MỤC LỤC
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
LỜI MỞ ĐẦU
Công ty cổ phần vận tải và dịch vụ T&S hoạt động trong ba lĩnh vực là dịch vụ
vận tải; phân phối dầu Shell; và bán, bảo hành bảo dưỡng các sản phẩm ô tô. Một
trong ba sản phẩm mà công ty phân phối là sản phẩm mang ô tô mang thương hiệu
Isuzu Nhật Bản.
Trong bối cảnh mở cửa hội nhập khi Việt Nam gia nhập WTO, sự cạnh tranh
gay gắt trên thị trường nói chung và thị trường ô tô nói riêng, buộc các doanh
nghiệp kinh doanh ô tô Việt Nam phải thay đổi tư duy kinh doanh, phải thường
xuyên tiếp thu học hỏi các tư tưởng, lý thuyết về Marketing, lập kế hoạch
Marketing là một trong những công việc của người làm Marketing mà không phải
công ty nào cũng biết và triển khai một cách bài bản.
Để kinh doanh, để cạnh tranh, công ty cần có hiểu biết, phân tích đầy đủ về thị
trường, về doanh nghiệp, đối thủ cạnh tranh… đưa ra chiến lược rõ ràng, những
mục tiêu cụ thể và những chính sách hợp lý, chuẩn bị sẵn sàng để phản ứng với
những thay đổi bất ngờ trong kinh doanh.
Muốn làm được như vậy, các doanh nghiệp cần lập ra một bản kế hoạch
Marketing hoàn thiện và hợp lý .
Với mong muốn củng cố, áp dụng những lý thuyết Marketing để giúp doanh
nghiệp đạt được những mục tiêu bán hàng đề ra, em xin thực hiện đề tài “ Lập kế
hoạch Marketing cho việc bán ô tô Isuzu của Công ty Cổ phần Vận tải và Dịch vụ
T&S trong 6 tháng cuối năm 2012”.
Mục tiêu nghiên cứu : Xây dựng một bản kế hoạch Marketing cho việc bán sản
phẩm ô tô Isuzu của Công ty Cổ phần Vận tải và Dịch vụ T&S trong 6 tháng cuối
năm 2012.
Phương pháp nghiên cứu : bản kế hoạch marketing này được dựa trên những
nền tảng lý thuyết về xây dựng kế hoạch và các tài liệu tham khảo khác. Thu thập
dữ liệu sơ cấp bằng phương pháp phỏng vấn cá nhân chuyen sâu.
Phần 2. Phân tích hiện trạng kinh doanh
A. PHÂN TÍCH HIỆN TRẠNG NGÀNH KINH DOANH
1. Xác đinh phạm vi ngành và lĩnh vực kinh doanh của công ty.
Đại lý Isuzu T&S là đại lý chính thức phân phối các sản phẩm ô tô của Công
ty TNHH ô tô Isuzu Việt Nam.
2. Lịch sử ngành sản xuất, kinh doanh ô tô
Để có được một ngành công nghiệp ô tô phát triển rực rỡ như ngày nay, ngành
công nghiệp này đã trải qua một thời gian hình thành và phát triển.
Năm 1887, chiếc ôtô đầu tiên ra đời do nhà bác học người Đức Nicolai Oto
chế tạo và lắp ráp với động cơ 4 kỳ.
Sau đó, các nhà bác học khác đã không ngừng nghiên cứu cải tiến ôtô về cả
hình thức và chất lượng : từ những chiếc ô tô thủa ban đầu thô sơ, cồng kềnh thành
những chiếc xe nhỏ gọn và sang trọng hơn. Với những ưu điểm nổi trội, ô tô đã trở
thành một phương tiện đi lại , vận chuyển không thể thiếu của người dân, đặc biệt là
người dân những quốc gia phát triển. Ngành công nghiệp ôtô trở thành ngành kinh
tế mũi nhọn của các quốc gia này.
Quá trình phát triển của ngành công nghiệp ô tô thế giới có thể chia thành 3
giai đoạn.
Giai đoạn trước năm 1945: Nền công nghiệp ô tô thế giới tập trung chủ yếu tại
Mỹ, sản lượng công nghiệp ô tô ở Tây Âu và Nhât Bản rất thấp.
