TE M
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VÃN
rjc rjc rjc rjc rjc rj* rjc rj%
TRAN THỊ THÚY HẢO
BÁO IN VỚI VẤN ĐỂ
QUYỂN THAM GIA CỦA TRẺ EM HIỆN NAY
Chuyên ngành : Báo chí học
M ã sô : 5 .0 4 .3 0
LU Ậ N V ĂN T H Ạ C s ĩ K HO A HỌC BÁ O CHÍ
NG ƯỜI H ƯỚ NG DẪ N K H O A HỌC:
PG S.TS. Đ IN H VĂ N HƯỜNG
ĐAI HOC QUỐC GIA HA NỌI
trứng tám thông tin thư viện
V . lã. 6 6 . 3
Hà Nội - 2005
LỜI CẢM ƠN
Em xin trân trọng cảm ơn các thầy, cô giáo đã tận tình giảng dạy em
trong suốt những năm học qua.
Em xin trán trọng cảm ơn tất cả những người có tám huyết với sự
nghiệp bảo vệ, chăm sóc, giáo dục th ế hệ trẻ đã nhiệt tình giúp đỡ em trong
quá trình khảo sát thực hiện đề tài.
Đặc biệt, em xin trân trọng cảm ơn thầy giáo - Tiến sĩ Đinh Văn Hường
đã tận tình giúp đỡ em hoàn thành luận văn này.
Hà Nội, 2005
rry / • 9
Tác gùi
NHŨNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG ĐỂ TÀI
Công ước Quốc tế về Quyền trẻ em: Công ước
Gia đình và Trẻ em: GĐ&TE
Hoa Học Trò: HHT
Tiểu kết chương Hai 74
Chương Ba: Nhận xét về ưu, nhược điểm và một số kiến nghị, đề xuất nhằm
nâng cao chất lượng, hiệu quả của việc tuyên truyền, thực hiện Quyền tham
gia của trẻ em trên các sản phẩm báo chí khảo sát 76
3.1. Ưu, nhược điểm của các sản phẩm báo chí khảo sát trong việc tuyên
truyền và thực hiện Quyền tham gia của trẻ em
76
3.2. Các ý kiến đề xuất nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của việc tuyên
truyền, thực hiện Quyền tham gia của trẻ em trên báo chí
83
Tiểu kết chương Ba 90
KẾT LUẬN 91
DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO 93
PHU LUC 96
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Sự phát triển của trẻ em là điều kiện tiên quyết đối với tương lai của loài
người. Tiến bộ của trẻ em là mục tiêu chủ yếu trong sự phát triển chung của
mỗi quốc gia. Chính vì vậy, việc bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em từ lâu trở
thành mối quan tâm của cả cộng đồng quốc tế và từng nước trên thế giới.
Trên thế giới, cứ một phút, trung bình có khoảng 250 em bé chào đời.
Vào những năm đầu thế kỷ 21, tổng số trẻ em là trên 2 tỷ, chiếm hơn 1/5 dân
số thế giới. Khoảng 82% số trẻ em đang sống ở các nước đang và chậm phát
triển, riêng Châu á có khoảng 60%. Trẻ em Châu Phi chiếm tỉ lệ cao nhất:
47% dân số, tiếp đó là Mỹ La tinh 38%, Châu Đại dương 29%, Bắc Mỹ 22%,
Châu Âu 21%.
Báo chí đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo các quyền lợi trẻ em
sẽ được tôn trọng và bảo vệ. Nói cách khác, thành công của công tác bảo vệ,
Tuy nhiên, dù là ở loại báo chí viết cho trẻ em hay vì trẻ em thì ngoài
việc tuyên truyền và thực hiện tốt Nhóm Quyền tham gia của trẻ em thì ngoài
việc báo chí tạo điều kiện tối đa để trẻ em thể thực hiện Quyền tham gia của
trẻ em trên mặt báo, báo chí còn phải có khả năng tác động vào toàn thể xã
hội để những đối tượng có liên quan mật thiết tới cuộc sống và sự phát triển
3
của trẻ hiểu rõ hơn về khả năng, mong muốn, nhu cầu của trẻ em và có
những thay đổi về nhận thức, hành vi trong việc đối xử với trẻ em.
Đó chính là lý do khiến tác giả chọn đề tài: “Báo in với vấn đề Quyền
tham gia của trẻ em hiện nay” (khảo sát trên các báo: Thiếu Niên Tiền
Phong, Thiếu Nhì Dân Tộc, Hoa Học Trò, tạp chí Gia đình và Trẻ em trong
hai năm: 2003, 2004).
