THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG TIỀN GỬI TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN QUỐC TẾ VIB – CHI NHÁNH HÀ ĐÔNG - Pdf 26

Chuyên đề tốt nghiệp
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN CHẤT LƯỢNG HUY ĐỘNG TIỀN
GỬI CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1 Tổng quan về NHTM
1.1.1 Khái niệm về ngân hàng thương mại
NHTM là một định chế tài chính mà hoạt động thường xuyên và chủ yếu là
nhận tiền gửi và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và
làm phương tiện thanh toán.
1.1.2 Sự ra đời và phát triển của NHTM
Ngay từ xa xưa người ta đã biết dùng tiền làm phương tiện thanh toán, làm
trung gian trao đổi hàng hoá. Thông qua tiền, việc trao đổi hàng hoá được tiến hành
một cách thuận lợi, dễ dàng hơn nhiều. Chính vì thế đã kích thích sản xuất, đưa xã
hội loài người ngày càng phát triển.
Xã hội ngày càng phát triển thì vai trò của tiền tệ ngày càng đươc phát
huy.Thương mại phát triển, một tầng lớp thương nhân giàu có ra đời và họ cần có
những nơi an toàn để gửi tiền . Những người nhận tiền gửi chủ yếu là chủ tiệm
vàng, họ nhận thấy: luôn có một lượng lớn tiền và vàng nhàn rỗi do tiền và vàng
người ta gửi vào luôn nhiều hơn tiền rút ra. Mặt khác lại luôn tồn tại nhu cầu vay
mượn để chi tiêu, đầu tư kinh doanh. Và những người giữ hộ tài sản nghĩ đến việc
sử dụng số tiền nhàn rỗi đó để cho vay kiếm lời. Và thay vì thu phí giữ hộ người ta
trả một khoản lãi cho người có tài sản đem gửi. Bên cạnh đó người giữ hộ tiền cũng
cho vay để thanh toán cho một người nào đó bằng cách ghi nợ cho người vay tiền
và ghi tăng tài sản cho người được thanh toán. Và lúc các nghiệp vụ trên hình thành
cũng là lúc ngân hàng xuất hiện.
Khoảng đầu thế kỉ thứ XV (1401) có một tổ chức trên thế giới được coi là
một ngân hàng thực sự theo quan niệm ngày nay đó là BAN - CA - DI Barcelona
(Tây Ban Nha), đây là ngân hàng đầu tiên trên thế giới. Đến năm 1409 ngân hàng
thứ hai là BAN -CO -DI Valencia (TBN) và cả hai ngân hàng này đã thực hiện hầu
hết các nghiệp vụ ngân hàng như ngày nay: nhận tiền gửi, cho vay, thanh toán
Từ thế kỉ XVII, song song với cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật kinh tế và

sự tác động mạnh mẽ của các quy luật kinh tế như: quy luật giá trị, quy luật cung
cầu, quy luật cạnh tranh và sản xuất phải trên cơ sở đáp ứng nhu cầu thị trường,
thoả mãn nhu cầu thị trường về mọi phương diện không chỉ: giá cả, khối lượng, chất
lượng mà còn đòi hỏi thoả mãn trên phương diện thời gian, địa điểm. Để có thể đáp
ứng tốt nhất nhu cầu của thị trường doanh nghiệp không những cần nâng cao chất
CBHD: ThS TRƯƠNG THỊ HOÀI LINH SVTH: NGUYỄN MINH TUẤN
2
Chuyên đề tốt nghiệp
lượng lao động, củng cố và hoàn thiện cơ cấu kinh tế, chế độ hạch toán kinh tế mà
còn phải không ngừng cải tiến máy móc thiết bị, đưa công nghệ mới vào sản xuất,
tìm tòi và sử dụng nguyên vật liệu mới, mở rộng quy mô sản xuất một cách thích
hợp. Những hoạt động này đòi hỏi phải có một lượng vốn đầu tư lớn, nhiều khi vượt
quá khả năng của doanh nghiệp. Do đó để giải quyết khó khăn này doanh nghiệp
đến ngân hàng để xin vay vốn để thoả mãn nhu cầu đầu tư của mình.Thông qua hoạt
động cấp tín dụng cho doanh nghiệp ngân hàng là cầu nối doanh nghiệp với thị
trường. Nguồn vốn tín dụng của ngân hàng cung cấp cho doanh nghiệp đóng vai trò
rất quan trọng trong việc nâng cao chất lượng về mọi mặt của quá trình sản xuất
kinh doanh, đáp ứng nhu cầu của thị trường và từ đó tạo cho doanh nghiệp chỗ
đứng vững chắc trong cạnh tranh .
