ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRẦN HƯNG BĨNH
ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA NGƯỜI NƯỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM
TRONG Tư PHÁP QUỐC TÊ GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
CHUYÊN NGÀNH LUẬT QUỐC TẾ
MẢ SỐ 5.0512
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LUẬT
■ ■ ■ ■
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA h ọ c : TS. HOÀNG NGỌC GIAO
MỤC L ỤC
Trang
PHẨN MỞ ĐẦU 1
Chương I c ơ sở LÝ LUẬN VỀ ĐỊA VI PHẤP LÝ NGƯỜI NƯỚC 5
NGOÀI
I KHÁI NIỆM NGƯỜI NƯỚC NGOÀI VÀ PHÂN LOẠI 5
1 -Khái niệm 5
2- Phân loại người nước ngoài 8
II KHÁI NIỆM VÀ Cơ SỞ PHÁP LÝ XÂY DỰNG ĐỊA VỊ PHÁP LÝ 10
CỦA NGƯỜI NƯỚC NGOÀI.
1- Căn cứ hình thành: 10
ỉ .1- Bộ luật nhân quyền quác t ế 1 1
7.2- Sự tham gia của Việt Nam vào các Công ước quốc 17
tế về quyền con ÌÌÍỊƯỜÌ.
2- Khái niệm địa vị pháp lý của người nước ngoài: 19
3- Cơ sỏ' xây dựng địa vị pháp lý của người nước ngoài: 21
3.1- C h ế độ đãi ngộ quốc dân (N ation Treatm ent) 21
3.2- C h ế ảộ Tối huệ quốc (The M ost Favoured N ation 24
treatm ent)
3.3- C h ế độ đũi ngộ dặc biệt ị ưu đãi miễn trừ) 26
3.4- C h ế độ líu đãi khác 27
1 -Cơ sở pháp lý quốc gia 63
2- Cơ sở pháp lý quốc tế
2.1- K ỷ kết các điều ước quốc t ế song phương 65
2.2- Kỷ kết và tham gia các điêu ước quốc tế đa phương 69
B THỰC TRẠNG ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA NGƯỜI N ư ớ c NGOÀI ở 69
VIỆT NAM TRONG NHỮNG LĨNH v ự c cụ THỂ CỦA Tư PHÁP
QUỐC TẾ HIỆN ĐẠI
I TRONG LĨNH vự c s ở HỮU TÀI SẢN VÀ ĐẦU Tư NƯỚC 69
NGOÀI
1- Địa vị pháp lý của người nước ngoài qua các thời kỳ 70
1.1- Giai đoạn trước khi ban hành Bộ luật Dân sự Việt 70
Nam năm ỉ 995
1.2- Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật Dân sự năm 1995 72
(ỉển nay
2- Thực trạng pháp luật Việt Nam 73
II TRONG LĨNH Vực BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ 78
1- Bảo hộ quyền Sở hữu trí tuệ- những thách thức đặt ra 78
với Việt Nam trong tiến trình hội nhập Quốc tế
2- Các nội dung cơ bản của pháp luật Việt Nam trong 80
lĩnh vực Sở Hĩm trí tuệ
2.1- Trong lĩnh vực bảo vệ quyền tác giả 80
2.2- Trong lĩnh vực bảo hộ quyển sở hữu công nghiệp 81
2.3- Các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ tại Việt 83
Nam
3- Thực trạng Quyền sở hữu trí tuệ tại Việt Nam 86
3 .ì - Đối với quyền tác giả 86
3.2- Những tổn tại trong các biện pháp thực thỉ 88
III TRONG LĨNH VỰC HỢP ĐỒNG DÂN Sự VÀ TRÁCH NHIỆM BỔI 93
THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỔNG
1 -Nguyễn tắc trung 93
Chương III PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN 138
CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỂ
ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA NGƯỜI NƯỚC NGOÀI
TRONG Tư PHÁP QUỐC TẾ GIAI ĐOẠN HIỆN NAY.
