ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SƯPHAM
CAO VIẾT SƠN
Cơ SỎ KHOA HỌC VÀ THựC TIEN
ĐÊ XÂY DỰNG MÔ HÌNH ĐẢM b ả o CHÂT lư ợ n g
■ ■
DÙNG CHO CÁC TRƯỜNG CAO ĐĂNG sư PHẠM MIỀN NÚI
TRÊN CO SỎ TRƯỜNG CAO ĐANG sư PHẠM SON LA
H Ậ \ V Ă \ TH ẠC’ SỸ
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60.14.05
Người hướng dẫn khoa học : GS-TS NGUYEN đứ c c h ín h
HÁ NOI - 2003
V-Lo k h i \
Muât! oàn Çfhae iff
dao r()iêt <Sđn
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
2. Mục đích nghiên cứu
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4. Giả thuyết khoa học
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
6. Giới hạn của đề tài
7. Phương pháp nghiên cứu
Chương 1
NHẬN THỨC VỀ CHẤT LƯỢNG TRONG GIÁO DỤC ĐÀO TẠO VÀ
MỘT SỐ MÔ HÌNH QUẢN LÝ CHAT LƯỢNG GIÁO DỤC ĐẠI HỌC
TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
1.1 Một số nhận thức và quan niệm về "chất lượng" trong giáo
dục đào tạo
28
28
33
41
4
JJjiâ n o in t Ç Jh a e i i ị
(JfH) (J)iê't cSfl’tl
2.1 Một số nét khái quát về tình hình kinh tế xã hội các tỉnh miền
núi. 41
2.1.1 Thuận lợi 41
2.1.2 Khó khăn 44
2.2 Trường cao đẳng sư phạm trong sự phát triển kinh tế xã hội
m iền núi. 48
Chương 3
BỘ TIÊU CHUẨN ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG VÀ CÁC ĐlỀU KIỆN
ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG DÙNG CHO CÁC TRƯỜNG CĐSP MIÊN NÚI
TRÊN C ơ SỞ TRƯỜNG CĐSP SƠN LA 62
3 .1 Mục tiêu xây dựng bộ tiêu chuẩn 62
3.2 Cơ sở, nguyên tắc xây dựng bộ tiêu chuẩn 62
3.3 Bộ tiêu chuẩn đánh giá và kiểm định chất lượng đào tạo dùng
cho các trường CĐSP miền núi trên cơ sở trường CĐSP Sơn la. 63
3.4 Hướng dẫn sử dụng bộ tiêu chuẩn đánh giá và kiểm định chất
lượng các trường CĐSP miền núi. 85
Chương 4
NHŨNG CHIẾN LƯỢC THEN CHốT NHẰM XÂY DỤNG
TRƯỜNG CĐSP SƠN LA ĐẠT CHUẨN 88
4.1 Chiến lược về tổ chức bộ máy 88
4.2 Chiến lược về cán bộ 91
4.3 Chiến lược về công tác học sinh, sinh viên 94
4.4 Chiến lược về chương trình, giáo trình, phương pháp giảng dạy
ả đây không chỉ là lực lượng lao động trực tiếp tạo ra của cải vật chất cho xã
hội mà còn là lực lượng sử dụng nhận thức, trí tuệ của mình để cải tạo xã hội
theo chiều hướng tích cực nhằm phục vụ cho nhu cầu ngày càng cao của chính
ninh. Nếu xét ở từng quốc gia cụ thể thì có thể thấy rằng: Sự phát triển kinh tế
Kâ hội của mỗi nước phụ thuộc vào nhiều yếu tố và điều kiện, hoàn cảnh cụ
hể của mỗi nước, nhưng một trong những yếu tố không thể thiếu được và
nang tính tiên quyết là tầm nhìn chiến lược phát triển về con người. Trong
;húng ta ai cũng nhận thức: Nước ta xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật của
6
J J j t â t t v à n Ç J l n i e
M Ị
@ i i o < V i ê ' t S đ n
CNXH trong bối cảnh và xuất phát điểm rất thấp, từ một nước thuộc địa nửa
phong kiến đi lên CNXH, lại trải qua nhiều cuộc chiến tranh với các chế độ
thực dân và đế quốc sừng sỏ trên thế giới. Mặc dù dân số nước ta đông, nguồn
lao động dồi dào, nhưng chất lượng nguồn lao động nước ta còn nhiều hạn
chế: Trình độ học vấn của người dân còn thấp, khả năng tiếp thu khoa học kỹ
thuật và công nghệ tiên tiến còn chậm, chưa linh hoạt và năng động trong cơ