Giai đoạn 1945-1960 : Sản lượng công nghiệp ô tô của Nhật Bản và Tây Âu
tăng mạnh song còn nhỏ bé so với Mỹ. Theo lịch sử ngành công nghiệp ô tô, những
năm đầu của thế kỉ 20, trên toàn thế giới có 621 nhà máy sản xuất ô tô trong đó có
215 ở Mỹ, 112 ở Vương quốc Anh, 167 ở Pháp, 35 ở Đức, 11 ở Italy và 11 ở các
nước khác.
Giai đoạn từ năm 1960 đến nay : Nền công nghiệp sản xuất ô tô của Nhật Bản
đã vươn lên mạnh mẽ và chiếm vị trí thứ nhất trong ngành công nghiệp to lớn
nay.Nhật đã trở thành đối thủ số 1 của Mỹ và Tây Âu trong ngành công nghiệp ô tô.
Ngành công nghiệp ô tô của Nhật có khả năng cạnh tranh rất lớn,để sản xuất một
Xu hướng hiện tại của ngành công nghiệp ô tô thế giới là giảm bớt số lượng
các tập đoàn ô tô đa quốc gia bằng việc sát nhập vào với nhau nhằm thu được hiệu
quả cao nhất. Xu hướng này sẽ làm tăng tính tập trung trong ngành công nghiệp ô
tô, và xu hướng này cũng đang và sẽ diễn ra đối với các hãng sản xuất phụ tùng,
phụ kiện ô tô.
Ngoài việc củng cố hoạt động thông qua sát nhập và mua lại cổ phiếu của
nhau, các hãng sản xuất ô tô thế giới cũng đồng thời thiết lập các đối tác chiến lược
quốc tế về thị phần.
Ngành công nghiệp ô tô Việt Nam ra đời rất lâu sau ngành công nghiệp ô tô
thế giới ( năm 1954 so với thế giới 1887), cùng với các điều kiện tiền đề kém phát
triển, cho tới nay, ngành công nghiệp ô tô Việt Nam còn rất lạc hậu và vẫn chưa tìm
ra lối đi đúng đắn cho mình. Về đường hướng phát triển, thay vì việc tham gia vào
quá trình phân công lao động quốc tế trong ngành sản xuất ô tô, Chính phủ đưa ra
phương hướng phát triển sản phẩm ô tô mang thương hiệu “made in Việt Nam”
trong khi chưa có đủ điều kiện cần , lịch trình bài bản và sự đầu tư còn quá nhỏ,
điều này đã đưa ngành công nghiệp ô tô Việt Nam tới chỗ khó khăn khi tìm ra lối
thoát.
Ở góc độ lắp ráp và sản xuất, bao gồm cả công nghiệp phụ trợ, công nghiệp ô
tô Việt Nam nhìn chung vẫn gói gọn trong gò, hàn, sơn, lắp rắp ở quy mô hết sức
khiêm tốn. Có những doanh nghiệp đầu tư mạnh mẽ ở quy mô, thiết bị hiện đại như
Thaco Trường Hải, Vinaxuki, Hyundai Thành Công nhưng nếu so sánh với các
nước thì còn quá nhỏ bé.
Sau nhiều năm vật lộn, một số doanh nghiệp ô tô Việt Nam đã thay đổi nhận
thức về đường hướng phát triển. Họ không còn tham vọng sở hữu một chiếc xe hơi
mang thương hiệu Việt Nam mà tập trung định hướng vào một vài khâu then chốt
trong trong việc sản xuất ra một chiếc xe hơi thành phẩm. Định hướng phát triền
này có thể đang mâu thuẫn với định hướng đặt ra của cơ quan hữu trách nhưng theo
họ là phương hướng đúng đắn mà họ cần theo đuổi.
- Về sản phẩm
ô tô do dân số đông và mật độ xe ít, đồng thời chất lượng cuộc sống được dự báo là
tăng lên do tốc dộ tăng trưởng kinh tế vượt bậc trong tương lai.