I ĐÁNH GIÁ Sơ BỘ THỰC TRẠNG HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VIỆT 138
NAM
1- Tồn tại và bất cập 138
2- Nguyên nhân 140
II PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN 143
1- Tron2; lĩnh vực Sở hữu tài sản và đầu tư nưó'c ngoài 144
2- Tron” lĩnh vực sỏ' hữu trí tuệ 150
3- Tron í lĩnh vực Thừa kế 151
4- Trona; lĩnh vực Họp dồn" dân SƯ và bổi thườn" trách 153
nhiệm nsoài hợp đồns
\
181
5- Trong lĩnh vực Hôn nhân- Gia đình 167
6 -Trong lĩnh vực Lao động 169
7- Trong lĩnh vực Tố tụng Dân sự 169
8- Cải cách thủ tục hành chính và quy trình quản lý 177
người nước ngoài trong lĩnh vực xuất nhập cảnh, cư trú,
đi lại
GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN 1 79
1- Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật hiện hành 179
1.1- Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện pháp luật tổ chức 179
Nhà nước
1.2- Xây dựng và hoàn thiện pháp luật vê' tố tụng. 180
1.3- N âng cao chất lượng xây dựng văn bản quy phạm
pháp luật thông qua việc đổi mới quy trình từ việc lập
chương trình đến soạn thảo, thẩm địnlĩ, rà soát và ban
công dân của quốc gia sở tại. Trong khoa học pháp lý vẫn thường gọi những người
này là “người nước ngoải”.
- Hiện nay do sự phát triển mạnh mẽ của quá trình khu vực hoá, toàn cầu
hoá nền kinh tế, giao lưu kinh tế, thương mại, khoa học- kỹ công nghệ và văn hoá
giữa các quốc gia phát triển vói tốc độ hết sức nhanh chóng đã dẫn đến việc số
lượng người nước ngoài, đặc biệt số lượno, người nước ngoài đầu tư, kinh doanh, lao
động, học tập, du lịch, v.v trên lãnh thổ của mỗi quốc gia cũng nhanh chóng gia
tăng. Với tính chất như vậy (đa dạng hoá, đa phương hoá) mỗi quốc gia không thể
khép kín quan hệ của mình đối với các nước khác mà phải tích cực hoà nhập vào
cộng đồn? quốc tế.
- Việt Nam cũn2; khônẹ nằm nẹoài xu hướng đó, trên thực tế minh
chứníĩ rõ rệt nhát là troníí những năm gần đây chúng ta đã gia nhập A SI'AN.
tham gia Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á- Thái Bình Dương APEC, ký kêt
Hiệp định thương mại Việt- M ỹ, chuẩn bị tiến tó'i gia nhập WTO Hội nghị
lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII đã cụ thể hoá chủ trương hội nhập
được khảng định trong Nghị quyết của Đại hội VIII là: “Chã dộng chuẩn bị các
điền kiện cần thiết VC cán bộ, luật pháp và nhất là về những sán phẩm mà chủng ta
cố khả năng cạnh tranh d ể hội nhập thị trường khu vực và thị trường quốc tế. Tiến
hành khẩn trương, vững chắc việc đàm phán hiệp định thương m ại với M ỹ, gia
nhập APEC và w r o . Có k ế hoạch cụ thể đ ể chủ động thực hiện các cam kết trong
khuôn k h ổ A F IA ”. Tư tưởng mỏ' rộnc quan hệ đối ngoại và chủ động hội nhập kinh
tố quốc tế tiếp tục được khảns, định Irons Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc
lần thứ IX năm 2001 là “77;//r hiện nhất (/Itáit âườn\> lối đối ngoại dộc lập, tự chủ,
rộní; má, da phương hoá, (ta dạnỊ> Ììoá các quan hệ quốc lể. Việt Nam sẵn sàng là
b ụ /, là d o i lác tin cậy cùa các I1IÍỚC trong cộiìỊị dóng (ịHOC tế, phun dấu vì lìơà
b ìm ,
dộc
lụp
vủ pltúl
lưu kinh té thưoìiạ mại, khoa hoc - cóng nahệ và van hoá gill'll các quóc gia.
1
Chính vì vậy Chuns’ ta cần nạhiên cứu một cách nghiêm túc những ván đề lý
luận và thực tiễn xay dựng quy chế pháp lý của người nước ngoài nói chung và quy
chế pháp lý của người nước ngoài trong tư pháp quốc tố nói riêng.
- Vân đề xây dựng địa vị pháp lý cho người nước ngoài tại Việt Nam đã
được 11 chiên cứu, triển khai thực hiện theo phương hướng ngày càng phù hop với xu
thê chung của thời đại, của luật pháp CỊUỐC tế. Song đây vân là vấn đê khó và càn
không ngừng được nghiên cứu, tổng kết thực tiễn, rút kinh nghiệm để đưa ra những
luận chứng có tính thuyết phục, góp phần tạo một môi trường pháp lý hết sức thuận
lợi cho người nước ngoài ở nước ta đồng thời vẫn giữ vững chủ quyền lãnh thổ, an
ninh quốc gia.
Cho đến nay đã có một số công trình nghiên cứu những vấn đề có liên quan
đến lĩnh vực này như:
- Quy c h ế pháp lý dân sự của công dân nước ngoài ở cúc nước XHCN và
Việt N um - Đoàn Năng, Luận án PTSKH Luật, Bacu 1986.