NHTM là công cụ để nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế.
Hệ thống NHTM hoạt động có hiệu quả sẽ thực sự là công cụ để nhà nước
điều tiết vĩ mô nền kinh tế.
Thông qua hoạt dộng thanh toán giữa các ngân hàng trong hệ thống, NHTM đã góp
phần mở rộng khối lượng tiền cung ứng cho lưu thông. Thông qua việc cấp tín dụng
cho nền kinh tế NHTM đã thực hiện việc dẫn dắt các nguồn tiền, tập hợp và phân
phối vốn trên thị trường, điều khiển chúng một cách hiệu quả và thực thi vai trò
điều tiết gián tiếp vĩ mô. Cùng với các cơ quan khác, Ngân hàng luôn được sử dụng
như một công cụ quan trọng để nhà nước điều chỉnh sự phát triển của nền kinh tế.
Khi nhà nước muốn phát triển một nghành hay một vùng kinh tế nào đó thì
cùng với việc sử dụng các công cụ khác để khuyến khích thì các NHTM luôn được

Đây là chức năng quan trọng nhất của NHTM .NHTM nhận tiền gửi và cho
vay chính là đẫ thực hiện việc chuyển tiền tiết kiệm thành tiền đầu tư.
Những chủ thể dư thừa vốn cũng có thể trực tiếp đầu tư bằng cách mua các
công cụ tài chính sơ cấp như: cổ phiếu, trái phiếu của doanh nghiệp hoặc chính phủ
thông qua thị trường tài chính. Nhưng thị trường tài chính trực tiếp đôi khi không
đem lại hiệu quả cao nhất cho người đầu tư vì: khó tìm kiếm thông tin, chi phí tìm
kiếm thông tin lớn, chất lượng thông tin không cao, chi phí giao dịch lớn và phải có
sự trùng khớp về nhu cầu giữa người thừa vốn và người thiếu vốn về số lượng, thời
hạn chính vì thế NHTM với tư cách là một trung gian tài chính đứng ra nhận tiền
gửi tiết kiệm và cung cấp vốn cho nền kinh tế với số lượng và thời hạn phong phú
và đa dạng đáp ứng mọi nhu cầu về vốn của khách hàng có đủ điều kiện vay vốn.
Với mạng lưới giao dịch rộng khắp, các dịch vụ đa dạng, cung cấp thông tin nhiều
chiều, hoạt động ngày càng phong phú chuyên môn hoá vào từng lĩnh vực NHTM
CBHD: ThS TRƯƠNG THỊ HOÀI LINH SVTH: NGUYỄN MINH TUẤN
4
Chuyên đề tốt nghiệp
đã thực sự giải quyết được những hạn chế của thị trường tài chính trực tiếp, góp
phần nâng cao hiệu quả luân chuyển vốn trong nền kinh tế thị trường.
Chức năng tạo tiền
Chức năng tạo tiền là chức năng cực kỳ quan trọng của NHTM. Chức năng
này được thể hiện trong quá trình NHTM cấp tín dụng cho nền kinh tế và hoạt động
đầu tư của NHTM, trong mối quan hệ với NHTƯ đặc biệt trong quá trình thực hiện
chính sách tiền tệ mà mục tiêu của chính sách tiền tệ là ổn định giá trị đồng tiền. Từ
một lượng tiền cơ sở do NHTƯ phát hành qua hệ thốngNHTM sẽ được tăng lên gấp
bội khi NHTM cấp tín dụng cho nền kinh tế. Khối lượng tiền qua hệ thống ngân
hàng được tính theo công thức :
D=m.MB
D: khối lượng tiền qua hệ thống ngân hàng
MB: khối lượng tiền cơ sở
M=1/rd: hệ số nhân tiền

tranh.Chính vì vậy mà các Ngân hàng ngày nay rất tích cực đầu tư trang bị cơ sở vật
chất, áp dụng công nghệ tin học, khoa học kỹ thuật vào hoạt động của mình. Nếu
các NHTM có thể đáp ứng tốt nhu cầu của khách hàng về dịch vụ, tạo được uy tín
với khách hàng thì đây cũng là một biện pháp, yếu tố để tăng khả năng huy động
vốn.
1.2. Hoạt động huy động tiền gửi tại NHTM
1.2.1. Khái niệm huy động tiền gửi tại NHTM
Tiền gửi của khách hàng đó là tiền gửi của các tổ chức kinh tế, doanh nghiệp
cơ quan Nhà nước và các định chế tài chính trung gian cùng cá nhân trong và ngoài
nước có quan hệ gửi tiền tại ngân hàng.