2. Tình hình nghiên cứu
Có thể nói, đây là một đề tài khá cụ thể. Trên thực tế, chưa có công trình
nào nghiên cứu sâu sắc và đầy đủ về vấn đề này, mặc dù cũng đã có một số đề
tài khoa học có liên quan tới trẻ em và truyền thông, như: “Báo chí với trẻ em”
(Khoa Báo chí thuộc Phân viện báo chí và Tuyên truyền - PGS. TS Nguyễn
Văn Dững chủ biên), “Trẻ em là trọng tâm - cẩm nang về nghiên cứu có sự
tham gia của trẻ em” (Save the Children, Sweeden), “Sổ tay phóng viên báo
chí vói trẻ em” (PGS.TS Nguyễn Văn Dững), “Quyền trẻ em và phương tiện
thông tin đại chúng” (Save the Children Sweeden)
Trong quá trình thực hiện khảo sát lấy tư liệu làm cơ sở nghiên cứu đề tài,
tác giả nhận thấy vấn đề Quyền tham gia của trẻ em trên báo chí là không chỉ
nhận được sự quan tâm từ phía công chúng trẻ em mà còn từ phía người lớn
(các nhà báo, thầy cô giáo, các bậc phụ huynh, cán bộ Đoàn, Đội ) Điều đó
cho thấy, đề tài luận văn đã đi đúng hướng.
4
3. Đối tượng nghiên cứu
Báo chí tuyên truyền, thực hiện bốn Nhóm Quyền của trẻ em, gồm:
Quyền được sống còn, Quyền được bảo vệ, Quyền được phát triển, Quyền
6. Phạm vi nghiên cứu và khảo sát
Do yêu cầu và tính chất của đề tài là tìm hiểu về việc tuyên truyền, thực
hiện Quyền tham gia của trẻ em trên báo in nên tác giả tập trung chọn lựa 3 tờ
báo cấp Trung ương có đối tượng độc giả là trẻ em, được trẻ em đặc biệt yêu
mến, gắn bó, đó là: báo TNTP, TNDT, HHT và 1 tờ tạp chí viết vì trẻ em là
GĐ &TE khảo sát trong thời gian hai năm: 2003, 2004.
7. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được tiến hành bằng nhiều phương pháp nghiên cứu, nhằm xem
xét, nhìn nhận vấn đề một cách toàn diện, trên nhiều bình diện khác nhau.
* Sử dung phương pháp luân của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hổ Chí
Minh, dường lối của Đảng Cổng sản Viẽt Nam vé sự nghiệp thông tin báo chí
với các thao tác phân tích, so sánh, tổng hợp
6
* Phương pháp anket (bảng hỏi): đây là phương pháp nghiên cứu định lượng,
thu thập thông tin gián tiếp thông qua bảng hỏi.
Tác giả tiến hành thăm dò ý kiến bằng bảng hỏi với kích thước mẫu là 3
đối tượng: Học sinh Tiểu học, Học sinh THCS và THPT. Tổng số học sinh trả
lời các phiếu hỏi ở 7 trường là 500 em, gồm: TH Hoàng Trù (huyện Nam
Đàn, tỉnh Nghệ An), THCS Lê Lợi (TP Vinh, tỉnh Nghệ An), THPT Kim Liên
(TP Hà Nội), THCS Lê Quý Đôn (TP Hà Nội), THPT Đào Duy Từ (TP Hải
Phòng), THPT Thái Phiên (TP Hải Phòng), PTDTNT Lục Nam (tỉnh Bắc
Giang). Những phiếu hỏi này tập trung vào việc nhận xét, đánh giá việc tuyên
truyền và thực hiện Quyền tham gia của trẻ em trên báo chí dành cho trẻ em
và vì trẻ em, những góp ý, mong muốn được thể hiện Quyền tham gia trên các
sản phẩm báo chí dành cho lứa tuổi của mình
* Phương pháp phỏng vẩn sâu: đây là phương pháp thu thập thông tin khi đi
sâu tìm hiểu kỹ về một vấn đề bằng việc tiếp xúc trực tiếp với những câu hỏi
trực tiếp, đi sâu vào nguyên nhân, động cơ cũng như lý giải những vấn đề
sâu xa dẫn đến việc hình thành cảm xúc, quan điểm của người được phỏng vấn
với vấn đề báo chí tuyên truyền và thực hiện Quyền tham gia của trẻ em.
xét đó.