- Điều chỉnh pháp lý các quan hệ H N-GĐ trong các Hiệp định tương trợ tư
pháp giữa V iệt Nam vù các nước trong hệ thống XHCN- Nguyễn Văn Quyền, Luận
án PTSKH Luật, Kiev 1991.
- Đ ổi mới và hoàn thiện pháp luật trong quản lý Nhà nước dối với người
nước ngoài ở nước ta hiện nay- Bùi Quảng Bạ, Luận án PTSKH Luật, Hà Nội 1996.
- Giáo trình Tư pháp quốc l ể (TS. Nguyễn Bá Diên chủ biên), Khoa Luật
Đại học Quốc gia Hà Nội, 2001
Tuy nhiên trong giai đoan hiên nay- giai đoạn hội nhập và toàn câu hoá-
chúnq ta vẫn thiếu những công trình nghiên cứu sâu, có hệ thống dưới dạng một
luận vãn thạc sỹ, tiến sỹ khoa học Luật đáp ứng được những đòi hỏi của tình hình
mới.
2- Nhiệm vụ - Mục đích và phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Đề tài “Địa vị ph á p lý của ngưòi nước ngoài ở Việt N am trong T ư phá p
Q uốc tế giai đoạn hiện na y” nhằm tìm hiểu, nghiên cứu nội dung cơ bản của
rộnCT có yếu tố nước ngoài nói riêng ở nước ta hiện nay.
5- Kết cấu của đề tài
gồm phần Mỏ đầu, 3 chương và phần Kết luận.
4
Chương I
CO s ớ LÝ LUẬN VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ NGƯỜI NƯỚC NGOÀI
I. KHÁI NIỆM NGƯỜI NƯỚC NGOÀI VÀ PHÂN LOẠI
1- Khái niệm người nước ngoài
1.1- Nsày nay, thuật ngữ người nước ngoài được sử dụng rộng rãi ờ tất cả
các ni'ớc, không chỉ trong các loại sách báo, mà cả trong các văn bản pháp luật lẫn
trong giao tiếp hàns ngày của mọi tần2 lóp nhân dân. Song, nội dung khái niệm
này ở các nước khôn" phải trong mọi trường hợp đều giống nhau:
- ở Bungari, người nước ngoài là những người không có quốc tịch Bungari.
Vì vậy, đối với Bungari, người nước ngoài gồm cả người có quốc tịch nước ngoài
và ng.ròi không có quốc tịch.
- ở Liên Xô trước đây, trong nhiều thập kỷ, khái niệm người nước ngoài
đồng nhất với khái niệm “công dân nước ngoài trên lãnh thổ Liên Xô”. Và như vậy,
những r.sười không phải là công dàn Liên Xô cư trú ở ngoài phạm vi lãnh thổ Liên
Xô thì khôn2 được xác định có phải là người nước ngoài đối với Liên Xô hay
khôn". Từ khi ban hành Hiến pháp Liên Xô năm 1977 đến khi chấm dứt tồn tại
Liên baiq Xó Viết, khái niệm người nước nsoài được hiểu theo nghĩa rộng và gồm
cả công dân nước ngoài và người không có quốc tịch.
1.2- Từ xa xưa, nhân dân ta hay dùng thuật ngữ “ngoại k iề u ” hay “kiều dãn
nước n 'oai" đổ chỉ những người của nước ngoài cư trú hay làm ăn, sinh sống trên
lãnh thó Việt Nam; còn thuật ngữ “Việt kiều ” hay “Kiêu bào ta ở nước n g o à i' để
chỉ nhĩng người của nước ta cư trú, làm ăn sinh sống ở nước ngoài. Trong những
thập k) gần đây, những thuật ngữ này không còn được dùng một các phổ biến nữa.
Riêng rong các văn bản pháp luật Việt Nam hiện hành các thuật ngữ này hoàn
toàn ktôrm được sử dung, và thay vào đó là các thuật ngữ người nước ngoài”và
người 7iệt Nam ở nước ngoài.
đình có yếu tố nước ngoài, có hiệu lực từ 1/1/2003) giải thích khái niệm người nước
nơoài như sau: Người nước ngoài là người không có quốc tịch Việt Nam, bao gồm
Công dân nước ngoài và người không có quốc tịch (Điều 9.1 Nghị định số
68/2002/NĐ- CP ban hành ngày 10/7/2002).