Tiền gửi của khách hàng được chia làm hai bộ phận: Tiền gửi của doanh
nghiệp, tổ chức kinh tế và tiền gửi tiết kiệm của dân cư.
1.2.2.Các hình thức huy động tiền gửi tại NHTM
Tiền gửi là nguồn vốn huy động từ bên ngoài đầu tiên và quan trọng nhất đối
với mỗi Ngân hàng thương mại. Trong cơ cấu vốn của các ngân hàng, tiền gửi luôn
chiếm tỷ trọng lớn và có nhiều ảnh hưởng nhất tới các hoạt động của ngân hàng. Vì
thế để gia tăng tiền gửi trong môi trường cạnh tranh và để có được nguồn tiền gửi
chất lượng ngày càng cao thì các ngân hàng đã đưa ra nhiều hình thức huy động
khác nhau.
CBHD: ThS TRƯƠNG THỊ HOÀI LINH SVTH: NGUYỄN MINH TUẤN
6
Chuyên đề tốt nghiệp
a) Tiền gửi thanh toán :
Tiền gửi thanh toán hay còn gọi là tiền gửi không kì hạn là loại tiền gửi mà
người gửi có thể rút ra bất cứ lúc nào. Với tài khoản tiền gửi thanh toán này, khách
hàng có thể thực hiện các giao dịch thanh toán qua ngân hàng thông qua các hình
thức thanh toán không dùng tiền mặt như Ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu… một cách
đơn giản, thuận tiện và nhanh chóng. Chính ưu điểm này của tiền gửi thanh toán đã
khiến nó rất được ưa thích và phổ biến với tất cả mọi người, đặc biệt là các doanh
nghiệp và cá nhân có hoạt động mua bán thường xuyên. Ngày nay tài khoản tiền gửi

lượng nhỏ so với lượng tiền gửi không kì hạn, tuy nhiên quy mô của các món này
lại chiếm một phần không nhỏ trong tổng nguồn huy động từ tiền gửi của các ngân
hàng thương mại nên các ngân hàng nên chú ý phát triển nguồn này bằng cách ra
tăng số lượng các khách hàng là tổ chức.
-Tiền gửi không kỳ hạn.
Đây là khoản tiền gửi mà khách hàng có thể rút ra bất kỳ lúc nào và ngân
hàng phải thoả mãn yêu cầu đó của khách hàng, thực chất đó là khoản tiền gửi dùng
để đảm bảo trong thanh toán.
Tiền gửi đảm bảo thanh toán được ký ýthác vào ngân hàng để thực hiện các
khoản chi trả khác phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh của khách hàng
một cách thuận tiện và tiết kiệm. Đây là khoản tiền tạm thời nhàn rỗi chờ thanh toán
mà không phải để dành. Bởi vậy đối với khách hàng đây là một tài sản mà họ kýý
thác uỷ nhiệm cho ngân hàng bảo quản và thực hiện các nghiệp vụ liên quan theo
yêu cầu của khách hàng. Do vậy khách hàng không mất quyền sở hữu, cũng như
quyền sử dụng số tiền đó. Họ có quyền lấy ra hoặc chuyển nhượng cho bất kỳ ai và
bất kỳ thời gian nào. Khách hàng được sử dụng số tiền của mình bằng các phương
tiện thanh toán dùng để chi trả như séc, uỷ nhiệm chi, thư chuyển tiền…
Đối với ngân hàng đây là một khoản nợ mà ngân hàng có nghĩa vụ thực hiện
lệnh thanh toán chi trả cho người thụ hưởng loại tiền gửi này, lãi suất thường thấp
hơn lãi suất trả cho các khoản tiền gửi có lãi khác.Nhưng khi khách hàng mở và sử
dụng các loại tài khoản này thì được ngân hàng cung ứng các loại dịch vụ miễn phí
hoặc thu với tỷ lệ thấp, lượng tiền vốn ở tài khoản thanh toán thường chiếm gần 1/3
tiền gửi ngân hàng.