3. Phân tích xu hướng tiêu dùng của khách hàng trong ngành kinh doanh ô
tô Việt Nam
a. Nhu cầu tiêu dùng ô tô tại Việt Nam
Cùng với sự phát triển kinh tế của Việt Nam và sự cải thiện cơ sở hạ tầng giao
thông đường bộ, nhu cầu của người dân Việt Nam về xe ô tô phục vụ đi lại và sản
xuất ngày một nhiều.
Theo số liệu của Bộ Công an thì tính đến hết năm 2010, trên cả nước có 1,63
triệu ô tô đang lưu hành.
Nhu cầu về xe ô tô của người dân Việt Nam tăng nhanh kể từ năm 2007. Các
mức số lượng xe tiêu thụ trong 3 năm 2007, 2008, 2009 như sau: năm 2007 có
80.393 xe ô tô các loại được bán ra,năm 2008 có 110.118 xe được tiêu thụ và năm
2009 đạt kỉ lục với 119.460 xe.
Tuy nhiên sang những năm 2010 và 2011 nhu cầu tiêu thụ xe ô tô của người
dân Việt Nam có xu hướng giảm nhẹ với thống kê sau :
Loại xe Năm 2010 Năm 2011 Tăng/giảm
Xe du lịch 33.467 40.858 22%
Xe đa dụng 24.309 22.956 -6%
Xe thương
mại
54.446 46.206 -15%
Tổng cộng 112.224 110.938 -1%
(Các số liệu theo hiệp hội các nhà sản xuất ô tô việt nam VAMA )
b. Ngân sách tiêu dùng của mỗi khách hàng.
Ô tô là mặt hàng tiêu dùng có giá trị cao vì vậy để có thể sở hữu cho mình một
chiếc xe ô tô riêng thì khách hàng phải chi ra một khoản tiền rất lớn và thông
thường họ chỉ sử dụng một chiếc xe ô tô duy nhất. Do đó lượng giá trị của chiếc xe
tương đương với khoản ngân sách mà người tiêu dùng chi ra để sử dụng chiếc xe
cơ
Hộp
số
Công
suất
(mã
lực)
Mô-
men
(Nm)
Giá bán
(VNĐ)
Toyota Camry 2.4G
CKD
2.4L/I4
5AT
165
1,093,000,000
Toyota Camry 3.5Q
CKD
3.5L/V6
6AT
273,5
1,507,000,000
Toyota Corolla Altis 1.8 CVT
CKD
1.8L/I4
CVT
1,028,000,00
- Các loại xe hạng thường như Kia new morning, Deawoo Matiz, hay
Chevrolet Spark … Để có thể mua những chiếc xe nào người tiêu dùng bỏ ra mức
giá thấp hơn các loại ô tô khác khi họ cần bỏ ra số tiền từ 200 triệu đồng đến 500
triệu đồng.
- Các loại xe tải, xe bán tải như Isuzu, Hino,Mitshubisi…để sở hữu các loại xe
này khách hàng phải bỏ ra số tiền từ hơn 400 triệu đến hơn 1 tỷ đồng tùy từng xe
tải, bán tải các loại trên một chiếc xe. Tuy nhiên, xe tải là dòng xe thương mại dùng
trong các công ty nên số lượng mua thường lớn hơn 1 chiếc nên ngân sách bỏ ra
nhiều hơn.
Giá của một số loại xe Isuzu :
D-Max : SC 4x4 MT : 729.300.000 VND
LS 4x4 MT : 621.500.000 VND
Q- series : QKR55F : 429.000.000 VND
QKR55H : 474.100.000 VND
F – series : FVR34L : 1.353.000.000 VND
FVR 34T : 1.806.200.000 VND
c. Tiềm năng phát triển
So sánh giữa tổng số xe ô tô lưu hành tại thị trường Việt Nam năm 2011(hơn
1.7 triệu xe)và dân số Việt Nam năm 2011 (gần 88 triệu người) ta thấy số lượng ô tô
còn quá thấp và thị trường tiêu thụ ô tô Việt Nam còn rất nhiều tiềm năng.
4. Các đặc thù của ngành sản xuất và kinh doanh ô tô
a. Các mô hình phân phối hiện tại trong ngành.
