ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
PHAN THỊ KIM PHƯƠNG
CÁC c ơ QUAN HÀNH CHÍNH
NHÀ NƯỚC ở ĐỊA PHƯƠNG
rRONG VIỆC BẢO ĐẢM PHÁP CHẾ
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
參
♦ • •
Chuyên ngành: Lý luận Nhà nước và pháp quyền
Mã số: 5 05 01
Người h ư ớng d ần k h oa học:
PGS. TS. PHẠM HỒNG THÁI
HÂ NỘI - 2003
V
。讀
n '
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
Chương l:
1.1.
1.1.1.
Cỉ)
b)
1.1.2.
1.2.
1.2 . 1.
1.2.2.
1.2.3.
Cơ SỞ LÝ LUÂN VÊ VAI TRÒ CỦA CÁC cơ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ
NƯỚC ở ĐỊA PHƯƠNG TRONG VIỆC BẢO ĐẢM PHÁP CHẾ
1.2.4.
1.2.5.
Chương 2:
2.1.
2.2.
2.3.
2.3.1.
2.3.2.
2.4.
2.5.
Nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan hành chính nhà nước
ở địa phương trong việc phổ biến, giáo dục pháp luật
Nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan hành chính nhà nước
ở địa phương trong việc giải quyết khiếu nại, lố cáo của
công dân
K ết luận chương ỉ
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC cơ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ
NƯỚC ở ĐỊA PHƯƠNG TRONG VIỆC BẢO ĐẢM PHÁP CHẾ
Hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước ở địa
phương trong tổ chức thực hiện và kiểm tra việc thi
hành Hiến pháp, pháp luật và các văn bản của cơ quan
nhà nước cấp trên
Hoạt động thanh tra của các cơ quan hành chính nhà
nước ở địa phương đối với việc thi hành Hiến pháp,
pháp luật và các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên
Hoạt động ban hành văn bản pháp luật của các cơ quan
hành chính nhà nước ở địa phương
Hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Uỷ
ban nhân dân
Hoạt động ban hành văn bản cá biệt của các cơ quan hành
ở
địa phương trong việc bảo đảm pháp chế - nhu cầu cần
thiết khách quan
Một số giải pháp chung nhằm nâng cao vai trò của các
cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương trong việc
bảo đảm pháp chế
Cần sớm ban hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp
luật của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân
Kiện toàn cơ cấu tổ chức Uỷ ban nhân dân và các cơ quan
chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân các cấp
Bồi dưỡng, đào tạo, nâng cao năng lực của cán bộ, công chức
làm việc trong các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương
Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng đối với các cơ quan
hành chính nhà nước ở địa ỊỶiương trong việc bảo đcUTi I^iáp chế
Tăng cường sự phối hợp của các cơ quan bảo vệ pháp luật,
các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân địa phương với
các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương trong việc
bảo đảm pháp chế
Một số giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả hoạt
động thực tiễn của các cơ quan hành chính nhà nước ở
địa phương trong việc bảo đảm pháp chê
Đổi mới hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước ở địa
phương trong tổ chức thực hiện và kiểm tra việc thi hành Hiến
83
88
88
89
91
94
nghĩa là nguyên tắc cơ bản nhất thông qua đó Nhà nước thực hiện sự quản lý
của mình đối với xã hội.
Trong bộ máy nhà nước, các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương
có vai trò hết sức quan trọng trong việc bảo đảm pháp chế. Các cơ quan hành
chính nhà nước ở địa phương là những cơ quan gần dân, trực tiếp chuyển tải
mọi chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước vào cuộc sống.