chế mới, chậm đổi mới tư duy, nhất là tư duy kinh tế T ừ những bất cập nêu
trên, nên có thể thấy rằng, mặc dù chúng ta đã tiến hành công cuộc xây dựng
CNXH gần 50 năm, bên cạnh những thành tựu, kết quả đã đạt được không thể
phủ nhận, nước ta vẫn còn gặp nhiều khó khăn, bất cập: Tốc độ tăng trưởng
kinh tế còn chậm, thu nhập bình quân đầu người còn thấp, cơ sở hạ tầng, vật
chất kỹ thuật còn chưa đáp ứng kịp thời với yêu cầu của sự nghiệp Công
nghiệp hoá, Hiện đại hoá đất nước, đời sống vật chất và tinh thần của người
dân còn thấp, nhất là vùng núi, hải đảo và vùng nông thôn. Trước thực trạng
như vậy, việc tìm ra con đường, bước đi thích hợp trong giai đoạn hiện nay là
điểu hết sức cấp bách và cần thiết, có xác định được mục tiêu và con đường đi
thích hợp mới mong muốn đưa nước ta sớm thoát khỏi đói nghèo, lạc hậu, xoá
dần khoảng cách giàu nghèo với các nước trên thế giới, đưa nước ta tiến
những động lực quan trọng để thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại
hoá, tăng trưởng nền kinh tế nhanh và bền vững. Muốn làm được điều đó,
trước hết những nhà hoạch định chính sách và những người làm công tác giáo
dục mà đầu tiên là đội ngũ các thầy cô giáo phải coi không ngừng nâng cao
chất lượng giáo dục đào tạo là mục tiêu then chốt và là chiến lược hàng
đầu.Với ý nghĩa đó, Đảng ta đã xác định mục tiêu chiến lược phát triển
GD&ĐT từ năm 2001 đến 2010 là: “Phải tạo sự chuyển biến cơ bản, toàn diện
trong phát triển giáo dục; thực hiện chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá; tiếp
tục nìâng cao chất lượng toàn diện; đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học,
hệ thống trường lớp, công tác quản lý giáo dục; chăm lo phát triển giáo dục
mầrm non; củng cố thành tựu xoá mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học; đẩy
nhanh tiến độ phổ cập trung học cơ sở; coi trọng và đẩy mạnh giáo dục hướng
nghiệp và phân luồng sau trung học cơ sở, tăng nhanh tỉ lệ lao động được đào
tạo trong toàn bộ lao động xã hội; mở rộng hợp lý quy mô và làm chuyển biến
rõ nết về chất lượng và hiệu quả giáo dục đại học; tạo điều kiện cho mọi
ngườà, ở mọi lứa tuổi được học tập thường xuyên, suốt đời”. (Ngành giáo dục
8
M i t ( h t m i n Ç J h t fR s i ) f / a o < V i ê i S o n
đào tạo thực hiện nghị quyết Trung ươníỊ 2 ịkhoá VÍU) và nghị quyết Đại hội
đáng lần thứ IX, Nxb Giáo dục(2002), tr .44)
Từ lâu nay trong nhiều lĩnh vực đời sống xã hội, nhất là trong các lĩnh
vực hoạt động sản xuất, kinh tế, người ta thường nói nhiều tới vấn đề “chất
lượng”, nâng cao chất lượng sản phẩm, hàng hoá Các nhà sản xuất, các nhà
kinh tế luôn coi trọng tiêu chí nâng cao chất lượng sản phẩm là mục tiêu hàng
đầu và có ý nghĩa “sống còn” đối với một cơ sở sản xuất, kinh doanh nào đó.
Ngoài lĩnh vực sản xuất, kinh doanh Hiện nay trong lĩnh vực hoạt động giáo
dục đào tạo vấn đề “chất lượng” cũng đang được các nhà quản lý giáo dục,
các lực lượng tham gia hoạt động giáo dục và toàn xã hội quan tâm sâu sắc.
Vấn đề đổi mới giáo dục đào tạo trong giai đoạn hiện nay nhằm không ngừng
nâng cao chất lượng trong hoạt động giáo dục đào tạo là một trong những
sở giáo dục khác coi đó là chuẩn mực, là “thước đo” để vươn tới.