Điều đặc biệt cần lưu ý ỏ' đây là, các văn bản pháp luật hiện hành của Việt
Nam không gắn khái niệm người nước ngoài với nơi cư trú của họ. Rõ ràng đây là
quy định chins đắn, bởi vì tiêu chí để xác định một cá nhân là người nước ngoài đối
vói Việt Nam không phải là nơi cư trú mà là có quốc tịch hay không có quốc tịch
6
Việt Nam. Nlurn” nmrời không có quốc tịch Việt N;im có thể định cư hay tạm trú
trẽn lãnh thổ Việt Nam và cũnu có thế ừ ngoài phạm vi lãnh thổ Việt Nam. Sons; tại
sao chúne ta lại xếp nmíời có quốc lịch nước imoài và níĩiíời khỏní có quốc tịch vào
phạm trù người nước ngoài?
Trước hết phái khẳnc định rằns, nsười có quốc tịch nước naoài, tức là cone
dân nước ngoài, và naười khôn" có quốc tịch là hai phạm vi khác nhau. Công dân
nước ngoài là người có quốc tịch của một nước ngoài nhất định, còn người không
có quốc tịch không phải là công dân của bất kỳ nước nào. Tuy nhiên, nội dung quy
chế pháp lý dân sự của hai loại người này giống nhau về cơ bản. V í dụ: họ đều
không có những quyền và rmhĩa vụ gắn liền với quốc tịch của nước sở tại, đều có
những quyền và nghĩa vụ giỏng nhau trong các quan hệ dân sự, hôn nhân và gia
đình, thừa kế, v.v do pháp luật nước sở tại quy định. Vì vậy, hoàn toàn có cơ sở
khi xêp hai phạm trù “công dàn nước ngoài” và “người không có quốc tịch” vào
một phạm trù rộng lớn hơn là phạm trù “người nước ngoài” khi xem xét quy chế
pháp lý dân sự của họ.
Trong các vãn bản pháp luật của Việt Nam cũng như của các nước khác,
khái niệm “người nước ngoài" được dùng đế chỉ cá nhân (còn gọi là tự nhiên nhân
hay thể nhân) có quốc tịch nước ngoài hoặc cá nhân không có quốc tịch. Trong
ngốn ngữ pháp ]ý tiếng Việt, chữ “người” được citing để chỉ cá nhân, chứ không chỉ
các tổ chức của cá nhân như các tổ chức được hưởng tư cách pháp nhân và Nhà
nước.
các quốc gia khác.
Như đã trình bày ở mục 1 nêu trên, người nước ngoài là khái niệm có nội
dung rộng. Để nàng cao hiệu quả công tác quản lý người nước ngoài vừa bảo vệ lợi
ích quốc gia, tăng cường pháp chế, vừa bảo vệ tốt các quyền và lợi ích hợp pháp
của người nước ngoài, trên cơ sở quy chế pháp lý chung dành cho tất cả các loại
người nước ngoài, cần phải phân loại người nước ngoài và xây dựng cho mỗi loại
người nước ngoài một nội dung quy chế pháp lý cũng như biện pháp tổ chức quản
lý cụ thể, thích hợp.
Có nhiều căn cứ để phân loại người nước ngoài. Nhung nhũng căn cứ chủ yếu gồm:
2.1- Cán cứ vào quan hệ quốc tịch, người nước ngoài được chia thành
người có quốc tịch nước ngoài và người không có quốc tịch
Trường hợp một người là cônc dân Việt Nam, nhưng done thời có quốc tịch
của một nước ngoài vì một lý do nào đó thì đối với Nhà nước ta, người này khôn"
được coi là nsurời nước ngoài.
8
2.2- Cán cứ vào noi cư trú, người nước ngoài được chia thành na;ười cư trú
tròn lãnh thổ Việt Nam và no:ười cư trú ở ngoài lãnh thổ Việt Nam
Việc phân loại theo tiêu chí này cũng rất cần thiết vì tuy đều được thừa nhận
là chủ thể của pháp luật Việt Nam, nhưng người nước ngoài cư trú trên lãnh thổ
Việt Nam và người nước ngoài cư trú ở ngoài lãnh thổ Việt Nam có quy chế khác
nhau; rõ ràng là không có vấn để quản lý của Nhà nước ta đối với những người
nuớc ngoài cư trú ở ngoài lãnh thổ Việt Nam.
2.3- C ăn cứ vào thời gian cư trú trên lãnh th ổ Việt N am và mức độ ổn
định của m ối quan hệ p h á p lý vói N hà nước Việt N am , người nước ngoài được
chia thành người nước ngoài định cư và người nước ngoài tạm trú trên lãnh thổ Việt Nam.
