Nghiên cứu xây dựng hệ thống chuẩn đánh giá các kỹ năng tiếng Anh cho sinh viên hệ sư phạm năm thứ hai khoa NN- VH Anh Mỹ - Pdf 26

đ ạ i h ọ c q u ố c g i a h à n ộ i
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ
ĐẾ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
CẤP ĐẠI HỌC QUỐC GIA
NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG HỆ THỐNG CHUẨN đ á n h
GIÁ CÁC KỸ NÃNG TIẾNG ANH CHO SINH VIÊN
HỆ Sư PHẠM NĂM THỨ HAI KHOA NN - VH ANH-MỸ
MÃ SỐ: QN 01 - 02
CHUYÊN NGÀNH: GIẢNG DẠY NGOẠI NGỮ
CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI:
THS. HOÀNG THỊ XUÂN HOA - KHOA NN & VH ANH-MỸ
, -^Ai HOC QUỐC GIA H *
I ÍRUNQ TÂM THÕNG Tin Thự V.
HÀ N Ộ I-2004 Dĩ / 3 Ỹ3
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ
ĐẾ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
CẤP ĐẠI HỌC QUỐC GIA
NGHIÊN CỨU XÂY DỤNG HỆ THỐNG CHUẨN đ á n h
GIÁ CÁC KỸ NÃNG TIẾNG ANH CHO SINH VIÊN
HỆ Sư PHẠM NĂM THỨ HAI KHOA NN - VH ANH-MỸ
MÃ SỐ: QN 0 1 -0 2
CHUYÊN NGÀNH: GIẢNG DẠY NGOẠI NGỮ
CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI:
THS. HOÀNG THỊ XUÂN HOA - KHOA NN & VH ANH-MỸ
NHŨNG NGƯỜI CÙNG THAM GIA THỰC HIỆN:
THS. NGỰYỄN THỊ VƯỢNG
THS. NGUYỄN THỊ BACH THẢO
GV LÊ THÚY HÒA
GV NGUYỄN VIỆT KỲ
GV CAO THỊ TƯỜNG MINH

1.4.1 Hệ thống chuẩn cho môn ngoại ngữ ở trường phổ thông Mỹ 17
1.4.2 Chuẩn IELTS - Hệ thống kiểm tra tiếng Anh Quốc tế 26
1.4.3 Hộ thống chuẩn Cambridge 29
1.4.4 Hệ thống chuẩn TO EFL 32
CHƯƠNG 2 - NGHIÊN cữ u THỰC TRẠNG ĐÀO TẠO VÀ TRÌNH
ĐỘ SINH VIÊN NĂM THỨ HAI KHOA NN & VH ANH-MỸ
2 1 Chương trình đào tạo cử nhân ngoại ngữ hệ sư p h ạ m

35
2.1.1 Mục tiêu đào tạ o 35
2.1.2 Nội dung chương trìn h 36
2.1.3 Chương trình năm thứ hai khoa NN & VH A nh-M ỹ

36
2.1.4 Kiểm tra, đánh giá ở năm thứ hai khoa NN & VH Anh-Mỹ 37
1
2.2 Điều tra hiện trạng trinh độ tiếng Anh sinh viên năm thứ hai 39
2.2.1 Mục đ íc h 39
2.2.2 Công cụ khảo s á t
39
2.2.3 Các nghiệm th ể 55
2.2.4 Kết quả khảo s á t 56
2.2.5 Phân tích kết quả khảo s á t 58
CHƯƠNG 3 - XÂY DỤNG HỆ THốNG CHưẨN đ á n h g iá c á c k ĩ
NĂNG THỰC HÀNH TIÊNG CHO SINH VIÊN NÁM THỨ HAI KHOA
NN & VH ANH-MỸ
3.1 Mục tiêu chung

Bảng 5
Kết quả tổng hợp
58
Bảng 6
Chủ đề, kĩ năng và các loại bài tập nghe hiểu
64
Bảng 7
Chủ đề, kĩ năng, thể loại bài đọc và bài tập đọc hiểu
65
Bảng 8
Thể loại, kĩ năng, bài tập viết
66
Bảng 9
Thể loại, nhiệm vụ và chức năng nói
68
Bảng 10
Các chuẩn về ngữ pháp 69
TỪVIÊT TẮT
IELTS
International English Language Testing System
GRE
Graduate Record Examination
TOEFL
Test of English as a Foreign Language
ƯCLES
University of Cambridge Local Examination Syndicate
ALTE
Association of language Tester in Europe
FCE
First Certificate in English