Với nhận thức, coi nguồn lực “con người” là lực lượng là nguồn lực chủ
đạo có thể cải biến xã hội theo chiều hướng tích để phục vụ nhu cầu ngày
càng cao của chính “con người”. Do đó, sự chuyển biến trong xã hội nhanh
hay chậm, phụ thuộc rất lớn vào chất lượng của chính nguồn lực này, mà chất
lượng nguồn lực “con người” thì phụ thuộc rất lớn vào chất lượng đào tạo của
ngành giáo dục mà trước hết là các nhà trường và các cơ sở giáo dục khác.
Các trường CĐSP miền núi nói chung và trường CĐSP Sơn La nói riêng trong
bối cảnh hiện nay có một vị trí chức năng và nhiệm vụ vô cùng quan trọng
trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội ở các tỉnh miền núi là : Đào tạo và
bồi dưỡng đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý có trình độ từ Cao đẳng trở xuống
bao gồm từ bậc học Mầm non đến THCS nhằm đáp ứng nguồn lực có chất
lượng, nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài để góp phần phát triển kinh tế xã
hội miền núi ngang bằng với các địa phương khác trong phạm vi cả nước và
trong khu vực. Với vị trí chức năng và nhiệm vụ như vậy có thể thấy rằng các
trường CĐSP m iền núi có một vị thế hết sức quan trọng trong chiến lược phát
triển kinh tế xã hội các tỉnh miền núi, khi mà các tỉnh miền núi còn gặp rất
nhiều khó khăn về cả kinh tế và mặt bằng dân trí; nguồn lao động vừa thiếu lại
vừa “yêu”, tỉ lệ lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật nhất định còn thấp
:hưa đáp ứng kịp với yêu cầu, đòi hỏi hiện nay. Với thực tế như vậy, trong
những năm qua Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm, coi trọng và ưu tiên phát
riển kinh tế xã hội miền núi, mà trong đó các trường CĐSP được coi là các
10
{ lit( in OĂM Ç Jhaa St} (àao C ị)iêí S tfti
trường trọng điểm để ưu tiên đầu tư phát triển. Bên cạnh nhiệm vụ đào tạo và
bói dưỡng đội ngũ giáo viên cho các cấp học, các trường CĐSP miền núi còn
3ược coi là các trung tâm giáo dục cộng đồng, là trung tâm văn hoá xã hội ở
nỗi địa phương, nhằm đào tạo nguồn lao động có chất lượng đáp ứng sự
Ìghiệp phát triển văn hoá xã hội ở các tỉnh miền núi trong giai đoạn hiện nay.
Dể đào tạo có chất lượng đội ngũ giáo viên cho các miền núi, trước hết các
trị q.iổc gia(2001 ), tr.181 ).
Từ các mục tiêu chiến lược đã đặt ra có thể thấy rằng, hơn lúc nào hết sự
nghiệp phát triển giáo dục đào tạo luôn luôn được coi trọng và quan tâm hàng
đẩu. Từ thực tế giáo dục miền núi trong những năm qua cho thấy còn nhiều
vấn đề bất cập: tình trạng thiếu trường, thiếu lớp còn phổ biến, tỉ lệ học sinh
bỏ học nhiều, điều kiện dạy và học còn gặp nhiều khó khăn, thiếu cơ sở vật
chất, trang thiết bị phục vụ cho dạy và học (nhất là các thiết bị thí nghiệm,
thực hành); tình trạng thiếu giáo viên cục bộ còn diễn ra ở nhiều nơi Có thể
nói, nhìn một cách tổng quan giáo dục miền núi nói chung và Sơn La nói riêng
thì chất lượng giáo dục đào tạo còn thấp so với mặt bằng chung của cả nước và
trong khu vực, đội ngũ giáo viên còn thiếu và yếu chưa đáp ứng kịp thời với sự
nghiệp đổi mới hiện nay. Do vậy, đổi mới sự nghiệp giáo dục miền núi hiện
nay là nhiệm vụ trọng tâm và cần được quan tâm, đầu tư giải quyết. Một trong
những mục tiêu hàng đầu về đổi mới sự nghiệp giáo dục của các tỉnh miền núi
là nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo, cũng như đưa ra các tiêu chí, tiêu
chuẩn để xây dựng các mô hình đảm bảo chất lượng đúng với đặc thù địa bàn
miền núi dùng cho các trường phổ thông cũng như các cơ sở giáo dục khác.