Như vậy các tài khoản này đã đem lại cho khách hàng sự an toàn trong việc
bảo quản vốn và trong qúa trình thanh toán trả tiền hàng hoá dịch vụ, ngoài ra khách
hàng còn được hưởng một khoản tiền lãi nhỏ và một số dịch vụ miễn phí. Còn đối
với ngân hàng phải bỏ ra một số chi phí cho bộ máy kế toán theo dõi và nghi chép
CBHD: ThS TRƯƠNG THỊ HOÀI LINH SVTH: NGUYỄN MINH TUẤN
8
Chuyên đề tốt nghiệp

Thông thường thì thời hạn càng dài thì lãi suất càng cao. Các NHTM thường
CBHD: ThS TRƯƠNG THỊ HOÀI LINH SVTH: NGUYỄN MINH TUẤN
9
Chuyên đề tốt nghiệp
khuyến khích khách hàng gửi tiền với thời hạn dài, vì loại tiền này tương đối ổn
định, ngân hàng sẽ chủ động trong kinh doanh. Để thu hút được nhiều nguồn vốn
dài hạn thì tốc độ phát triển nền kinh tế phải ổn định, giá trị đồng tiền được đảm
bảo, lạm phát vừa phải (thường là một con số một năm) và tình hình hoạt động kinh
doanh của các ngân hàng có hiệu quả.
c) Tiền gửi tiết kiệm của dân cư :
Các tầng lớp dân cư đều có các khoản thu nhập tạm thời chưa dùng đến, họ
tích luỹ lại cho tương lai. Người dân có nhiều cách để giữ số tiền tiết kiệm của
mình. Một trong những cách đó là gửi tiền tiết kiệm tại ngân hàng. Ngân hàng thu
hút tiền gửi của người dân bằng việc đảm bảo an toàn cho tài sản của họ đồng thời
trả lãi để khuyến khích họ gửi nhiều tiền với thời hạn lâu dài. Huy động tiền gửi
trong dân cư là nghiệp vụ truyền thống đem lại cho ngân hàng một lượng vốn rất
lớn để có thể tiến hành các hoạt động cho vay và đầu tư sinh lợi. Thông thường tiền
gửi tiết kiệm có 2 loại chính :
- Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn.
Loại tiền gửi này người gửi tiền có thể rút ra một phần hoặc toàn bộ số tiền
gửi bất kỳ lúc nào. Nhưng khác với loại tiền gửi thanh toán, người gửi tiền không
được sử dụng các công cụ thanh toán để chi trả cho người khác, lãi suất tiền gửi tiết
kiệm thường cao hơn và phần lớn những người gửi tiền tiết kiệm là do chưa xác
định được nhu cầu chi tiêu cụ thể trong tương lai, nhưng lại hưởng mức lãi trong
thời gian khoản tiền nhàn rỗi.
- Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn.
Khi cá nhân gửi tiền vào ngân hàng loại tiền gửi tích kiệm có kỳ hạn trên cơ
sở thoả thuận giữa khách hàng và ngân hàng về thời hạn gửi, lãi suất theo qui định
và khách hàng chỉ được rút tiền ra khi đến hạn. Nhưng trong thực tế ở nước ta hiện
nay để khuyến khích người gửi tiền các NHTM vẫn cho khách hàng rút ra trước

toán hộ, chuyển khoản hay mua bán, giao dịch khác…Lượng tiền gửi này thường
không lớn, biến động nhỏ nên ít ảnh hưởng tới nguồn vốn của Ngân hàng .
1.3. Chất lượng huy động tiền gửi tại NHTM
1.3.1. Khái niệm Chất lượng huy động tiền gửi tại NHTM
Trong điều kiện hiện nay khi nước ta đang trong quá trình hội nhập với
nền kinh tế thị trường thì sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp này càng mạnh mẽ,
các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì phải khong ngừng nâng cao vị thế
của mình trên thị trường. Muốn vậy các doanh nghiệp không nâng cao chất lượng
sản phẩm, giá cả phù hợp. Trong đó chất lượng chiếm vị trí quan trọng hàng đầu
CBHD: ThS TRƯƠNG THỊ HOÀI LINH SVTH: NGUYỄN MINH TUẤN
11
Chuyên đề tốt nghiệp
quyết định đến sự thành bại của doanh nghiệp. Đặc biệt là đối với các NHTM. Khi
đây là doanh nghiệp đặc biệt hoạt động kinh doanh trên kĩnh vực tiền tệ.
Chất lượng nói chung có thể được hiểu là mưc độ phù hợp của sản phẩm
đối với yêu cầu của người tiêu dùng hay là tập hợp tính chất của sản phẩm, chứa
đựng mức độ thích ứng của nó để thoả mãn nhu cầu nhất định theo công dụng của
nó với những chi phí xã hội cần thiết.