8
Luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, còn
có 3 chương sau đây:
Chương Một: Quyền tham gia của trẻ em và tác động của báo chí trong
việc tuyên truyền, thực hiện Quyền tham gia của trẻ em.
1.1. Đường lối, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam trong sự nghiệp bảo
vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em.
1.2. Các nhóm Quyền trẻ em và ý nghĩa của việc thực hiện.
1.3. Khái niệm Quyền tham gia của trẻ em trong công tác truyền thông.
1.4. Quyền tham gia của trẻ em và các sản phẩm báo chí ở nước ta hiện nay.
Chương Hai: Kết quả khảo sát trên các báo: Thiếu Niên Tiền Phong,
Thiếu Nhi Dân Tộc, Hoa Học Trò, tạp chí Gia đình và Trẻ em trong hai
năm 2003, 2004.
2.1. Vài nét về các sản phẩm báo chí được khảo sát.
2.2. Vấn đề Quyền tham gia của trẻ em được thể hiện qua các sản phẩm báo
chí khảo sát.
2.3. Hình thức thể hiện của các sản phẩm báo chí khảo sát trong việc tuyên
truyền, thực hiện Quyền tham gia của trẻ em.
8. Kết cấu của luận văn
9
Chương Ba: Nhận xét về ưu, nhược điểm và một số kiến nghị, đề xuất
nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của việc tuyên truyền, thực hiện
Quyền tham gia của trẻ em trên các sản phẩm báo chí khảo sát.
3.1. Ưu, nhược điểm của các sản phẩm báo chí khảo sát trong việc tuyên
truyền và thực hiện Quyền tham gia của trẻ em.
3.2. Các ý kiến đề xuất nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của việc tuyên
truyền, thực hiện Quyền tham gia của trẻ em trên báo chí.
Kết luận
10
việc thực hiện pháp lệnh này. Đây là mốc đánh dấu sự phát triển của sự nghiệp
bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em Việt Nam.
Như vậy, lần đầu tiên, truyền thống đạo lý của nhân dân ta, nghĩa vụ của
gia đình, của các đoàn thể, của các cơ quan Nhà nước đối với trẻ em được thể
chế hoá bằng Pháp lệnh. Mọi người có trách nhiệm và nghĩa vụ pháp lý thực
hiện vì các quyền lợi của trẻ em.
Năm 1989, Luật bảo vệ sức khoẻ nhân dân qui định: trẻ em có quyền
được bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ, xã hội và Nhà nước có nhiệm vụ bảo đảm
cho trẻ em được hưởng Quyền đó. Chương 8 đề cập đến vấn đề sức khoẻ trẻ
em nói chung và chăm sóc trẻ em bị tàn tật. Ngày 25/7/1981, Hội đồng Bộ
trưởng ra quyết định củng cố tổ chức Uỷ ban thiếu niên nhi đồng Việt Nam.
Hai năm 1989, 1990 được coi là Năm thiếu nhi của Việt Nam. Trong thời gian
này, diễn ra Hội nghị quốc gia tổng kết 10 năm (1979-1989) thực hiện Pháp
lệnh bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em Việt Nam. Hội nghị thảo luận Dự thảo
Luật bảo vệ và chăm sóc trẻ em để lấy ý kiến đóng góp của các tầng lớp nhân
dân và được Quốc hội thông qua vào tháng 8 năm 1991. Luật phổ cập giáo
dục cũng được thông qua trong thời gian đó.
12
Năm 1994, Uỷ ban Bảo vệ và Chăm sóc trẻ em các cấp đã được thiết lập
và hoàn thiện. Uỷ ban chính là cơ quan đầu mối, phối hợp hoạt động bảo vệ,
chăm sóc, giáo dục trẻ em giữa các ngành và các tổ chức chính trị - xã hội có
liên quan nhằm bảo đảm việc thực hiện các mục tiêu vì trẻ em. Cơ chế phối
hợp hoạt động liên ngành giữa các cơ quan thành viên của u ỷ ban ở các cấp
được thiết lập và hoàn thiện. Với cơ chế phối hợp này, Uỷ ban Bảo vệ, Chăm
sóc và Giáo dục trẻ em Việt Nam tạo nên sự phối hợp đồng bộ trong việc kiến
nghị Nhà nước ban hành những văn bản luật pháp, chính sách liên quan đến
trẻ em. Năm 2002, Uỷ ban Bảo vệ và Chăm sóc trẻ em sát nhập với Uỷ ban
Dân số và Kế hoạch hoá Gia đình thành uỷ Ban Dân số Gia đình và Trẻ em.