Trường CĐSP Sơn La nói riêng và trường CĐSP miền núi nói chung
được thành lập trên cơ sở sáp nhập trường sư phạm Mầm non, THSP, trường
Cán bộ quản lý giáo dục trước đây. Trong nhiều năm qua Đảng, Chính quyền
/à các tổ chức Đoàn thể ở từng địa phương đã ung hộ và tạo mọi điều kiện
3ằng vật chất, tinh thần. Đặc biệt là sự cố gắng, biết vươn lên, khắc phục khó
vhăn của các thế hệ thầy trò, nên trong nhiều năm qua các trường CĐSP miền
lùi về cơ bản đã đào tạo và bồi dưỡng được một đội ngũ giáo viên từ Mầm
lon đến THCS đáp ứng kịp thời cho sự nghiệp phát triển giáo dục miền núi
nhất là trong công tác phổ cập GDTH và XMC), tạo được niền tin trong nhân
lân. Trong xu thế đổi mới hiện nay, các trường CĐSP miền núi có một vị trí
lết sức quan trọng: Bên cạnh vai trò, chức năng của mình là đào tạo và bồi
lurỡng giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục có trình độ từ Cao đẳng trở xuống
12
rurờng CĐSP Sơn La và một số trường CĐSP khác.
13
£ j t ậ t t {U til Ç Jhtfe s ụ @ afì r( ) i ỉ i <St)'n
3. Khách thể và đôi tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Cơ cấu tổ chức, quy trình đào tạo và các hoạt động xã hội của một số
rường CĐSP miền núi, trong đó chủ yếu là trường CĐSP Sơn La
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Dựa trên cơ sở lý luận khoa học và thực tiễn về chất lượng và quản lý
;hất lượng trong giáo dục đào tạo, tìm hiểu cơ chế tác động tới chất lượng của
}uá trình đào tạo, qua đó đề xuất các tiêu chuẩn với những tiêu chí cụ thể, phù
ìợp để xây dựng một mô hình đảm bảo chất lượng dùng cho các trường CĐSP
niền núi trên cơ sở trường CĐSP Sơn La và một số trường CĐSP khác.
4. Giả thuyết khoa học
Chất lượng đào tạo giáo viên trong các trường CĐSP là một thực thể có
:ơ chế tác động bởi nhiều yếu tố bên trong và bên ngoài quy trình đào tạo.
'íếu xác định được các yếu tố này thông qua bộ tiêu chuẩn với những tiêu chí
ụ thể và tác động vào đó để các yếu tố lại tác động trở lại tới chất lượng, thì
hất lượng đào tạo sẽ không ngừng được nâng lên.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện nghiên cứu đề tài này, tôi đã xác định và đặt ra ba nhiệm
ụ nghiên cứu cơ bản sau:
5.1 Nghiên cứu một số vấn đề lý luận về chất lượng và quản lý chất
ượng ở một số lĩnh vực mà chủ yếu là lĩnh vực giáo dục đào tạo để làm cơ sở
hoa học cho việc xây dựng mô hình đảm bảo chất lượng dùng cho các trường
"ĐSP miền núi trên cơ sở các tiêu chuẩn với những tiêu chí cụ thể, khoa học
à phù hợp
5.2 Tìm hiểu thực trạng ở một số trường CĐSP miền núi nói chung và
'Uờng CĐSP Sơn La nói riêng làm cơ sở thực tiễn để xây dựng các tiêu chuẩn
lảm bảo chất lượng
Để đi đến một nhận thức đúng đắn, khoa học về khái niệm “chất lượng”
rong lĩnh vực giáo dục đào tạo, trước hết chúng ta cần tìm hiểu một số quan
liệm về “chất lượng” trong lĩnh vực kinh tế. Có thể nói rằng vấn đề chất lượng
rong thời đại ngày nay luôn là mối quan tâm hàng đầu của các nhà sản xuất
đnh doanh và cung cấp dịch vụ. Không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm
à mục tiêu sống còn của các doanh nghiệp. Mặc dù vấn đề chất lượng có tầm