Do đặc tính của sản phẩm mang giá trị cao, cần thiết phải được hưởng các
dịch vụ chăm sóc khách hàng sau bán hàng khá thường xuyên như bão dưỡng, sữa
chữa. Chính vì vậy, ngành công nghiệp ô tô ngay từ khi ra đời đã chọn cách tiêu thụ
sản phẩm thông qua đại lý chứ không bán hàng trực tiếp. Tất cả các giao dịch với
khách hàng đều thực hiện thông qua đại lý.
giữa khoang chở người và khoang chở hàng trong đó đối tượng được miễn thuế là
xe ô tô chuyên dụng bao gồm các loại xe cứu thương, xe chở phạm nhân, xe tang lễ,
xe thiết kế vừa có chỗ ngồi vừa có chỗ đứng chở được từ 24 người trở lên, xe ôtô
chạy trong khu vui chơi giải trí, thể thao không đăng kí lưu hành và không tham gia
giao thông.
Thuế suất áp dụng như sau :
Đối với xe dưới 9 chỗ dung tích dưới 2,0 lít thuế suất 45%, từ 2,0 đến 3,0 lít
thuế suất 50%, những dòng xe trên 3 lít thuế suất 60%.
Đối với xe ô tô chở người từ 10 đến 16 chỗ thuế suất 30 % , 16 đến 24 chỗ
thuế suất 15%, xe ô tô vừa chở người va chở hàng dưới 24 chỗ thuế suất 15%.
- Luật thuế giá trị gia tăng.
Theo thông tư 32/2007/TT-BTC của Bộ Tài chính các loại ô tô thuộc dạng
chịu thuế tiêu thụ đặc biệt kể trên sẽ không phải chịu thuế giá trị gia tăng, còn các
loại ô tô không phải chịu thuế tiêu thụ đặc biệt như ô tô tải và ô tô khách thì phải
chịu thuế giá trị gia tăng với thuế suất 10%.
- Phí trước bạ
Phí trước bạ ô tô là một khoản tiền mà người có ô tô phải nộp để đăng kí
quyền sở hữu ô tô đó. Lệ phí trước bạ ô tô được mỗi tỉnh thành phố quy định khác
nhau với mức trần là 20% giá trị xe theo quy định tại Ngị định số45/20111?NĐ-CP
ngày 17/6/2011 của chính phủ.
- Phí đăng kiểm
Khi sử dụng ô tô, khách hàng phải tiến hành đăng kiểm định kỳ để xem xe có
đủ điều kiện lưu hành hay không, và phí đăng kiểm là lệ phí mà người sở hữu ô tô
phải trả cho cho mỗi lần đi đăng kiểm. Thông thường xe mới mua sau 30 tháng phải
đi đăng kiểm lần thứ nhất, còn sau đó cách 18 tháng phải đi đăng kiểm các lần tiếp
theo, xe càng cũ người sử dụng càng phải thường xuyên tiến hành đăng kiểm hơn.
- Phí đăng kí biển số
Khi đăng kí xe ô tô , ngoài phí trước bạ, người chủ sở hữu xe phải trả thêm
một khoản tiền rất lớn nữa để đăng kí biển số xe, mức tiền phải đóng giao động từ 2
, Triển lãm Ô tô Việt Nam 2011 trưng bày gần 60 mẫu
xe mới, các mẫu xe ý tưởng và các sản phẩm phụ tùng, phụ kiện đa dạng của các
công ty sản xuất, các hãng phân phối chính hãng trong và ngoài nước. Ngoài ra,
Triển lãm còn có sự góp mặt của một số sản phẩm xe máy ấn tượng của Motor
Sport.
Dễ dàng nhận thấy, hầu hết các mẫu xe đang được ưa chuộng trên thị trường
của các thành viên VAMA đều có mặt tại Triển lãm. Từ những mẫu xe gia đình và
đa dụng tiện nghi như: Fortuner, Corolla Atis, Land Cruiser Spark của Toyota;
Chevrolet Cruze, Chevrolet Lacetti của GM Việt Nam; dòng xe E-class 2012,
S500, C-class 2012 phiên bản mới 2012 của Mercedes đến những mẫu xe
chuyên dụng, xe khách đã khiến người tiêu dùng nội địa có sự lựa chọn phong
phú hơn như: dòng xe SPINTER của Mercedes; xe khách, xe giường nằm, xe hút
cống của SAMCO.