Cơ cấu tổ chức và hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước ở địa
phương những năm qua đã được quan tâm đổi mới, nâng cao vai trò trong việc
bảo đảm pháp chế ở địa phương, phát huy được bản chất dân chủ của bộ máy
nhà nước và hoàn thành về cơ bản những công việc thuộc thẩm quyển của
mình. Tuy nhiên, trước biến động của đời sống xã hội, bộ máy nhà nước nói
chung và cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương nói riêng còn có những
khiếm khuyết, bất cập, chưa theo kịp với thay đổi của cuộc sống. Hoạt động
bảo đảm pháp chế của cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương thời gian
qua chưa thực sự đạt hiệu quả cao, còn tổn tại tình trạng: một số cán bộ, công
chức lợi dụng chức vụ, quyền hạn tham nhũng, tiêu cực làm giảm lòng tin của
nhân dân vào hệ thống chính trị; tình hình khiếu nại, tố cáo của công dân ở
các địa phương còn diễn ra phức tạp, có chiều hướng gia tăng, cần được giải
quyết kịp thời; ý thức pháp luật của một bộ phận không nhỏ trong các tầng lớp
nhân dân còn nhiều hạn chế; vi phạm pháp luật còn xảy ra nhiều;
Xuất phát từ yêu cầu, đòi hỏi phải nâng cao hơn nữa vai trò của các cơ
quan hành chính nhà nước ở địa phương với việc bảo đảm pháp chế nhằm góp
phần thực hiện sự nghiệp đổi mới của đất nước, góp phần xây dựng Nhà nước
pháp quyển xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân,
chúng tỏi chọn đề tài: “ Các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương trong
việc bảo đảm pháp chế*’ làm luận văn thạc sỹ luật học.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương trong việc bảo
đảm pháp chế đã được một số nhà nghiên cứu quan tâm ở những khía cạnh
khác nhau. Chẳng hạn, bài viết: “ Đại hội lần thứ V III của Đảng và vấn đề cải
Chính irị Quốc gia, Hà Nội, 2001;
Về cơ bản, các tác giả nói trên tập trung nghiên cứu các quy định của
pháp luật hiện hành về chính quyền địa phương và đưa ra những giải pháp đổi
mới tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương nói chung, bao gồm cả
Hội đồng nhân dân, uỷ ban nhân dân và các cơ quan chuyên môn của Uỷ ban
nhân dân các cấp, mà chưa đề cập một cách toàn diện về vị trí, vai trò của cơ
quan hành chính nhà nước
ở
địa phương thể hiện trên các phương diện: hoạt
động của cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương trong việc tổ chức thực
hiện và kiểm tra việc thi hành Hiến pháp và pháp luật; hoạt động thanh tra;
hoạt động ban hành văn bản pháp luật; hoạt động giải quyết khiếu nại, tố cáo
và vai trò của cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương trong việc phổ biến,
giáo dục pháp luật - là những mặt hoạt động cơ bản nhằm bảo đảm và tăng
cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.
Vì vậy, tiếp tục nghiên cứu một cách toàn diện việc bảo đảm pháp chế của
các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương là một việc làm cần thiết nhằm
tăng cường hơn nữa hiệu lực và hiệu quả trong hoạt động bảo đảm thi hành Hiến
pháp và pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước Ư địa phương.
3. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ của luận văn
M ục đích nghiên cứu của luận văn:
Làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò của các cơ quan hành
chính nhà nước ở địa phương trong việc bảo đảm pháp chế, trên cơ sở đó kiến
nghị những giải pháp nhằm nâng cao vai trò và trách nhiệm của các cơ quan
hành chính nhà nước ở địa phương trong việc bảo đảm pháp chế.
Luận văn
có các
nhiệm vụ:
- Phân tích làm rõ cơ sở lý luận về vai trò của các cơ quan hành chính
nhà nước ở địa phương trong việc bảo đảm pháp chế;
7. Kết cấu luận văn:
Luận văn gồm:
- Mở đầu;
- Ba chương;
- Kết luận;
- Danh mục tài liệu tham khảo.
5
Chương 1
Cơ SỞ LÝ LUẬN VỂ VAI TRÒ CỦA CẢC c ơ QUAN HÀNH CHÍNH
NHÀ NƯỚC Ở ĐỊA PHƯƠNG TRONG VIỆC BẢO ĐẢM PHÁP CHẾ
1.1. Vỉ TRÍ. TÍNH CHẤT PHÁP LỸ VÀ VAI TRÒ CỦA CÁC cơ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ
NƯỚC ở ĐIA PHƯƠNG TRONG VIÊC BẢO ĐẦM PHÁP CHẾ
1.1.1. VỊ trí, tính chất pháp lý của các cơ quan hành chính nhà nước ở địa
phương:
Các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương là một bộ plĩận của bộ
máv hành chính nhà nước, bao gồm Ưỷ ban nhân dân cúc cấp, các cơ quan
chuyên môn thuộc Uy ban nhân dân, là cơ quan chấp hành và hành chính nhà
nước (/ cìịa phương, được thành lập rư để thi hành Hiến pháp, luật, vãn bản
của cơ quan nhà nước cấp trên, nglìị quyết của cơ quan quyển lực nhà nước
cùní> cấp, chịu trách nhiệm trước cơ quan quyền lực nhà nước cùng cấp và
trước cơ quan hành chính nhà nước cấp trên.