juan trọng như vậy, nhưng mỗi người lại có những cách hiểu “chất lượng”
heo cách riêng của mình, chưa có sự thống nhất. Chất lượng thông thường
ìược hiểu như một cái gì đó, mang hàm ý tuyệt đối hoặc tuyệt hảo, khó có thể
tạt tới được. Trong cơ chế thị trường hiện nay, quan niệm về chất lượng luôn
Ịắn với việc sử dụng sản phẩm hay dịch vụ và chất lượng thường được gắn
;hính bằng sự hài lòng của khách hàng. Tất nhiên không chỉ nghe ý kiến của
:hách hàng và đáp ứng nhu cầu của họ là đủ mà các nhà sản xuất và cung cấp
lịch vụ còn phải lưu tâm giải quyết nhiều vấn đề khác. Hiện nay duy trì chất
ượng và nâng cao chất lượng không còn là chuyện mới, trong chúng ta ai
ũng biết bất cứ một sản phẩm nào cũng cần phải đạt được những chuẩn mực
hất lượng nhất định, tạo ra sự hài lòng của khách hàng, cung cấp dịch vụ
ứng đáng đồng tiền họ bỏ ra mới có thể tiêu thụ được. Chất lượng được duy
rì ổn định tạo lòng tin trong khách hàng, chính thông qua kiểm tra chất lượng,
ihững sản phẩm nào mà đáp ứng được các chuẩn mực chất lượng thì được lưu
lành, những sản phẩm nào không đảm bảo chất lượng thì bị loại bỏ. Tất nhiên
lây chỉ là biện pháp nhằm giải quyết tình thế mà không mang tính lâu dài và
■hông giải quyết vấn đề chất lượng một cách triệt để, hay nói một cách khác
lây chỉ là một khâu kiểm tra chất lượng sản phẩm trong một dây truyền sản
uất khép kín vì thường gây lãng phí bởi các sản phẩm bị loại bỏ khá nhiều.
Jên có thể hiểu một cách sơ bộ rằng muốn có một sản phẩm có chất lượng,
16
ẤÙHỊH o ă n Ç îh tte iÇf @MO rO i ê t
r
Son
ách khoa học, chính xác còn là vấn đề khó, nên trong lĩnh vực giáo dục đào
I • ■ ' ' r. .>;
Ỵ . : !•’
LO Ị n ò
íliiậit oìín ÇJUue sîj @tttì (Viết Sfí'n
tạo khi muốn đưa ra một định nghĩa về “chất lượng” với đầy đủ nội hàm của
nó còn là điều khó hơn nhiều. Sau đây chúng ta cùng tìm hiểu và phân tích
những quan niệm về chất lượng trong giáo dục đào tạo.
1.1 Một sô nhận thức và quan niệm về “chất lượng” trong giáo dục
iào tạo
Trong lĩnh vực giáo dục đào tạo từ lâu nay chúng ta thường nói chất
ượng thế này, chất lượng thế khác, phải không ngừng nâng cao chất lượng
ỉào tạo nhất là đối với các nhà trường, các cơ sở giáo dục khi mà họ đang
)hấn đấu để nâng cao chất lượng đào tạo. Chất lượng và không ngừng nâng
;ao chất lượng được coi là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu và có ý nghĩa sống
;òn đến sự tồn tại và phát triển của mỗi nhà trường, đó cũng chính là thước đo
ìể đánh giá, so sánh trường này với trường kia, cơ sở giáo dục này với cơ sở
ịiáo dục khác. Chất lượng đào tạo còn là cơ sở giúp các nhà quản lý giáo dục
ĩầ. cả cộng đồng xã hội đánh giá, phân loại giữa các nhà trường. Mặc dù có
ầm quan trọng như vậy nhưng chất lượng vẫn là một khái niệm khó định
Ìghĩa, khó xác định, khó đo lường vì cách hiểu, cách quan niệm và tiếp cận ở
nỗi con người có sự khác nhau, khó thống nhất. Không giống như trong lĩnh
'ực sản xuất kinh doanh và dịch vụ, chất lượng trong giáo dục đào tạo là một
hái niệm rất trừu tượng, khó xác định, nên khi tiếp cận ở góc độ này thì có
ách hiểu chất lượng thế này, còn khi tiếp cận ở góc độ khác lại có cách hiểu
'ề chất lượng khác đi.