Qua đây chúng ta có thể hiểu chất lượng huy động tiền gửi tại ngân hàng
là sự đáp ứng một cách tốt nhất yêu cầu của khách hàng (người gửi tiền và người
vay tiền) trong quan hệ tín dụng, đảm bảo an toàn trong việc thu hồi vốn thông qua
sự phát huy hiệu quả của phương án được hình thành bằng đồng tiền vay hay hạn
chế thấp nhất rủi ro về đồng vốn, tăng lợi nhuận của ngân hàng, phù hợp và phục vụ
sự phát triển kinh tế xã hội.
1.3.2.Các nhân tố tác động đến Chất lượng huy động tiền gửi tại NHTM
Các nhân tố khách quan :
Môi trường pháp lý :
Hành lang pháp lý ảnh hưởng lớn đến nghiệp vụ huy động vốn của Ngân hàng
thương mại . Có những bộ luật tác động trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của
Ngân hàng như: Luật các tổ chức tín dụng, Luật Ngân hàng nhà nước … Những

thương mại
Nhân tố chủ quan :
Các hình thức huy động :
Ngân hàng muốn dễ dàng tìm kiếm nguồn vốn thì trước hết phải đa dạng hóa
các hình thức huy động vốn. Hình thức huy động càng phong phú thì Ngân hàng
càng dễ huy động hơn. Ngân hàng có thể phát hành trái phiếu, kỳ phiếu, huy động
tiền gửi với nhiều kỳ hạn và đặc tính khác nhau thông qua các sản phẩm của
mình.Các sản phẩm huy động thành công sẽ mang lại nguồn vốn dồi dào cho ngân
hàng.
Chính sách lãi suất.
Đối với những khách hàng là doanh nghiệp gửi tiền với mục đích thanh toán
thì mục tiêu của họ không phải là lợi tức mà là các dịch vụ do Ngân hàng cung cấp.
Ngược lại các khoản tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm thường quan tâm đến
lãi suất vì vậy. Chính sách lãi suất vừa hấp dẫn mà lại hợp lý sẽ đảm bảo thu hút
được tiền gửi đồng thời không gây ra mâu thuẫn: huy động giá cao mà đầu tư giá
thấp.
CBHD: ThS TRƯƠNG THỊ HOÀI LINH SVTH: NGUYỄN MINH TUẤN
13
Chuyên đề tốt nghiệp
Năng lực và trình độ của nhân viên Ngân hàng:
Về phương diện quản lý: Nếu Ngân hàng quản lý tốt về mặt nhân sự, về tài
sản Nợ Có tức là trong quá trình hoạt động của mình Ngân hàng dự đoán được
những rủi ro có thể xảy ra, dự đoán được môi trường đầu tư hiệu quả hay không.
Mặt khác do quản lý tốt nên trong quá trình hoạt động, ngân hàng đảm bảo được an
toàn vốn, tăng uy tín, có điều kiện thu hút khách hàng gửi cũng như vay tiền.
Về trình độ nghiệp vụ: Trình độ nghiệp vụ của cán bộ Ngân hàng càng cao thì
các thao tác trong công việc càng diễn ra nhanh chóng, chính xác làm hài lòng
khách hàng. Có được sự hài lòng của khách hàng thì việc huy động vốn cũng vì thế
mà dễ dàng hơn.
Trình độ công nghệ của Ngân hàng :

tự nhau, Ngân hàng nào được biết đến càng nhiều, được khách hàng nhớ càng
nhiều thì cơ hội kinh doanh càng lớn.
h) Mạng lưới hoạt động :
Với những Ngân hàng sát địa bàn dân cư hoặc gần các trung tâm thuơng mại
sẽ có thuận lợi thu hút vốn. Mạng lưới huy động vốn của Ngân hàng thường biểu
hiện qua việc tổ chức các quỹ tiết kiệm. Mạng lưới này không nên chỉ tập trung ở
các vị trí trung tâm mà còn nên phân bố cả ở những vừng sâu vùng xa tạo điều kiện
cho mọi đối tượng có thể dễ dàng gửi tiền mà không mất nhiều phí và thời gian.