Theo quy định của Hiến pháp năm 1992 và Luật Tổ chức Hội đồng nhân
dân và ủy ban nhân dân năm 1994( sửa đổi, bổ sung) các đơn vị hành chính
của nước ta được phân định như sau:
Nước chia thành tính, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là cấp tỉnh);
Tỉnh chia thành huyện, thành phố thuộc tính và thị xã; thành phố trực
thuộc trung ương chia thành quận, huyện và thị xã (gọi chung là cấp huyện);
Huyện chia thành xã, thị trấn; thành phố thuộc tỉnh, thị xã chia thành
phường và xã; quận chia thành phường (gọi chung là cấp xã).
Điều 118 - Hiến pháp 1992 và Điều 4 - Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân
phương. Với vị trí như vậy, ủy ban nhân dân có hai tư cách thống nhất:
7
- Là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân chịu
trách nhiệm thi hành những nghị quyếl của Hội đồng nhân dân, chịu trách
nhiệm và báo cáo công tác trước Hội đồng nhân dân;
- Là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, ủ y ban nhân dân chịu
trách nhiệm không chỉ chấp hành những nghị quyết của Hội đồng nhân dân
mà cả những quyết định của cơ quan nhà nước cấp trên, thi hành pháp luật
thống nhất của Nhà nước. Uỷ ban nhân dân chịu Irách nhiệm và báo cáo công
tác vừa trước Hội đồng nhân dân cùng cấp, vừa trước ủ y ban nhân dân cấp
trên; đối với cấp tỉnh thì chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Chính
phủ. Uỷ ban nhân dân các cấp chịu sự lãnh đạo thống nhất của Chính phủ là
cơ quan hành chính nhà nước cao nhất.
•>
Với hai tư cách trên, Uy ban nhân dân được xác định là cơ quan hành
chính nhà nước có thẩm quyển chung ở địa phương,chịu trách nhiệm trực tiếp
quản lý và tổ chức, chỉ đạo các cơ quan, ban ngành quản lý cụ thể, thường
xuyên, liên tục trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, an
ninh, quốc phòng, ở địa phương.
9
b) Các cơ quan chuyên môn thuộc Uy ban nhân dán
Cơ quan chuyên môn thuộc ủ y ban nhân dân là cơ quan được lập ra đ ể
giúp ủ v ban nhân dân cùng cấp thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở đ ịa
phươniị và bảo đảm sự thống nhất quản lý của n^ành hoặc lĩnh vực công tác
từ Trung ương đến cơ sở (Điều 53 - Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và ủy
ban nhân dân năm 1994).
Cơ quan chuyên môn thuộc ủy ban nhàn dân không phải là cơ quan
Hiến định. Hiến pháp chỉ gián tiếp nói tới cơ quan này. Luật Tổ chức Hội
đồng nhân dân và ủy ban nhân dân năm 1994 cũng chỉ dừng ở mức những
9
Các cơ quan chuyên môn thuộc ủy ban nhan dân là các cơ quan thẩm
quyền riêng, thực hiện chức năng quản lý trong phạm vi một hoặc một số
ngành, lĩnh vực nhất định. Các cơ quan chuyên môn thực hiện hoạt động quản
lý hành chính với tư cách là cơ quan giúp việc Uỷ ban nhân dân, chứ không
phải nhân danh mình. Nói cách khác, cơ quan chuyên môn không phải ỉà một
pháp nhân công quyền.
Tuy trực thuộc vào Ưỷ ban nhân dân cùng cấp, nhưng cơ quan chuyên
môn vẫn có tính độc lập nhất định bởi vì cơ quan chuyên môn là một thực thể
pháp lý, một cơ quan có những mối quan hệ với các cơ quan, tổ chức khác.