Sau đây chúng ta cùng tìm hiểu, phân tích một số quan niệm về chất
ượng trong giáo dục đào tạo
/■/■/ M ôt s ố quan niêm về chất lương
1.1.1.ỉ Chất lượng được đánh giá bằng “đầu và o ”: Chất lượng của một
ịiá trị “đầu vào”. Nếu “giá trị gia tăng” cao thì chất lượng của trường đó cũng
cao và ngược lại. Theo quan niệm này thì “giá trị gia tăng” có được là nhờ sự
ốc động của quá trình giáo dục trong mỗi nhà trường, nếu quá trình giáo dục
có hiệu quả thì “giá trị gia tăng” sẽ cao và ngược lại. Tuy nhiên, hiện nay do
ầệ thống giáo dục mỗi nước rất đa dạng, mỗi trường đều có đặc thù riêng, nên
)hó có thể thiết kế được bộ công cụ dùng để đo chất lượng “đầu vào” và “đầu
ra” nhằm tìm được hiệu số giữa chúng. Do đó, nếu quan niệm chất lượng bằng
‘giá trị gia tăng” thì chỉ là định tính nhiều hơn là định lượng.
19
£ u ộ h t ìủ n Ç Jhifc MJ (^tIf) r()iê't cStfn
Ị .ỉ .1.4 Chất lượng được đánh í>iá bằng “iịiá tri học thuậ t”: Quan điểm
tùy cho rằng: “chất lượng” được đánh giá bằng năng lực học thuật của đội ngũ
giáo viên, giảng viên nhà trường đó. Nếu trường nào có đội ngũ giáo viên,
giảng viên có học hàm, học vị cao, có uy tín và có nhiều kinh nghiệm về mặt
ứ.oa học và thực tế thì trường đó được coi là trường có chất lượng. Đây cũng
à một cách quan niệm, nhưng trong thực tế điều này chưa hẳn đúng như vậy,
/ì nhiéu trường có đội ngũ giáo viên, giảng viên có học hàm, học vị cao, có uy
ÍĨ1 về mặt khoa học, có nhiều kinh nghiệm thực tế, nhưng đa phần họ chỉ tham
ỊĨa công tác nghiên cứu khoa học hoặc làm công tác quản lý là chủ yếu mà ít
ham gia giảng dạy trực tiếp. Do vậy cũng không thể chỉ dựa vào “giá trị học
huât” để khẳng định chất lượng của một nhà trường.
1.1.1.5 Chất lượng được đánh giá bằng “văn hoá tổ chức riên g”: Mỗi
rường đều có một “văn hoá tổ chức riêng”, không trường nào giống trường
lào. Do đó mỗi nhà trường phải tạo cho mình một “văn hoá tổ chức riêng” để
:hông ngừng nâng cao chất lượng đào tạo của trường đó. Quan niệm này xuất
thát chủ yếu từ lĩnh vực công nghiệp và thương mại, nên trong thực tế ít vận
lụng để đánh giá chất lượng trong giáo dục đào tạo.
Ị.Ỉ.Ỉ .6 Chất lượng được đánh giá bằng “kiểm toán”: Theo quan điểm
tày thì chất lượng của một nhà trường, được đánh giá bằng việc xem xét
rường đó có thu thập đủ các thông tin cần thiết cho việc ra các quyết định hay
rợng cao thì phải đặt ra các tiêu chuẩn, các chuẩn mực và phấn đấu nhằm đạt
ược các tiêu chuẩn và các chuẩn mực đó. Tất nhiên khi xây dựng các tiêu
nuẩn, các chuẩn mực phải dựa vào đặc thù và điều kiện cụ thể của từng
ưdng để có thể phấn đấu và đạt được. Trong thực tế hiện nay, nếu theo cách
ếp cận này thì các chuẩn mực luôn có xu hướng thay đổi và điều chỉnh cho
nù hợp, bởi tri thức khoa và công nghệ đang có những bước tiến mới, tri thức
)ài người ngày càng phong phú. Do đó chất lượng ở đây không thể là một
hầi niệm tĩnh, mang tính nhất thời.
1.1.2.3 Chất lượng là sự phù hợp với mục đích:
K hác với cách tiếp cận chất lượng là sự phù hợp với các tiêu chuẩn, theo
tích tiếp cận này các nhà hoạch định chính sách và các nhà quản lý giáo dục
oi chất lượng là sự phù hợp với mục đích đặt ra từ trước cũng như khả năng
ạt được mục đích đó đến đâu. Cách tiếp cận này cũng cho phép cung cấp một
]nỉh m ẫu để xác định các mà một sản phẩm hay một dịch vụ cần có. Đây
21
Ế a tận t u ïtt Ç Jhue i f f @t!fí rO i ỉ í (So n
:ũng là một khái niệm động, phát triển theo thởi gian, tuỳ thuộc vào sự phát
triển kinh tế xã hội của đất nước và tuỳ thuộc vào đặc thù của từng loại trường.
