ chế được quy định theo một trình tự lôgic, nhằm đạt được những mục
tiêu quản lí đã được đề ra bằng cách thực hiện những chức năng quản lí nhất định, tuân thủ theo
những nguyên tắc quản lí và vận dụng những phương pháp quản lí thích hợp. H
oạt động này có kế
hoạch vĩ mô (các quá trình giữa tất cả các cơ quan quản lí hay giữa những nhóm cơ quan quản lí) và
kế hoạch vi mô (các quá trình trong nội bộ cơ quan quản lí, ở từng nơi làm việc...). Quy trình quản lí
hệ thống quy trình đào tạo, gồm những nguyên tắc cơ bản sau:
Nguyên tắc 1: đào tạo hướng vào người học, xã hội và Nhà nước- những chủ thể đề ra yêu cầu,
thẩm định và đánh giá
chất lượng, nghiệm thu sản phẩm đào tạo. Sự phát triển của giáo dục-đào tạo và
chất lượng giáo dục tổng thể phụ thuộc vào những nhân tố này, đặc biệt là nhu cầu của người học, xã
hội và Chính phủ – là lực lượng chính thức đại diện cho lợi ích của nhâ
n dân.
Nguyên tắc 2: thiết lập tính thống nhất về mục đích và phương hướng của công tác đào tạo, kiến
tạo và duy trì môi trường bên trong thuận lợi cho lãnh đạo nhà trường tiểu học (Hiệu trưởng, Phó hiệu
trưởng, các tổ trưởng chuyên môn
)
và giáo viên có thể tham gia đầy đủ vào quá trình đào tạo.
Nguyên tắc 3: các hoạt động và các nguồn lực của công tác đào tạo được quản lí như một quá
trình để có thể nhìn nhận và giám sát, điều hành và đánh giá chúng thường xuyên, linh hoạt, phân tích
và sử dụng chúng một cách biện chứng.
Nguyên tắc 4: tiếp cận hệ thống để tiến hành quản lí. Cách tiếp cận hệ thống đòi hỏi phải quản lí
chất lượng tổng thể công tác đào
tạo, không thể chỉ quản lí riêng lẻ một bộ phận hay thành tố nào.
Nguyên tắc 5: Cải thiện thường xuyên hoạt động giảng dạy và học tập, các quá trình quản lí
công tác đào tạo, các nguồn lực cơ bản để hướng đến chất lượng mới cao hơn.
Nguyên tắc
6
:
quan hệ cung ứng cùng có lợi, quan hệ lợi ích qua lại sẽ nâng cao năng lực tạo ra
giá trị của cả hai bên. Trong phạm vi công tác đào tạo, đó là quan hệ giữa giáo dục-nhà trường-người
học-xã hội. Điều này càng đặc biệt quan trọng trong điều kiện kinh tế thị trường, vì nó là động lực chủ
yếu của quá trình quản lí chất lượng giáo dục và phát triển giáo dục
.