Người nước ngoài định cư ở Việt Nam được hiểu là người nước ngoài được
cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước Việt Nam cho phép cư trú, làm ăn, sinh sống
không có thời hạn trên lãnh thổ Việt Nam. Người nước ngoài tạm trú ở Việt Nam là
người nước ngoài được cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước Việt Nam cho phép
cư trú có thời hạn trên lãnh thổ Việt Nam.
trú” và “định cư” chỉ gây rối rắm và khó hiếu cho người dàn. Nên thống nhất dùng
một thuật ngữ
“định c ư ” và phải khẳng định là được cơ quan có thẩm quyên cho
phép cư trú, lùm ăn, sinh sống không có thời hạn.
2.4- Căn cứ vào tính chất của nội du ng quy c h ế pháp lý, người nước ngoài
được chia thành loại người được hưởng quy chế pháp lý đặc biệt (ví dụ chế độ iru
đãi và miễn trừ ngoại giao, chế độ ưu đãi và miễn trừ lãnh sự, chế độ ưu đãi đối với
các nhà đầu tư nước ngoài v.v ) và loai không được hưởng các chế độ pháp lý đạc
biệt này.
Việc phàn loại theo tiêu chí này rất cần thiêt nhằm bảo đảm thực hiện các
cam kết CỊUỐC tế ghi trong Công ước quốc tế Viên năm 1961 về quan hệ ngoại giao
và Cổng ước Viên năm 1963 về quan hc lãnh sự mà nước ta đã tham gia; đồng thời
bảo đảm thực hiện chính sách của Nhà nước ta trong các lĩnh vực như: thu hút đầu
tư nước ngoài, tranh thủ kinh nghiệm hay kiến thức của các chuyên gia giỏi của nước
ngoài trong các lĩnh vực, v.v
II. KHÁI NIỆM VÀ Cơ SỞ PHÁP LÝ XÂY DựNG ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA
NGƯỜI NƯỚC NGOÀI
1- Căn cứ hình thành
Địa vị pháp lý bao aồm quyền và nehĩa vu của con người không phụ thuộc
Quốc tịch, nơi cư trú, sắc tộc, tòn siáo, chủng tộc là nội dung cơ bản của Quyền
Con N<uĩòi. Quyền này đã được quy định rõ trong luật pháp Quốc té:
10
1.1- Bó luật nhân quyền quốc tế
Bộ luật nhân quyền quốc tế là một khái niệm chỉ một tập hợp các văn bản
pháp lý quốc tế quan trọng: Tuyên ngôn toàn thế giới vể nhân quyền (1948), hai
Côm ước quốc tế về các quyền dân sự- chính trị và các quyền kinh tế- xã hội -văn
hoá (lăm 1966) và hai Nghị định thư không bắt buộc, bổ sung cho Cồng ước về các
quyểi dân sự- chính trị (hai Nghị định thư này được thông qua năm 1976). Việt
Nam vẫn chưa tham gia hai Nghị định thư này. Trong phạm vi mục này, chúng ta
sẽ ch xem xét nội dung của ba văn kiện chính cấu thành nên Bộ luật nhân quyền
con người, bao gồm: Quyền sống, quyền tự do và an ninh cá nhân (Điều 3); Quyền
khôie bị giam giữ làm nô lệ hoặc bị nô dịch (Điều 4); Quyền không bị tra tấn,
nhic hình, bị đối xử hoặc hình phạt tàn nhẫn vô nhân đạo (Điều 5); Quyền được
thừ; nhận tư cách pháp lý ở mọi nơi (Điều 6); Quyền bình đẳng trước pháp luật và
đưẹ: pháp luật bảo vệ (Điều7, 8. 10 và 11); Quyền không bị bắt bớ, giam cầm, đày
ải Iìột cách vô có' (Điều 9); Quyền không bị can thiệp vô cớ đến đời tư, gia đình,
nhí cửa hoặc thư tín, khôna bị xúc phạm đến danh dự và uy tín cá nhân (Điều 12);
Qirền tự do di lại và tự do cư trú trong phạm vi quốc gia; quyền xuất cảnh và nhập
cảm họp pháp (Điều 13); Quyền được hưởng quy chế tị nạn (Điều 14); Quyền có
que tịch (Điểu 15); Quyền tự do hôn nhân và gia đình (Điều 16); Quyền sỏ' hĩru tài
sán (Điều 17); Quyển tự do tư tưởnẹ nhận thức và tôn giáo (Điều 18); Quyển tự do
ng(n luận và bày tỏ ý kiến (Điều 19); Quyền tự do hội họp và lập hội một cách hoà
bìm (Điều 20); Quyền tham gia vào việc quản lý đất nước một cách bình đẳng,
trự! tiếp hoặc gián tiếp thông qua các đại diện mà mình lựa chọn (Điều 21).