Có nhiều cấp độ khác nhau khi đánh giá chất lượng theo cách tiếp cận này:
Vếu chỉ xem xét chất lượng dưới góc độ chỉ cung cầp nguồn lao động được
ìào tạo cho các nhà sử dụng lao động thì chất lượng ở đây chỉ được xem là
nức độ đáp ứng sinh viên tốt nghiệp cho thị trường lao động về số lượng và
oại hình; còn nếu xem xét chất lượng của cả quá trình đào tạo thì chất lượng
ạì (tược nhìn nhận dưới góc độ là khối lượng kiến thức, những kỹ năng vận
lụng m à sinh viên có được sau khoá h ọ c
Tuy nhiên theo cách tiếp cận này, sẽ bộc lộ những bất cập đó là: Phải
các định chính xác mục tiêu (sứ mạng) của từng thời kỳ, để qua đó cụ thể hoá
'ho từng khối trường, từng trường cụ thể, thậm chí đến từng khoa hay từng
choá đào tạo. Điều này là một việc làm không đơn giản, hơn nữa ngay nội tại
nột số trường cũng có thể có nhiều mục đích đặt ra, mà giữa các mục đích đó
Trường phái thứ nhất: Lý thuyết về sự khan hiếm của chất lượng
Theo trường phái này, đã đưa ra một số tiêu chí như: Chi phí lớn thì chất
ượng cao; chỉ có những trường đại học lớn thì mới có chất lượng; chỉ khi
uyển chọn khắt khe thì mới có chất lượng Dựa trên các tiêu chí như vậy có
hổ thấy: Chất lượng có quan hệ thuận với chi phí. Điều này không có nghĩa
hi phí càng cao thì chất lượng càng cao. Một số quan điểm khác cho rằng có
hổ dựa trên chất lượng giảng dạy để đánh giá chất lượng của nhà trường.
' rong thực tế kết quả đào tạo phụ thuộc rất nhiều sự học tập tích cực của học
inh, chứ không hoàn toàn phụ thuộc vào việc giảng dạy của giáo viên. Tuyển
'họn “ đầu vào” khắt khe là một cơ sở để có chất lượng, nhưng các điều kiện
:hác trong quá trình giảng dạy cũng có ý nghĩa quyết định đến chất lượng.
'Tieo tĩrường phái này thì chất lượng được hiểu theo nghĩa tuyệt đối. Như vậy,
ứ việc xem xét khái niệm chất lượng theo quan điểm này đã chuyển sang xem
.ét các vấn đề điều kiện hình thành chất lượng, so sánh của các sản phẩm
ỉhác nhau C hính quan niệm này cho rằng chỉ có số ít sản phẩm có chất
irợng, nên đã hạn chế tác dụng của các hoạt động nâng cao chất lượng.
Trường phái thứ hai: Lý thuyết gia tăng giá trị
Theo trường phái này, các trường có chất lượng cao là tập trung làm
ung sự khác biệt về kiến thức, kỹ năng và thái độ của học sinh từ khi nhập
23
■L uận o à n Ç
7
h (U ‘ s ụ @ a o r()ìi>t cS<>'
4
!
trưừng đến khi ra trường. Nó đánh giá cao sự gia tăng giá trị trong kiến thức,
kỹ mng, kỹ sảo của học sinh.
Trường phái thứ ba: Lý thuyết về chất lượng xác định theo sứ mạng và
mục nêu
Trường phái này cho rằng: Chất lượng là sự phù hợp với những tuyên bố
ó thể hiểu, đây là bước( thao tác) cuối cùng đê xét một đối tượng học sinh,
nột lớp hay một khoá học nào đó, có đủ điều kiện để công nhận tốt nghiệp
lay không? Bằng việc kiểm tra lại toàn bộ hổ sơ, bảng điểm của các môn học
rong toàn khoá, cũng như các giấy tờ có liên quan khác Đ ối với những
'U’ờng hợp có đủ các điều kiện theo quy định thì được xét công nhận tốt
ghiệp và ngược lại. Khi đó học sinh đó mới có đủ “giấy thông hành” để tham
ia vào thị trường lao động.
1.1.3.2 Đảm bảo chất lượng: (Quality Assurance)
Trong các ngành sản xuất thi đảm bảo chất lượng là một quá trình thực
iện trọn vẹn từ khâu đầu đến khâu cuối cùng trong một dây truyền sản xuất.