Đặc biệt, tại Triển lãm cũng những mẫu xe mới lần đầu tiên giới thiệu tại Việt
Nam như chiếc siêu xe Transformer trứ danh Camaro của GM, dòng Jazz và City
nhỏ gọn của Honda, hay chiếc Concept thể thao FT-86G Sport của Toyota. Cùng
với đó, Mercedes Việt Nam lần đầu tung ra 2 dòng xe mới là SLK350-2012 và
CLS350-2012.
Điều khác biệt so với các triển lãm trước là tại Triển lãm lần này, từng hãng
riêng lẻ có buổi giới thiệu riêng về những sản phẩm đặc biệt và mới của mình, tạo
nên sự hấp dẫn và cạnh tranh. Các chương trình khuyến mại, giải trí phong phú
cũng được liên tục diễn ra trong suốt thời gian Triển lãm.
Triển lãm Ô tô Việt Nam 2012 là sự khẳng định những nỗ lực của Hiệp hội các
nhà sản xuất ô tô Việt Nam với thị trường và người tiêu dùng, là chất xúc tác quan
trọng cho sự phát triển của thị trường ô tô Việt Nam hiện nay.
- Tổ chức các lễ ra mắt với sự góp mặt của các nhà báo nhằm truyền thông về
sự ra mắt thị trường một sản phẩm hoặc dòng sản phẩm. Các nhà báo sẽ đăng tin ra
mắt sản phẩm đó trên các trang báo của tòa soạn báo của họ,
- Tổ chức các buổi trưng bày sản phẩm có được phép chạy thử cho tất cả
góp rất lớn vào sự phát triển kinh tế của các quốc gia này.
Tuy nhiên tại Việt Nam, ngành công nghiệp sản xuất và kinh doanh ô tô chưa
mang lại nhiều lợi nhuận. Các đánh giá cao về lợi nhuận thường được rơi vào các
nhóm ngành như ngành kinh doanh bất động sản, ngành kinh doanh ngân hàng,
ngành kinh doanh sữa hay ngành kinh doanh bánh kẹo…Hiện tại với ngành công
nghiệp sản xuất và kinh doanh ô tô Việt Nam vẫn chưa hoàn chỉnh, còn gặp nhiều
khó khăn trong đường hướng phát triển, công nghệ sản xuất, nhân lực , đầu tư tài
chính trong ngành, nên ngành chưa mang lại nhiều lợi nhuận.Tuy vậy trong tương
lai, nếu ngành công nghiệp sản xuất và kinh doanh ô tô Việt Nam trở nên hoàn
chỉnh với các tiền đề cho sự phát triển, ngành công nghiệp này hứa hẹn sẽ mang lại
mức lợi nhuận cao cho các nhà đầu tư.
B. PHÂN TÍCH HIỆN TRẠNG ĐẠI LÝ ISUZU T&S
1. Lịch sử phát triển ( những nét chính trong những năm tài chính vừa
qua)
Đại lý Isuzu T&S là đại lý phân phối chính thức các sản phẩm ô tô của Công
ty TNHH ô tô Isuzu Việt Nam. Đại lý Isuzu T&S thuộc Công ty Cổ phần Vận tải và
Dịch vụ T&S.
Sơ đồ 2 : Mối quan hệ giữa đại lý Isuzu và CT Cổ phần Vận tải và Dịch vụ T&S
Đại lý ô tô Isuzu T&S có 8 nhân viên trong đó có 1 phó phòng kinh doanh, 1
nhân viên văn phòng, 1 nhân viên lễ tân và 5 nhân viên bán hàng.Số lượng nhân
viên bán hàng hiện nay không tăng so với khi đại lý mới thành lập.
Bảng 3 : Kết quả kinh doanh của công ty trong một vài năm vừa qua của
Đại lý Isuzu T&S .