đánh giá khoa học và phù hợp sẽ giúp điều chỉnh chương trình giảng dạy.
phương pháp giảng dạy để đạt được mục đích của chương trình đào tạo. Bên
cạnh đó chuẩn đánh giá cũng góp phần xây dựng hình thức kiểm tra đánh giá
phù hợp và hiệu quả. Và hơn thế nữa, chuẩn đánh giá cũng giúp cho việc hội
nhập với khu vực và thế giới dễ dàng hơn.
Đề tài ‘Nghiên cứu xây dựng chuẩn đánh giá các kĩ năng tiếng Anh cho
sinh viên hộ sư phạm năm thứ hai khoa NN & VH Anh-Mỹ’ là một trong bốn
đề tài xây dựng chuẩn cho các năm trong chương trình đào tạo cử nhân ngoại
ngữ của khoa NN & VH Anh-Mỹ từ năm thứ nhất cho tới năm thứ tư với mục
đích là bốn đề tài này kết hợp sẽ đánh giá nhìn nhận lại toàn bộ các giai đoạn
của chương trình và sẽ có thể xác định được chuẩn cuối cùng mà sinh viên của
khoa phải đạt tới khi ra trường cũng như chuẩn cho từng năm học mà sinh viên
phải đạt được để tiến đến đạt chuẩn cuối khoá.
2- Mục tiêu của đề tài
Mục tiêu chính của đề tài là nghiên cứu xây dựng một hệ thống chuẩn
đánh giá năng lực thực hành tiếng Nói, Nghe, Đọc và Viết cho năm thứ hai
như một bộ phận của bộ môn Thực hành tiếng Anh cho sinh viên hệ sư phạm,
khoa NN & VH Anh-Mỹ thông qua việc nghiên cứu các nguyên tấc, cãn cứ và
phương pháp xây dựng chuẩn và thực trạng đào tạo và kiểm tra đánh giá của
nhà trường.
3- Phạm vi và đối tượng của đề tài
Một cử nhân ngoại ngữ hệ sư phạm khi ra trường, để có thể đáp ứng
được nhu cầu công việc cần có một khối lượng kiến thức tương đối phong phú
và cùng với các kĩ năng chuyên môn còn cần có những kĩ năng nghiệp vụ và
các phẩm chất khác. Bên cạnh đó, chuẩn đánh giá cuối khoá đào tạo có tầm
quan trọng đặc biệt chỉ ra chất lượng của sản phẩm đào tạo của nhà trường.
Tuy vậy, trong phạm vi của đề tài, chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu việc
xây dựng chuẩn đánh giá các kỹ năng thực hành tiếng và chỉ cho năm thứ hai,
trong chương trình đào tạo cử nhân hệ sư phạm, khoa NN & VH Anh-Mỹ.
2

Cùng với nhóm đề tài, đây là những công trình nghiên cứu khoa học.
mang tính hệ thống đầu tiên về chuẩn đánh gía, tìm hiểu các hệ thống chuẩn
đánh giá môn ngoại ngữ phổ biến trên thế giới, làm rõ được hiện trạng về
trình độ của sinh viên và cuối cùng là xây dựng được chuẩn đánh giá các kỹ
năng thực hành tiếng của sinh viên năm thứ hai được thực hiện ở trong nhà
trường đào tạo cử nhân ngoại ngữ hệ sư phạm.
7- Ý nghĩa của đề tài
- Ý nghĩa lý luận: Góp phần xây đựng cơ sở lý luận cho việc xây dựng
chuẩn đánh giá các kỹ năng thực hành ngoại ngữ ở Việt nam, cụ thể là các kỹ
năng nói, nghe, đọc và viết.
- Ý nghĩa thực tiễn: Đưa ra được một hệ thống chuẩn đánh giá các kỹ
năng thực hành ngoại ngữ cho năm thứ hai, trong chương trình đào tạo cử
nhân sư phạm ngoại ngữ. Từ đó tác động tới việc điều chỉnh, thay đổi chương
trình, nội dung giảng dạy và cải tiến phương pháp giảng dạy.
8- Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu giới thiệu tính cấp thiết, mục tiêu, nhiệm vụ và
phươns pháp của đề tài và phần kết luận tóm tắt nội dung chính và kết quả
nghiên cứu cũng như những hạn chế của đề tài và đề xuất phương hướng
nghiên cứu tiếp theo, nội dung chính của đề tài gồm ba chươns:
Chương 1 xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài thông qua việc cung cấp
một số khái niệm khái quát về chuẩn, tầm quan trọng của chuẩn, căn cứ để
4
xây dựng chuẩn, V.V., và thông qua phân tích phương pháp xây dựng chuẩn
cũng như một số chuẩn cho ngoại ngữ thông dụng trên thế giới.
Chương 2 nghiên cứu thực trạng đào tạo và trình độ của sinh viên tiếng
Anh hộ sư phạm nói chung và năm thứ hai nói riêng.
Chương 3 dựa vào cơ sở lí luận đã xây dựng ở chương 1 và kết quả khảo
sát thực tế đề xuất những mô tả chuẩn cho các kĩ năng thực hành tiếng năm
thứ hai khoa NN & VH Anh-Mỹ.
xây dựng chuẩn, V.V., và thông qua phàn tích phương pháp xây dựng chuẩn