Từ Điều 22 đến Điểu 28 tuyên bố về các quyền kinh tế, xã hội và văn hoá
nhàn mục đích đảm báo cho sự phát triển hài hoà và tự do nhân cách cá nhân con
n°iò'i. Đó là các quyền: Quyền có việc làm, quyền tự do chọn nghề nghiệp, quyền
đưc trả lương công bằng và xứng đáng, quyền thành lập và gia nhập công đoàn
(Đêu 23); Quyền được nghỉ ngơi và giải trí (Điều 24); Quyền được đảm bảo phúc lợi
xã lội như nhà ở, chăm sóc y tế, bảo hiểm (Điều 25); Quyền được giáo dục (Điều 26);
Qirền tự do tham gia vào đời sống văn hoá của cộng đồng, được chia sẻ nhũng tiến
bệKhoa học; quyền được bảo vệ các lợi ích vật chất cũng như tinh thần từ những
sár-T tạo của bản thân (Điều 27); Quyền được đảm bảo có một trật tự xã hội và
quic tế cho việc thực hiện các tự do nêu trên (Điều 28).
Cuối cùng hai Điều 29 và Điều 30 khản" định nguyên tắc: quyền phải đi đôi
vớiiìíỊÌũa VII rủ tự do kliônq phái là tuyệt dối mù phải chịu sự liạn chè do luật clịnlr,
đồiíi thời khóno một điều nào của bán Tuyên ngón có thể giải thích với hàm ý cho
12
Ị-hép một nhà nưó’c, một nhóm hoặc một các nhân nào có quyền thực hiện nhữnơ
l ành vi nhằm mục đích huỷ các quyển và tự CỈO cơ bản của con người.
13
tien hành nhưng cõng việc hoặc hành động nhàm mục đích huỷ bỏ hoặc hạn chế
quá mức quy định những quyền và tư do đã được công nhàn tron °- Côn<* ước.
Phân III gồm hai mươi hai điều (từ Điều 6 đến Điều 27) là phần quan trọncr
nhái của Công ước quốc tê về các quyền dàn sự và chính trị, trong đó quy định như
sau: Quyền sống (Điều 6); Quyền không bị tra tấn, đối xử hoặc bị áp đun" hình
phat một cách tàn nhẫn, vô nhân đạo hoặc nhục hình (Điều 27); Khôn" ai có thể bị
làm nô lệ, nô dịch, lao động bắt buộc hoặc cưỡng bức. ở những nước còn duy trì
hình phạt tù kèm lao động cưỡng bức với một tội phạm thì hình phạt đó cũng chỉ có
thê được thi hành trên cơ sở một phán quyết đã có hiệu lực của một toà án có thẩm
CỊUyen (Đieu 8); Quyên tự do và an ninh cá nhân (Điều 9); Những nơười bi tước tư
do vãn có quyền được đối xử nhân đạo (Điểu 10). Không ai bị bỏ tù vì lý do không
có khả năng hoàn thành nghĩa vụ theo họp đồng (Điều 11); Quyền tư do đi lại và cư
trú được bảo đảm, quyền này chỉ có thể bị hạn chế bởi những; lý do luật định để bảo
vệ an ninh quốc gia, trật tự công cộng, sức khoẻ hoặc đạo đức xã hội quyền và tự
do cửa người khác (Điều 12); Người nước ngoài cư trú hợp pháp chỉ có thể bị trục
xuất theo những quyết định phù họp pháp luật. Người bị true xuất có quyền phản
đối, khiếu nại và yêu cẩu xem xét lại (Điều 13); Tất cả mọi người đều bình đần*
trước toà án và cơ quan tài phán (Điều 14); Không ai có thể bị kết án phạm tội hình
sự vì một hành động (tác vi) hoặc không hành động (bất tác vi) không phải là tội
phạm theo luật quốc gia hoặc quốc tế vào thời điểm xảy ra hành vi đó. Cũng khôn«
được áp dụng hình phạt nặng hơn hình phạt đã được ấn định vào thời điểm xảy ra
hanh VI phạm tội (Điêu 15); Pháp luật bảo hộ quyền của con người được tôn trọnơ
tự do về đời sống riêng tư, gia đình, nhà ở, thư tín, danh dự, uy tín, tự do tư tưởn<T
tín ngưỡng và tôn giáo, tự do chính kiến, tự do ngôn luận, tự do hội họp hoà bình và
lập hội (các Điều 17, 18, 19, 21, 22); Nghiêm cấm mọi tuyên truyền cho chiến
tranh, mọi chủ trương gây hằn thù dân tộc, chủng tộc hoặc tôn giáo để kích độnơ
phan biệt chung tộc, thù địch hoặc bạo lực (Điều 20); Gia đình là một nhóm cơ bản
va tự nhien cua xa hội và có quyền được nhà nước bảo hộ. Nam, nữ có quyền tư do
kết hôn và thành lập gia đình khi đủ tuổi do luật định. Vợ, chồncr bình đẳnơ về
clụih quy en dơn tộc tự quyêt như ÌĨIỘĨ thành tô cơ bản ti'onq khái niệm quyên con
người129' trg 30). Cùng với bản Tuyên ngôn nhân quyền và Công ước quốc tế về các
quyền kinh tế - xã hội - văn hoá, Công ước về các quyền dân sự và chính trị đã thực
sự tạo la được một cơ sỏ' pháp lý vững chắc cho cuộc đấu tranh vì quyền con n^ười
trên phạm vi toàn cầu.