Đơn vị .đồng
Stt Danh mục 2008 2009 2010
1 Tổng tài sản 20.650.091.392 38.320.534.209 38.626.376.583
2 Doanh thu 235.960.107.485 187.532.607.965 209.320.895.711
3 Lợi nhuận trước thuế 4.264.037.923 3.472.140.464 2.804.322.912
4 Lợi nhuận sau thuế 3.159.652.101 2.855.853.383 2.078.117.184
trong thị trường kinh doanh ô tô khu vực miền Bắc nói riêng và toàn quốc nói
chung, và hiện tại đại lý vẫn chưa có chiến lược hay chính sách gì trong việc xây
dựng hình ảnh và danh tiếng của công ty trên thị trường kinh doanh ô tô.
5. Năng lực phát triển của công ty.
a. Điểm mạnh.
Đại lý ô tô Isuzu T&S là một nhánh của Công ty Cổ phần Vận tải và Dịch vụ
T&S với các hoạt động kinh doanh có mối quan hệ với ngành kinh doanh ô tô nên
Đại lý có các thế mạnh sau:
- Có sự hậu thuẫn về mặt tài chính của công ty trong các trường hợp cần đầu
tư hay trường hợp đại lý gặp khó khăn.
- Đại lý Isuzu T&S cùng với đại lý Suzuki T&S và Trung tâm dịch vụ ủy
quyền Samco đều kinh doanh trong lĩnh vực ô tô nên ban lãnh đạo công ty có được
kinh nghiệm và sự hiểu biết rộng hơn trong lĩnh vực kinh doanh ô tô.
- Một hoạt động kinh doanh khác của công ty cổ phần vận tải và dịch vụ T&S
là kinh doanh dịch vụ vận tải hàng hóa bằng xe tải do đó đại lý Isuzu T&S có thể dễ
dàng hơn trong việc nắm bắt tâm tư của khách hàng và yêu cầu của họ trong việc sử
dụng xe để có sự am hiểu hơn về khách hàng.
- Trung tâm dịch vụ của công ty bao gồm dịch vụ cho hãng Suzuki, Samco và
Isuzu nên công ty có một đội ngũ kỹ thuật viên nhiều, có thể giúp khách hàn Isuzu
khi muốn bảo hành, sữa chữa xe có thể rút ngắn thời gian hơn thay vì phải chờ đợi.
b. Điểm yếu
Hiện tại quy mô hoạt động của đại lý còn nhỏ, đội ngũ nhân viên bán hàng
không được đào tạo bài bản chuyên nghiệp, chủ yếu bán hàng dựa trên mối quan hệ.
Bên cạnh đó, ban lãnh đạo công ty không có kế hoạch chiến lược rõ ràng và lâu dài
trong hoạt động kinh doanh của đại lý.
Ngoài ra, Đại lý Isuzu T&S vẫn chưa xây dựng được hình ảnh và danh tiếng
của mình trên thị trường kinh doanh ô tô cũng như chưa có chiến lược định vị nào
để xây dựng hình ảnh cho đại lý tạo ra những khó khăn nhất định cho đại lý trong
việc thương lượng giá nhập sản phẩm cũng như công việc bán sản phẩm cho khách
của dòng xe tải N-series với các model : NLR55E tải trọng 1,4 tấn; NMR85E tải
trọng 2 tấn sát xi ngắn; NMR 85H tải trọng 2 tấn sát xi dài, NPR 85K tải trọng 3,9
tấn; NQR 75 L tải trọng 5,5 tấn.
Hình ảnh cho một số sản phẩm N-series Xe tải NLR55E Xe tải NMR85E có thùng
Xe tải N-series ra đời năm 1959, đến nay dòng xe này đã có mặt ở hơn 130
quốc gia. Trước khi được tung ra thị trường toàn cầu, dòng xe tải này đã được thử
nghiệm ở nhiều điều kiện khắc nghiệt khác nhau, với tổng chiều dài quãng đường
thử nghiệm lên tới 1.320.000 km, tương đương với 33 vòng trái đất.Isuzu N-series
ra mắt thị trường Việt Nam ngày 06/07/2008 tại sân vận động Quân khu 7, Thành
phố Hồ Chí Minh bằng một buổi lễ tổ chức rất công phu và hoành tráng với sự có
mặt của nhiều phóng viên, nhà báo.