Với Uỷ ban nhân dân, các cơ quan chuyên môn chịu sự chỉ đạo và quản lý về
tổ chức, biên chế và công tác của Ưỷ ban nhân dân cấp mình. Uỷ ban nhân
dân có quyền đình chỉ hoặc bãi bỏ các quyết định trái pháp luật của cơ quan
chuyên môn. Với cơ quan thẩm quyền riêng ở cấp trên, cơ quan chuyên môn
chịu sự hướng dẫn, kiểm tra về chuyên môn, nghiệp vụ. Với Hội đồng nhân
dân cùng cấp, thủ trưởng của cơ quan chuyên môn thuộc Ưỷ ban nhân dân khi
cần thiết thì báo cáo công tác trước Hội đồng nhân dân. Với các cơ quan
chuyên môn cùng một cấp, đây là quan hệ phối hợp và giúp đỡ lẫn nhau trong
thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước giữa các chủ thể có cùng địa vị pháp lý.
Các cơ quan chuyên môn thuộc ủ y ban nhân dân là các sở, Ban, Ngành
(cấp tính, thành phố trực thuộc Trung ương); Phòng, Ban (cấp huyện, quận);
Ban (cấp xã, phường). Có thể có một số tên gọi khác như ủ y ban,
1.1.2. Vai trò của các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương trong
việc bảo đảm pháp chế:
Điều 12 - Hiến pháp 1992 quy định: “ Nhà nước quản lý xã hội bằng
pháp luật và không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ n g h ĩa ,,. Điều này
khẳng định pháp chế là một trong những phương pháp quản lý của Nhà nước
10
đối với xã hội. “ Không ngừng tăng cường pháp chế*’ có nghĩa là phải thường
xuyên coi tăng cường pháp chế là nhiệm vụ quan trọng của Nhà nước. Tăng
Những bảo đảm này trước hết thuộc về trách nhiệm của các cơ quan nhà nước.
N hững bảo đảm đối với pháp c hế Ị à những điều kiện khách quan của sự
phát ìriển xã hội và những phương tiện do Nhà nước và các tổ chức chính trị,
tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức quần chúnỊỊ tạo ra nhằm báo đảm cho các
chủ th ể pháp luật thực hiện nghiêm chình, thườiiịỉ xuyên, liên tục pháp luật, sử
dụng đúng đắn các quyển và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ pháp lý, bảo đảm sự
ổn định các quan hệ pháp luật {30 - tr. 408}.
Những bảo đảm đối với pháp chế gồm: những bảo đám kinh tế, những
bảo đảm chính trị, những bảo đảm tư tưởng, những bảo đảm pháp lý và những
bảo đảm xã hội.
Bảo đảm kinh tế: Nền sản xuất xã hội phát triển tạo ra những điều kiện
nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhún dân là cơ sở vững chắc để mọi
chủ thể pháp luật thực hiện tốt những quyền và nghĩa vụ của họ. Nền kinh tế
phát triển vững mạnh sẽ hạn chế dần dần và loại bỏ những nguyên nhân của
nhiều vi phạm pháp luật. Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
với vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước {21 - tr.188} ở nước ta hiện nay là
bảo đảm cơ bản đối với pháp chế. Những bảo đảm kinh tế là cơ sở của tất cả
những bảo đảm khác đối với pháp chế.
Bảo đảm chính trị: đó là sự ổn định chính trị, sự phát triển của nền dân
chủ xã hội. Ở nước ta, yếu tố đặc biệt quan trọng trong những bảo đảm chính
trị là sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội.
Nhà nước xã hội chủ nghĩa là trung tâm của hệ thống chính trị, hảo đảm pháp
chế bằng hoạt động có tổ chức trên cơ sở pháp luật của bộ máy nhà nước,
bằng sự giáo dục cán bộ, công chức ý thức pháp luật, ý thức chính trị, ý thức
12
đạo đức và tinh thần tôn trọng pháp luật. Sự phát triển toàn diện nén dân chủ
xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là dân chủ ở cơ sở, trong các cơ quan nhà nước, tổ
chức, sự tham gia của quần chúng nhân dân lao động, các tổ chức xã hội vào
quản lý những công việc của nhà nước và xã hội, đấu tranh phòng chống các
tệ nạn xã hội, tham nhũng cũng góp phần quan trọng trong việc củng cố pháp
Điều 123 - Hiến pháp năm 1992 và Điều 41 - Luật Tổ chức Hội đồng
nhân dân và Uỷ ban nhân dân năm 1994 quy định: Uỷ ban nhân dân “chịu
trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, luật, các văn bản của các cơ quan Nhà nước
cấp trên và nghị quyết của Hội đồng nhân dân” .