CBHD: ThS TRƯƠNG THỊ HOÀI LINH SVTH: NGUYỄN MINH TUẤN
15
Chuyên đề tốt nghiệp
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG TIỀN GỬI TẠI NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN QUỐC TẾ VIB – CHI NHÁNH HÀ ĐÔNG
2.1 KHÁI QUÁT VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN QUỐC
TÊ VIB – CHI NHÁNH HÀ ĐÔNG
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Ngân hàng thương mại cổ phần
Quốc tế - Chi nhánh Hà Đông :
Ngân hàng Thương mại cổ phần Quốc tế Việt Nam (VIB) được thành lập năm
1996 với sự góp vốn của một số ngân hàng lớn như ngân hàng Nông nghiệp và phát
triển nông thôn Việt Nam, ngân hàng Ngoại thương Việt Nam và một số tổ chức tín
dụng trong và ngoài nước. Từ ngày thành lập đến nay mạng lưới của VIBank không
ngừng mở rộng với gần 160 chi nhánh/phòng giao dịch/Quỹ tiết kiệm cùng hệ thống
200 máy ATM trên toàn quốc. Tính đến nay, chủ thẻ của VIBank có thể giao dịch
tại khoảng trên 10.000 máy ATM thuộc 3 hệ thống thẻ Smartlink, Banknet và
VNBC trên toàn quốc , tại các tỉnh/thành phố trên cả nước.Theo thời gian, VIBank
đã khẳng định sự trưởng thành và tạo những ấn tượng tốt đẹp về sự phát triển mạnh
mẽ, tăng mạnh cả về qui mô hoạt động, tổ chức mạng lưới, cán bộ. Các chỉ tiêu hoạt
động hàng năm đều tăng trưởng trên 150%.
Trong suốt quá trình phát triển, VIBank đã tích cực tham gia nhiều hoạt
động từ thiện xã hội lớn như việc ủng hộ chương trình ‘đèn Đom Đóm’, chương

Tương tự như các chi nhánh đặc thù khác của VIB, VIB chi nhánh Hà Đông tổ
chức thành 4 phòng ban bao gồm :
- Phòng Dịch vụ khách hàng::
+ Thực hiện mở tài khoản giao dịch với khách hàng, hạch toán chính xác, kịp
thời mọi biến động về vốn, tài sản của khách hàng và ngân hàng.
+ Tiếp nhận, xử lý hạch toán kế toán theo đúng quy định các hồ sơ vay vốn
của khách hàng, phối hợp với phòng kinh doanh để thực hiện nợ kịp thời, đúng chế
độ.
+ Tham mưu cho giám đốc trích lập, hạch toán, sử dụng quỹ phúc lợi, quỹ
khen thưởng phù hợp với chế độ ngân hàng và của Tổng giám đốc.
+ Thực hiện thu chi tiền mặt bằng VNĐ (Việt nam đồng) và ngoại tệ, ngân
phiếu thanh toán, kịp thời chính xác đúng chế độ, thực hiện chi tiết quỹ, giao nhận
tiền mặt với các quĩ tiết kiệm an toàn, chính xác.
+ Tổ chức điều chuyển tiền giữa hội sở chi nhánh và các Phòng giao dịch an
toàn đúng chế độ trên cơ sở đáp ứng kịp thời, đầy đủ nhu cầu chi trả
CBHD: ThS TRƯƠNG THỊ HOÀI LINH SVTH: NGUYỄN MINH TUẤN
17
Chuyên đề tốt nghiệp
Cơ cấu nhân sự :
* 01 Giám đốc ngân hàng bán lẻ làm công tác quản lý chung, chịu trách nhiệm
về mọi hoạt động tại khối.
* 02 Trưởng phòng quản lý khối dịch vụ khách hàng dưới sự chỉ đạo của
Giám đốc khối
* 02 Kiểm soát viên là cán bộ được phân quyền kiểm soát, phê duyệt trên
chứng từ kế toán và trên hệ thống
* 05 Giao dịch viên (Teller) Trực tiếp thực hiện các giao dịch với khách hàng
từ khâu xử lý chứng từ, hạch toán và khâu thu – chi tiền mặt cho khách hàng .
* 03 Nhân viên kho quỹ: Trưởng quỹ được giao nhiệm vụ trực tiếp chỉ đạo
hoạt động giao dịch ngân quỹ đơn vị và đảm bảo an toàn tuyệt đối các loại tài sản
bảo quản trong kho tiền và tài sản tại quỹ.

báo cáo kết quả thực hiện các nhiệm vụ được giao; tổng hợp tình hình hoạt động
chung của Ngân hàng
+ Xây dựng các báo cáo sơ kết, tổng kết công tác định kỳ, đột xuất và theo
dõi công tác thi đua, khen thưởng của Ngân hàng
+ Tổng hợp các thông tin, kiến nghị và đề xuất của các đơn vị, tổ chức về nhu
cầu giải quyết công việc
+ Tổ chức đánh máy, in ấn các tài liệu phục vụ hoạt động chung của Ngân
hàng ; thực hiện công tác lễ tân; đặt mua, tiếp nhận, chuyển phát các loại báo, tạp
chí và các tài liệu khác phục vụ các đơn vị, cán bộ, nhân viên; lưu giữ, bảo quản các
tặng phẩm, tài liệu, tư liệu truyền thống của Ngân hàng .