Ở Việt Nam, Công ước đã được dịch sang tiếng Việt (tiếng phổ thông)
và một số tiếng dân tộc thiểu số (Thái, H ’Mong, Êđê, Bana). Nội dung của
điều kiện về nhân chủng học, văn hóa, khả năng nhận thức, sự phát triển tâm,
sinh lý, những quan niệm truyền thống, đạo đức, pháp lý của dân tộc và đặc
biệt là điều kiện kinh tế, xã hội của mỗi quốc gia
Văn kiện đầu tiên về Quyền trẻ em là Tuyên ngôn Giơ-ne-vơ về Quyền
trẻ em năm 1924 do Hiệp hội quốc tế các Quỹ cứu trợ trẻ em khởi thảo dựa
trên Hiến chương về Quyền trẻ em năm 1923. Từ đó, Quyền trẻ em trở thành
một khái niệm được khẳng định và thừa nhận. Ngày 20/11/1959, Đại hội đồng
14
LHQ nhất trí thông qua một bản tuyên ngôn khác về Quyền trẻ em, “Tuyên
ngôn về quyền trẻ em” với 10 Điều có nội dung tiến bộ hơn, trong đó Quyền
trẻ em được mở rộng hơn. Tuy nhiên, hai bản Tuyên ngôn này mới chỉ là
những tuyên bố có giá trị về đạo đức mà không có giá trị pháp lý ràng buộc
các nước thực hiện.
Năm 1978, LHQ thông qua Nghị quyết soạn thảo Công ước về Quyền trẻ
em trên cơ sở Tuyên ngôn về Quyền trẻ em năm 1959 và hai Công ước quốc tế
về các Quyền kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội và dân sự. Sau nhiều lần chỉnh
lý trên cơ sở đóng góp ý kiến của nhiều nước và các tổ chức quốc tế về Quyền
trẻ em, các nước cùng ký Công ước vào ngày 26/01/1990. Công ước là văn bản
đầu tiên đề cập toàn diện và chính xác về mặt pháp lý các Quyền trẻ em theo
hướng tiến bộ và nhân đạo, trên cơ sở thừa nhận trẻ em có quyền được chăm
sóc, giúp đỡ, bảo vệ đặc biệt. Công ước bắt đầu có hiệu lực kể từ ngày
2/9/1990. Đến ngày 31/3/1998, 191 quốc gia phê chuẩn hay tham gia Công
ước (tức là chịu sự ràng buộc của Công ước).
Công ước là văn kiện quan trọng nhất về Quyền con người của trẻ em
trong hệ thống luật pháp quốc tế về Quyền con người, tổng hợp mọi Quyền
con người, ví dụ: Quyền dân sự, Quyền chính trị cũng như Quyền về kinh tế,
xã hội và văn hoá. Công ước trở thành cơ sở cho chương trình hành động của
nhiều quốc gia trên thế giới trong công tác về trẻ em.
Công ước gồm lời mở đầu và 3 phần chính bao gồm 54 Điều:
* Lời mở đáu: Nêu lên những nguyên tắc cơ bản của LHQ thể hiện trong
như: được ăn uống đầy đủ, được hưởng giáo dục, được chăm sóc y tế khi cần
thiết, được giúp đỡ trong trường hợp khẩn cấp Những nhu cầu đó chỉ rõ,
“tồn tại” chưa đủ, mà chất lượng cuộc sống là vô cùng quan trọng.
- N hóm Quyền p h á t triển: Là những Quyền được đáp ứng các nhu cầu cho sự
phát triển toàn diện. Khái niệm “phát triển” không chỉ đơn thuần là chuẩn bị
cho các em một cuộc sống làm người lớn, mà còn bao hàm việc cung cấp
những điều kiện tối ưu cho cuộc sống hiện tại của trẻ em. Sự phát triển của các
em được khái quát toàn diện, bao gồm các biện pháp nhằm tạo ra một môi
trường có lợi cho sự tồn tại và phát triển của trẻ em, chẳng hạn: sự phát triển
thể chất, tinh thần, trí tuệ, đạo đức, tâm lý xã hội.