Uỷ ban nhân dân và các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân
các cấp là những cơ quan có quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhân dân, chịu trách
nhiệm trực tiếp quản lý các lĩnh vực ở địa phương. So với các cơ quan nhà
nước ở Trung ương và cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương cũng như các
cơ quan bảo vệ pháp luật ở địa phương (Toà án và Viện kiểm sát), hoạt động
của các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương trong việc bảo đảm pháp
c h ế là trực tiếp,cụ thể, thường xuyêtt, liên tục nhất.
Hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương trong
việc bảo đảm pháp chế là trực tiếp nhất vì hoạt động của các cơ quan hành
chính nhà nước ở địa phương được quyết định bởi chức năng trực tiếp tổ chức
và quản lý nhà nước trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá - xã hội, an
ninh - quốc phòng, trật tự - an toàn xã hội ở địa phương. Để bảo đảm pháp
chế, trước hết chính các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương phải chấp
hành nghiêm chỉnh các quy định của Hiến pháp, luật và các văn bản của các
cơ quan nhà nước cấp trên, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp trong
tổ chức và hoạt động của mình.
Hơn nữa, cùng với CƯ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, các cơ
quan hành chính nhà nước ở địa phương còn chịu trách nhiệm chính trong việc
14
áp dụng các biện pháp và tạo mọi điều kiện cần thiết để các cơ quan, tổ chức
và các cá nhân ở địa phương thi hành nghiêm chỉnh Hiến pháp và pháp luật.
Hoạt động bảo đảm thi hành Hiến pháp và pháp luật của các cơ quan hành
chính nhà nước ở địa phương luôn gắn liền với chức năng quản lý các lĩnh vực
của đời sống xã hội ở địa phương - là chức nâng chủ yếu của các cơ quan hành
chính nhà nước ở địa phương.
Hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương trong
nhau. Căn cứ vào mức độ cụ thể được quy định trong pháp luật, các hình thức
quản lý này được chia thành những hình thức quản lý mang tính pháp lý và
những hình thức quản lý ít mang tính pháp lý.
Những hình thức quản lý mang tính pháp lý là những hình thức được
pháp luật quy định cụ thể gắn với việc ban hành và áp dụng các quy phạm
pháp luật. Những hình thức này thể hiện rõ nét tính chất quyền lực trong hoạt
động của các cơ quan hành chính nhà nước, đem đến sự biến đổi trong cơ chế
điều chỉnh pháp luật, tức là làm nảy sinh, thay đổi hay chấm dứt các quan hệ
pháp luật hành chính. Những hình thức mang tính pháp
丨
ý bao gồm: Ban hành
các quyết định có ý nghĩa chung, chủ đạo; ban hành các quyết định quy phạm
pháp luật; ban hành những văn bản cá biệt.
Những hình thức quản lý íl mang tính pháp lý được các cơ quan hành
chính nhà nước ở địa phương sử dụng để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của
minh rất phong phú, bao g(5m: Tiến hành các hoạt động tổ chức trực tiếp
(nghicn cứu, tổng kết và phổ biến những kinh nghiệm tiên tiến, áp dụng các
biện pháp cụ thể nhằm ứng dụng những thành tựu của khoa học kỹ thuật vào
quản lý, tổ chức điều tra, điều phối hoạt động, tổ chức hội thảo, tổ chức phong
trào thi đua
, );
Thực hiện các hoạt động mang tính chất tác nghiệp vật chất -
kỹ thuật (chuẩn bị tư liệu, dữ kiện, thông tin cho việc ban hành các quyết
16
định; lập báo cáo, nhập trình công việc; chứng thực văn bằng, cấp chứng
chỉ, )- Đây là những hình thức quản lý không đem đến sự thay đổi trong cơ
chế điều chỉnh pháp luật, khổng làm phát sinh các quan hệ pháp luật hành
chính.