N-series là dòng sản phẩm xe tải chủ đạo của thương hiệu Isuzu , là dòng xe
tải bán chạy nhất Nhật Bản.
* Điểm mạnh
+) Dòng xe tải N-series sử dụng hệ động cơ Diesel mới của Isuzu “D-Core” là
động cơ DOHC với 16 xu-páp có khả năng cung cấp mô-men xoắn cao ở vòng tua
máy thấp giúp cải thiện sức tải của xe, đồng thời tạo ra khí sạch hơn, phù hợp với
tiêu chuẩn khí thải EURO 2.
+) Công suất lớn và tiết kiệm nhiên: động cơ D-core mà xe sử dụng làm tăng
26% công suất , tiết kiệm được 15% nhiên liệu so với phiên bản cũ.
+) Xe được thiết kế với nhiều ưu điểm hơn đáp ứng nhu cầu cao nhất trong
lĩnh vực vận tải : dựa trên ý tưởng mới có tên là "SEE", tượng trưng cho Safety (an
toàn), Economy (tiết kiệm), và Ecologytech (thân thiện môi trường), N-series mới
đã thiết kế lại toàn bộ khoang lái và khung gầm. Khoang lái mới rộng hơn, nhiều
tiện nghi hơn, trong khi khung gầm mới chắc chắn, tăng tối đa sức tải cũng như tính
an toàn. Không chỉ được trang bị những thiết bị tiêu chuẩn như máy lạnh, đầu đọc
CD/MP3, kính điều khiển điện và khóa trung tâm, Isuzu còn cho phép khách hàng
D- max là dòng xe chuyên dụng vừa phục vụ sản xuất kinh doanh vừa phục vụ
di chuyển hàng ngày rất được ưa chuộng của Isuzu.
D- max LS thuộc phiên bản xe d-max 2011 có các đặc điểm và cũng được coi
là ưu điểm sau :
+) Xe xó thiết kế mâm bánh xe hoàn toàn mới goomg 6 nan hoa làm với bánh
xe từ hợp chất cao su đặc biệt có lực cản lăn thấp giúp tiết kiệm nhiên liệu tối đa.
+) Xe có dáng vẻ chắc chắn, bền bỉ với thiết kế khung gầm xe thừa hưởng từ
khung gầm xe bán tải Isuzu. Xe vận hành hoàn toàn êm ái trên đường trường và ổn
định trên xa lộ nhờ hệ số kéo thấp của thiết kế khí động lực.
+) Đặc biệt, xe sử dụng hệ thống đèn pha chiếu sáng thường thấy trong các
dòng xe con, xe du lịch, giúp tăng khả năng quan sát cho tài xế khi đi trên các cung
đường tối hoặc trong các trận mưa bão lớn.
+) Lưới tản nhiệt và ốp cản trước được làm từ vật liệu poly-propylene, một
dạng chất dỏe linh hoạt, tự động phục hồi lại nguyên dạng ban đầu đối với các va
chạm nhỏ tốc độ dưới 5km/h và thân thiện với môi trường.
+) Xe được trang bị gương chiếu hậu ngoài mạ croom với đèn tín hiệu và điều
chỉnh gập điện, vừa cung cấp khả năng nhận diện cao hơn khi đi trên đường vừa
mang dáng dấp của chiếc xe con.
+) Thiết kế nội thất mang tính linh hoạt của một chiếc xe 5 chỗ với sự kết hợp
giữa cách bố trí chỗ ngồi của một chiếc SUV và một chiếc sedan. Xe được trang bị
hệ thống khóa cửa bằng điện với điều khiển từ xa chống trộm khoản cách lên đến
30m. Đồng thời, xe trang bị tính năng tự động khóa lại sau 30s. Thiết kế mặt táp ô
tô với màn hình hiện thị đa thông tin phát sáng bằng điện màu đỏ cam nổi bật cùng
2 đèn đọc sách phía trước.