15
1.1.3- CótiíỊ ước quốc té về các quyền kinh tê, xã hội vã văn ho á.
Côn" ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hoá được Đại hội đồnẹ
Liên hợp quốc thông qua ngày 16/02/1966 gồm Lời nói đầu, 5 phần với 31 Điều.
Lời nói dầu của Công ước này thốnạ nhất với Lòi nói đầu của Côim ước
quốc tế về các quyền dân sự và chính trị.
Phần I với một điểu duy nhất cũng hoàn toàn giống với phần I của Công ước
về các quyền dân sự và chính trị.
Phẩn ỉỉ gồm bốn Điều (từ Điều 2 đến Điều 5) trong đó các quốc gia thành
viên cam kết, bảo đảm thi hành các quyền đã nêu trong Công ước bằng tất cả các
biện pháp thích họp, đặc biệt là biện pháp lập pháp mà không hề có sự phân biệt
đối sử đối vói bất cứ đối tượng nào. Các quốc gia cũng cam kết đảm bảo quyền
bình đẳng nam - nữ, đảm bảo chỉ áp dụng các hạn chế luật định trong chừng mực
các hạn chế ấy không trái với bản chất của các quyền con nơười và hoàn toàn vì
mục đích phúc lợi chung của toàn xã hội. Không được giải thích Công ước một
cách tuỳ tiện nhằm cho phép một nước, một nhóm nạ ười hay một cá nhân có quyền
tham "ia hoặc tiến hành các hoạt động phá hoại hoặc giới hạn quá mức các quyền
và tự do đã được Công ước ghi nhận.
Phân ỈU có 10 điều (từ Điều 6 đến Điều 15) ghi nhận các quyền kinh tế, xã
hội và văn hoá, bao gồm: Quyền làm việc, quyền của tất cả mọi người có cơ hội
kiếm sống. Các quốc gia thành viên sẽ thi hành các biện pháp như huấn luyện kỹ
thuật hay hướng nghiệp để bảo đảm quyền (Điều 6); Quyền của mọi người được
hưởng những điều kiện làm việc công bằng và thuận lợi; đặc biệt phải được trả
lương thoả đáng đủ để đảm bảo cuộc sống của họ và gia đình, được làm việc trong
môi trường an toàn và vệ sinh, được có cơ hội được đề bạt lên chức vụ cao hơn trên
[29, trg 42]_ Q ing với các văn kiện quốc tế khác về quyền con người, Công ước đã góp
pliấn tạo nên những chuẩn mực pháp lý làm thước đo giá trị nhân quyền trong hệ
thống pháp luật của mỗi quốc gia trên thế giới.
1.2- S ự tham gia của Việt Nam vào các Công ước quốc tế vê quyền con người.
Trong Tuyên ngôn độc lập năm 1945 của chúng ta đã phản ánh sâu sắc khát
vọng sống hoà bình của dân tộc mình:“ tất cả các dân tộc trên th ế giới đều sinh
ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyển tự do ” [101
Hiện nay, Đảng và Nhà nước ta đang nỗ lực tiến hành công cuộc đổi mới,
công nghiệp hoá - hiện đại hoá, xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, văn minh, trong đó con người thực sự trỏ' thành mục tiêu
và độc lực của sự phát triển kinh tế - xã hội. Chỉ thị của Ban chấp hành Trung ương
17
Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định rõ: “Chúng ta nhận thức rằng quyển con
nạ ười là thành quả đấu tranh lảu dài qua các thời đại của nhân dân lao động và
các dán tộc bị áp bức trên th ế giới và cũng là thành quả cuộc đấu tranh của loài
nạười làm chủ thiên nhiên, qua đó quyền con người trở thành giá trị chung của
nhân loại G iải phóng con người gắn liền với giải phóng dân tộc, giải phóng giai
cấp, giải phóng x ã hội. C h ỉ dưới tiền dề độc lập dân tộc và chủ nghĩa x ã hội thì
quyền con người mới có điều kiện được đảm bảo rộng rãi, đầy đủ, trọn vẹn nhất.