Trong việc bảo đảm pháp chế, các cơ quan hành chính nhà nước ở địa
phương sử dụng cả hình thức quản lý mang tính pháp lý lẫn hình thức quản lý
tính luật của Nhà nước (một số Nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh), các văn
bản pháp luật của các cơ quan nhà nước cấp trên nói chung. Điều hành là chỉ
đạo trực tiếp hoạt động của đối tượng bị quản lý. Đặc trưng của hoạt động
điều hành là ra văn bản dưới luật mang tính chất pháp lý - quyền lực được bảo
đảm bằng khả năng áp dụng cưỡng chế, trong đó chủ yếu là văn bản cụ thể -
cá biệt.
Với chức năng như vậy, các cơ quan hành chính nhà nước nói chung và
các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương nói riêng có vai trò rất quan
trọng trong tổ chức thực hiện việc thi hành Hiến pháp và pháp luật ở địa
phương. Hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương là cầu
nối trực tiếp nhất đưa đường lối, chính sách, pháp luật vào cuộc sống. Điều
41- Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân năm 1994 quy định:
“ Uỷ ban nhân dân tổ chức và chỉ đạo việc thi hành Hiến pháp, luật, các văn
bản của cơ quan Nhà nước cấp trên và nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng
c ấ p ,’ .
Các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương chịu trách nhiệm tổ
chức ch ỉ đạo và thực hiện H iến pháp, pháp luật và các văn bản của cơ quan
nhà nước cấp trên ở nhiều lĩnh vực quán lý hành chính nhà nước:
- Xây dựng, tổ chức thực hiện ngân sách địa phương, bảo đảm thực hiện
đúng việc phân bổ ngân sách cho từng lĩnh vực ở địa phương;
- Xây dựng, tổ chức và thực hiện quy hoạch, kế hoạch phát triển nông
nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, thuỷ lựi trcii cơ sở quy hoạch thống nhất của
18
Trung ương; xây dựng và tổ chức thực hiện các chương trình khuyến nông,
khuyên lâm, khuyến ngư;
- Xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển công nghiệp, tiểu thủ công
nghiệp ở địa phương;
- Chỉ đạo việc xây dựng, tổ chức quản lý công trình giao thông ở địa
phương theo quy định của pháp luật;
- Tổ chức quản lý, phát triển mạng lưới kinh doanh, thương mại và kế
Bên cạnh nhiệm vụ tổ chức trực tiếp thực hiện việc thi hành Hiến pháp
• • • •<!••• 1 X
và pháp luật, các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương còn chịu trách
nhiệm kiểm tra việc thi hành Hiến pháp, pháp luật và vàn bản của các cơ
quan nhà nước cấp trên ở địa phương. Điểu 43 - Luật Tổ chức Hội đồng
nhân dân và uỷ ban nhân dân năm 1994 quv định về nhiệm vụ, quyển hạn của
u ỷ ban nhân dân, trong đó 11CU lõ Uỷ ban nhàn dân có irách nhiệm: ‘‘… kiểm
tra việc chấp hành Hiến pháp, luật, các văn bủn của cơ quan Nhà nước cấp
trên và nghị quyết của Hội đổng nhân dân cùng cấp trong cơ quan Nhà nước,
tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, tlưn vị vũ trang nhân dân và công dân ở địa
p h ư ơn g,,( K h o ả n 2).
Phạm vi kiểm tra của u ỷ ban nhân dân bao hàm mọi vấn đề thuộc mọi
ngành và lĩnh vực thuộc thẩm quyền quản lý của minh. Uỷ ban nhân dân có
thể kiểm tra bất kỳ một hoạt động nào của dối tượng bị quản lý, có thể tiến
hành thường xuyên, định kỳ hoặc đột xuất khi phát hiện những vi phạm.
Hoạt động kiểm tra của cúc cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương
được tiến hành dưới nhiều hình thức: nghe báo cáo, đánh giá báo cáo của đối
tượng bị kiểm tra, tự tổ chức các tloàn thanh ira tổng hợp hoặc về từng vấn đề,
hoặc thông qua thanh ira nhà mróc, thanh ira chuyên ngành, hoặc thông qua
việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân.
2 0