CBHD: ThS TRƯƠNG THỊ HOÀI LINH SVTH: NGUYỄN MINH TUẤN
19
Chuyên đề tốt nghiệp
Sơ đồ 1: Cơ cấu tổ chức VIB chi nhánh Hà Đông
2.1.3 Kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng thời gian gần đây :
* Hoạt động huy động vốn :
Với chủ trương chú trọng tăng trưởng huy động từ thị trường 1, coi đây là
nguồn vốn quan trọng để giữ vững thị phần, đảm bảo thanh khoản, khả năng tự
chủ về tài chính cũng như bổ sung nguồn vốn cho vay của toàn hệ thống, năm
2011 VIB chi nhánh Hà Đông đã nỗ lực đẩy mạnh hoạt động huy động vốn từ
các tổ chức kinh tế và dân cư.
Nhằm ra tăng lợi ích cho khách hàng gửi tiền, trong năm 2010, VIB Hà Đông
đã tham gia triển khai nhiều chương trình khuyến mãi như : “Mát mùa hè ngọt yêu
thuơng”, “Chung vui sinh nhật cùng hàng triệu khách hàng”, “Cào nhanh tay trúng
ngay quà tặng”… Nhờ chính sách điều hành lãi suất linh hoạt từ trên phù hợp với
CBHD: ThS TRƯƠNG THỊ HOÀI LINH SVTH: NGUYỄN MINH TUẤN
20
Giám đốc khách
hàng doanh
nghiệp

1.Cơ cấu huy động theo
loại tiền
624 530 314
- VND
884,12 1.797,48 2.588
- USD
221,02 116,86 412
2.Cơ cấu huy động phân
theo kỳ hạn
1.105,14 1.914,34 3.000
- Dài hạn
205,59 302,45 450
- Ngắn hạn
899,55 1.611,89 2.550
(Nguồn: Báo cáo và kế hoạch kinh doanh VIB Hà đông)
* Hoạt động tín dụng:
Năm 2009 là một năm khá thuận lợi cho hoạt động tín dụng phát triển. Chính
sách tiền tệ được duy trì ổn định, cùng với việc triển khai gói kích cầu hỗ trợ lãi suất
đã góp phần hỗ trợ các doanh nghiệp ổn định kinh doanh lâu dài. Tuy nhiên sang
năm 2010 những diễn biến phức tạp của mặt bằng lãi suất, sự tăng trưởng nóng của
một số kênh đầu tư hấp dẫn nhưng có mức độ rủi ro cao như vàng, bất động sản,
ngoại tệ đã có ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động tín dụng của các Ngân hàng
thương mại. Lựa chọn chiến lược thận trọng tăng trưởng nhưng đảm bảo an toàn.
Theo chủ trương từ trên VIB Hà Đông đã chủ động lựa chọn đối tượng khách hàng
cũng như dự án có độ an toàn cao, phương án trả nợ rõ ràng hạn chế cho vay đối với
các dự án đầu tư vàng, bất động sản Đến thời điểm 31/12/2010 dư nợ tín dụng đạt
616,81 tỷ đồng, tăng 26,48 % so với năm 2009.
CBHD: ThS TRƯƠNG THỊ HOÀI LINH SVTH: NGUYỄN MINH TUẤN
21
Chuyên đề tốt nghiệp

chú trọng đến hoạt động dịch vụ. Hoạt động này không chỉ đem lại nguồn thu nhập
cho ngân hàng với chi phí thấp mà còn liên quan chặt chẽ, hỗ trợ các hoạt động
khác như huy động vốn, phát triển tín dụng.
Nhằm từng bước nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng, hoạt động thẻ
được ngân hàng chú trọng phát triển. Tính đến 31/12/2010 tổng lượng thẻ phát hành
lũy kế trên toàn hệ thống đạt 2.666 thẻ, bao gồm 2.561 thẻ Value (thẻ ghi nợ) và
105 thẻMastercard, tăng 203 % so với năm 2009 trong đó số thẻ active chiếm gần
90%. Tổng số thẻ phát hành trong năm 2010.
Hiện nay, thẻ của VIB đã được chấp nhận tại liên minh thẻ VNBC, Smartlink
và Banknetvn. Số dư trung bình một tài khoản đạt khoảng 8,92 triệu đồng.