Công ước đề cập đến sự “phát triển” của trẻ em thông qua những Quyền
có một cuộc sống đầy đủ, Quyền được học tập, được bảo vệ chống lại sự bóc
lột và lạm dụng, Quyền được nghỉ ngơi, giải trí, Quyền được chăm sóc sức
khoẻ, được tham gia các hoạt động văn hoá kể cả sự cần thiết phải hỗ trợ
cho các gia đình có khó khăn trong việc đáp ứng các nhu cầu để trẻ em phát
triển.
- Nhóm Quyền được bảo vệ: Là những Quyền nhằm bảo vệ trẻ em khỏi mọi
hình thức bị bỏ rơi và lạm dụng. Trong thực tế, trẻ em là đối tượng ít có khả
năng tự bảo vệ mình nhất, vì thế, tất cả các em cần được bảo vệ đặc biệt mà
không có sự phân biệt giới tính, quốc tịch, văn hoá và những yếu tố khác.
17
Công ước đưa ra các biện pháp đặc biệt bảo vệ trẻ em khỏi sự phân biệt
đối xử: Nhà nước phải có nghĩa vụ bảo vệ trẻ em chống lại bất kỳ hình thức
phân biệt đối xử nào, nghĩa là Nhà nước phải có những biện pháp thích hợp
đảm bảo mọi dịch vụ xã hội cơ bản, như: giáo dục, y tế, pháp lý phải đến được
với mọi trẻ em, kể cả những em không có khả năng tài chính.
- Nhóm Quyền tham gia: Là những Quyền cho phép trẻ em tham dự vào
những công việc ảnh hưởng đến cuộc sống của trẻ. Trẻ em là con người, thành
viên của xã hội, của gia đình, là một cá thể phát triển, một chủ thể tích cực có
Quyền với những tình cảm và suy nghĩ riêng. Vì vậy, các em có quyền tự do
hội tiếp cận với các PTTTĐC. Do đó, những người làm công tác truyền thông
cần hiểu rõ: Công ước qui định “Nhóm Quyền tham gia là Nhóm Quyền cho
phép trẻ em tham dự vào những công việc ảnh hưởng đến cuộc sống của trẻ.
Nhóm Quyền này được quy định bởi các Điều:
- Điều 12: Trẻ em có quyển tự do trình bày ý kiến của mình, những ý kiến đó
phải được tôn trọng và xem xét.
Thực tế cho thấy, không phải những gì người lớn nghĩ rằng là vì quyền
lợi của trẻ” đều thực sự tốt cho trẻ, đáp ứng đúng nhu cầu, nguyện vọng của
trẻ. Vì vậy, trẻ em có quyền bày tỏ ý kiến về mọi mặt trong đời sống liên quan
đến các em, từ việc học tập, chăm sóc sức khỏe, các mối quan hệ trong gia
đình, xã hội đến các vấn đề nảy sinh hàng ngày. Người lớn phải lắng nghe
19
và tôn trọng ý kiến của các em. Dĩ nhiên, không phải ý muốn nào của các em
cũng buộc người lớn phải thực hiện nếu như điều đó không hợp lý.
Bên cạnh đó, Quyền tham gia được áp dụng bình đẳng với mọi trẻ em,
không phân biệt đối xử.
- Điều 13: Trẻ em có quyền tự do biểu đạt, tìm kiếm và tiếp nhận mọi loại
thông tin và tư tưởng.
Điều 12 và Điều 13 có mối liên quan mật thiết vì Điều 13 nhấn mạnh đến
Quyền trẻ em được tham gia các hoạt động của các PTTTĐC. Điều 13 qui
định rõ: “Quyền tự do tìm kiếm, tiếp nhận và phổ biến tất cả các loại thông tin
và tư tưởng không kể biên giới; hoặc qua truyền miệng, bản viết hay bản in,
dưới bất kỳ hình thức nghệ thuật hoặc bất kỳ phương tiện truyền thông nào
khác mà trẻ em lựa chọn”.
Rõ ràng, trong lĩnh vực truyền thông dành cho lứa tuổi mình, trẻ em bình
đẳng với người lớn. Người lớn có trách nhiệm khuyến khích, cổ vũ, động viên,
tạo điều kiện để trẻ em tham gia vào quá trình truyền thông.
- Điéu 14: Trẻ em có quyền tự do tư tưởng, tín ngưỡng và tôn giáo.
- Điều 15: Trẻ em có quyền tự do kết giao và hội họp hòa bình.
- Điều 17: Trẻ em có quyền tiếp xúc với thông tin và tư liệu phù hợp với lợi