)ảm bảo chất lượng quy định phải tuân thủ một cách chặt chẽ các tiêu chuẩn
à chuẩn mực đã được đặt ra từ trước tránh sai sót ở một khâu nào. Trong GD-
>T đảm bảo chất lượng có thể hiểu là một hoạt động kiểm tra, giám sát một
ách thường xuyên, liên tục tất cả các thành tố của quá trình dạy học hay quá
ình giáo dục. Đảm bảo chất lượng nhằm làm cho quá trình giáo dục hay quá
ình dạy học diễn ra theo đúng như các quy định, quy chế đã được đặt ra từ
■ước, là một trong những biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn và sử lý kịp thời
hững sai sót có thể xẩy ra. Hiện nay công tác đám bảo chất lượng không chỉ
i dụng nhiều trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh mà còn được sử dụng nhiều
ong các hoạt động giáo dục đào tạo.
1.1.3.3 Thanh tra chất lượng: (Quality Inspection)
Là m ột hoạt động được tiến hành bởi nhóm người, do cơ quan có thẩm
uyền cử đến để xem xét, đánh giá một cá nhân hay một tập thể trong quá
ình đảm bảo chất lượng hay quá trình thực hiện các mục tiêu đã được đặt ra
r trước có đúng kế hoạck và tuân thủ theo các quy định hay chưa? Thực ra
lamh Tra chất lượng là một trong những chức năng của nhà quản lý giáo dục,
tia đó nhằm đôn đốc, nhắc nhở và đánh giá, cũng như uốn nắn một cách kịp
lời, chính xác những hoạt động của một tập thể hay một cá nhân nào đó
ong việc thực hiện kế hoạch và tuân các quy định đã được đặt ra.
Qjnân o ăn Ç Jlu fo i î f @ atì r ỉ ) i ê í
ĩột nhà trường hay một cơ sở giáo dục phải được tuân thủ theo một quy định
h(ặt chẽ, nhằm đạt được các chuẩn mực đã đề ra.
2 6
M a tin o à n Ç îiu te it j @tto ( V iế t cStín
Khi đánh giá chất lượng của một nhà trường hay một cơ sở giáo dục,
thông thường có 3 cấp độ:
ì .ỉ .4.1 Chất lượng tốt: Thực hiện theo đúng các chuẩn mực, quy định
và hoàn thành một cách xuất sắc, vượt mức các chỉ tiêu đã đặt ra
1.1.4.2 Chất lượng đạt yêu cầu: Là mức độ thực hiện các quy định và
hoàn thành được các chỉ tiêu đã đặt ra
1.1.4.3 Chất lượng không đạt yêu cầu: Là mức độ thực hiện các quy
định chưa chặt chẽ và không đạt được các chỉ tiêu đã đặt ra
l .1.5 M ôt s ố mô hình quản lý chất lương
Quản lý chất lượng là một thuật ngữ được sử dụng để miêu tả các
phương pháp hoặc quy trình được tiến hành nhằm kiểm tra đánh giá các sản
phẩm có đảm bảo được các thông số, các quy định và đạt được mục đích đặt
ra hay chưa? H iện nay có 3 mô hình quản lý chất lượng thường được sử dụng:
1.1.5.1 M ô hình BS 5750/ ISO 9000: Bản chất của mô hình này là một
hệ thống các văn bản quy định tiêu chuẩn và quy trình chi tiết, nghiêm ngặt ở
mỗi giai đoạn của quá trình sản xuất, đảm bảo cho mọi sản phẩm hay dịch vụ
phải phù hợp với mẫu mã, quy cách, các thông số kỹ thuật quy định trước đó.
Theo quan điểm cơ bản của mô hình BS 5750/ ISO 9000 thì đây là hệ thống
chất lượng và phải có khả năng tạo ra các sản phẩm có chất lượng nhất quán.
Mô hình này được sử dụng nhiều trong các ngành sản xuất kinh doanh và dịch
vụ còn trong hoạt động giáo dục khi áp dụng mô hình này còn nhiều vấn đề
jhưa phù hợp vì: “Sản phẩm” trong lĩnh vực giáo dục đào tạo là “con người”
mà “con người” thì khó có chất lượng như nhau.
1.1.5.2 M ô hình các yếu tố tổ chức: Mô hình này dựa vào các yếu tố để
đánh giá: Chất lượng “đầu vào”; chất lượng quá trình đào tạo; chất lượng “đầu
ra” ; chất lượng “sản phẩm” (kết quả đào tạo); chất lượng giá trị gia tăng (hiệu