CBHD: ThS TRƯƠNG THỊ HOÀI LINH SVTH: NGUYỄN MINH TUẤN
22
Chuyên đề tốt nghiệp
2.2 THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG TIỀN GỬI CỦA NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN QUỐC TẾ VIỆT NAM - CHI NHÁNH HÀ ĐÔNG
2.2.1. Tốc độ tăng trưởng tiền gửi :
Huy động tiền gửi là một nghiệp vụ chủ chốt, không thể thiếu được của các
ngân hàng nói chung và của VIB chi nhánh Hà Đông nói riêng, bởi nguồn vốn
chính của ngân hàng là nguồn vốn huy động từ tiền gửi. Hơn nữa, huy động vốn cụ
thể là tiền gửi không phải là một nghiệp vụ độc lập mà nó gắn liền với các nghiệp
cụ sử dụng vốn và các nghiệp vụ trung gian khác như thanh toán, chuyển tiền của
Ngân hàng thương mại.
Ngân hàng luôn phải đảm bảo cho mình một nguồn vốn dồi dào đáp ứng nhu
cầu của khách hàng đến vay vốn, đáp ứng nhu cầu vốn cho phát triển đất nước.Bên
cạnh đó huy động vốn phải dựa trên cơ sở xác định thị trường đầu ra, lĩnh vực đầu
tư có hiệu quả hay không, lãi suất ra sao. Với phương châm tăng cường nguồn vốn,
Chi nhánh đã cố gắng bằng nhiều biện pháp để đạt được kết quả như dưới đây :
Bảng 2.3: Biến động và tỷ trọng tiền gửi
Đơn vị : Tỷ đồng
Chỉ tiêu 31/12/2009 31/12/2010

Nội là một chi nhánh có nhiều điểm tương đồng với Chi nhánh Hà Đông về quy mô
với 09 phòng giao dịch: Vốn huy động năm 2010 chỉ đạt 1.683 tỷ đồng tăng 65,43%
so với 2009 trong đó vốn huy động từ tiền gửi cũng chiếm tới 97,66% hoặc Chi
nhánh Cầu Giấy ( Chi nhánh lớn và thành lập trước Chi nhánh Hà Đông) vốn huy
động năm 2010 chỉ đạt 1642 tỷ đồng tăng 84,29 % so với 2009 trong đó vốn huy
động từ tiền gửi cũng chiếm 98,23%. Như vậy xu hướng tăng tỷ trọng vốn huy động
từ tiền gửi trong những năm gần đây là tình hình chung của các chi nhánh trong
toàn hệ thống VIB. Huy động vốn từ tiền gửi là nguồn huy động rẻ hơn so với các
phương thức huy động khác như phát hành giấy tờ có giá. Vốn huy động tăng lên
giúp cho ngân hàng có điều kiện thực hiện tốt hơn các hoạt động của mình. Vốn
huy động mà tiền gửi chiếm đa số tăng với tốc độ cao thì quy mô vốn của Ngân
hàng càng được mở rộng, tạo tiền đề cho sự phát triển của ngân hàng. Tuy nhiên
CBHD: ThS TRƯƠNG THỊ HOÀI LINH SVTH: NGUYỄN MINH TUẤN
24
Chuyên đề tốt nghiệp
tốc độ tăng trưởng vốn cao chưa hẳn đã tốt, nó có thể tồn tại sự bất hợp lý trong cơ
cấu nguồn vốn. Cho nên ta hãy tìm hiểu sự biến đổi trong cơ cấu huy động.
2.2.2. Cơ cấu vốn và biến động tiền gửi :
2.2.2.1. Phân loại theo kỳ hạn :
Khi phân loại theo kỳ hạn thì tiền gửi được chia thành vốn ngắn hạn , trung và
dài hạn. Trong thời gian qua vốn ngắn trung và dài hạn đều tăng lên đáng kể nhưng
tỷ trọng tiền gửi ngắn hạn vẫn chiếm chủ yếu. VIB hiện nay cung cấp các sản phẩm
huy động bao gồm Tiết kiệm không kỳ hạn, Kỳ hạn dưới 1 tuần, từ 1 đến 3 tuần, từ
1 đến 12 tháng, 15 , 18, 24 và 36 tháng. Tất toán trước hạn, khách hàng hưởng lãi
suất không kỳ hạn tại thời điểm tất toán. Khi đáo hạn, nếu khách hàng không đến tất
toán thì ngân hàng sẽ tự động nhập lãi và gốc và chuyển sang kỳ hạn tiếp theo. Khi
có nhu cầu khách hàng có thể cầm cố sổ tiêt kiệm để vay vốn với mức tối đa là 95%
giá trị sổ/ hợp đồng.
Theo số liệu thu thập được ta có những bảng sau:
Bảng 2.4: Cơ cấu tiền gửi theo kỳ hạn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status