Trong chủ nghĩa x ã hội có sự kết hợp hài hoà giữa lợi ích cá nhân, lợi ích tập th ể
và lợi ích toàn x ã hội. Chúng ta coi trọng bảo đảm lợi ích cá nhân của con người vì
đó là mục tiêu, ìà động lực của sự phát triển. ” [37'trg 51
Trên phương diện pháp lý, một mặt, chúng ta khẳng định bảo vệ quyền con
người vẫn và sẽ còn là công việc nội bộ của mỗi quốc gia, mặt khác chúng ta
không hề coi nhẹ vai trò của pháp luật quốc tế hiện đại. Mặc dù mới trở thành
thành viên của Liên hợp quốc từ năm 1977, nhưng trên thực tế, Việt Nam đã ký kết,
phê chuẩn hoặc gia nhập nhiều Công ước quốc tế quan trọng về quyền con người:
- Bộ Công ước Giơnevơ năm 1949 về bảo hộ nạn nhân chiến tranh [38’,r?51^
bao gồm:
+ Công ước về bảo hộ thường dân trong chiến tranh;
pháp lv của cá nhân nói chung. Trong khoa học pháp lý, đôi khi các nhà nghiên
cứu không dùng khái niệm “địa vị pháp lý” mà dùng khái niệm “quy chế pháp lý”,
hoặc dùns; cả hai khái niệm với nội dung thống nhất. Chúno; ta cần làm rõ không
chỉ khái niệm “quy chế pháp ]ý” mà cả khái niệm “địa vị pháp lý” của cá nhân,
đồng thời phân biệt rõ sự giống nhau và khác nhau của hai khái niệm này.
Về khái niệm quy chế pháp lý, có ý kiến cho rằng [34, trg 1161 các yếu tố cấu
thành cơ bản, hạt nhân của khái niệm địa vị pháp lý của cá nhân chính là những
yếu tố cấu thành của nội dung quy chế pháp lý của cá nhân. Nói cách khác, tổng
hợp các yếu tố: quyền năng chủ thể, hệ thống quyền, nghĩa vụ pháp lý, các lợi ích
hợp-) pháp của cá nhân và các biện pháp pháp lý bảo đảm các quyền và nghĩa vụ
pháp lý và các lợi ích họp pháp của họ cấu thành quy chế pháp lý của cá nhân. Có
thể nói rằng, quy c h ế pháp lý của cá nhân là địa vi p háp lý của cá nhân theo nghĩa
hẹp. Trong sách báo pháp lý và cả trong thực tiễn, có quan điểm đồng nhất nội
dung địa vị pháp lý của cá nhân với hệ thống các quyền, nghĩa vụ pháp lý và các lợi
ích họp pháp của cá nhân. Bằng chứng của quan niệm này là khi đặt vấn đề tìm
hiểu địa vị pháp lý của cá nhân, chỉ đề cập các quyền và nghĩa vụ pháp lý và các lợi
ích họp pháp của cá nhân.
19
Việc đồng nhát nội dung địa vị pháp lý của cá nhân với hệ thống các quyền
nghĩa vu pháp lý và các lợi ích hợp pháp của cá nhân là thiếu khách quan có thể
được xem là phiến diện. Bởi vì, yếu tố đầu tiên thể hiện địa vị pháp ]ý của cá nhân
và không thể bỏ qua là vấn để cá nhân có được công nhận là chủ thể của pháp luật
của quốc gia hay không. Nêu được công nhận là chủ thể của pháp luật thì đươnơ
nhiên cá nhân có quyền năng chủ thể, tức là có năng lực pháp luật và năng lực hành
VI theo quy đinh cua pháp luật quốc gia, và chỉ nhờ đó mới có hê thống các quyền
và nghĩa vụ pháp lý cụ thể cũng như các lợi ích hợp pháp của cá nhân.
Nhìn chung về mặt lý luận, địa vị pháp lý của cá nhân là địa vị của cá nhân
tiong xa hội được thừa nhận và khăng đinh trong pháp luât của mỗi nhà nước. Đây
là hiện tượng pháp lý phức tạp mà nội dung của nó được thể hiện bởi nhiều yếu tố
như quyên năng chủ th ể (năng lực pháp luật và năng lực hành vi) của cá nhân; hệ