6
Các chuẩn khái quát giúp xác định được đường hướng chung cho
chương trình, thể hiện nguyên tắc chung của chương trình. Trong khi đó các
chuẩn cụ thể đóng vai trò làm căn cứ cho việc xây dựng nội dung cho chương
trình môn học và xây dựng các tiêu chí đánh giá, xác định được tiến bộ của
người học cũng như kết quả của toàn khoá học.
Chuẩn trong giáo dục có thể được xác định trên hai phương diện:
- chuẩn nội dung (content standards): là mô tả khái quát kiến thức và kỹ
năng mà người học phải có được sau khoá học. Kiến thức bao gồm những ý
tưởng, khái niệm , vấn đề và thông tin quan trong trong lĩnh vực của môn học.
Kỹ năng bao gồm cách thức tư duy, làm việc, giao tiếp, phân tích, và tìm hiểu,
nghiên cứu mang tính đặc thù của từng môn học.
- chuẩn hoạt động (performance standards): là những thí dụ cụ thể và
những xác định rõ ràng những điều mà người học cần biết và có thể làm được
để chứng tỏ rằng họ có năng lực đối với kiến thức và kỹ năng quy định trong
chuẩn nội dung. ■
Việc xây dựng chuẩn không chỉ là đặc thù của giáo dục ngoại ngữ mà
còn là công việc của tất cả các môn học trong chương trình học nói chung.
Trong đào tạo ngoại ngữ, chuẩn thường được mô tả như các hành vi ngôn ngữ
có thể quan sát được thể hiện năng lực giao tiếp ngôn ngữ.
1.1.2 Vai trò của chuẩn
Chuẩn là một bộ phận cấu thành của một chương trình đào tạo, nó vừa là cơ sở
để xây dựng nội dung chương trình vừa là đích cần vươn tới của người học và
đồng thời là công cụ của người quản lý đào tạo theo dõi tiến độ và tiến bộ của
quá trình đào tạo. Vì vậy chuẩn có những vai trò sau:
• Làm định hướng cho việc xây dựng hay đổi mới chương trình đào tạo nơoại
ngữ: Bởi vì chuẩn xác định trình độ đầu ra (exit level), những kiến thức và
kỹ năng cụ thể và mức độ thành thạo khi sử dụng các kỹ năng đó mà nó sẽ
7
được dùng làm căn cứ để xây dựng hoặc điều chỉnh các chương trình đào

thời gian sử dụng các mức chuẩn có thể được điều chỉnh và bổ sung.
Hệ thống chuẩn cần có một thang chuẩn có độ bao quát rộng từ thấp nhất
đến cao nhất, được hiểu là mức chuẩn tối thiểu và mức chuẩn tối đa. Các mức
chuẩn này có thể tham gia vào đánh giá ở các giai đoạn khác nhau, tuỳ thuộc
vào mục đích của việc đánh giá: đánh giá trong quá trình đào tạo hoặc đánh
giá kết quả cuối cùng. Với việc đánh giá quá trình, mức chuẩn có thể cho
thông tin điều chỉnh (remedial), giúp người quản lí đào tạo hoặc trực tiếp đàp
tạo điều chỉnh những thành tố liên quan trực tiếp đến qua trình này như
phương pháp dạy học, tài liệu học tập, môi trường học tập, v.v. Nhưng với việc
đánh giá cuối cùng (end-product), thông tin do mức chuẩn này cho biết sẽ
giúp đưa ra quyết định ‘đỗ/trượt’ đối với người học. Như vậy mỗi mức chuẩn
đều có thể sử dụng vào những mục đích cụ thể nào đó. Giữa mức tối thiểu và
tối đa trong hệ thống chuẩn có thể có nhiều bậc khác nhau. Các bậc này có số
lượng càng lớn thì việc đánh giá càng chính xác và công bằng hơn. Người xây
dựng chuẩn cần phải xác định được và mô tả chi tiết các kiến thức hoặc kỹ
năng cho từng mức chuẩn. Mỗi mức trên thang chuẩn có thể được chia nhỏ
hơn thành một số bậc phụ trên và dưới mức.
Việc xác định chuẩn cuối cùng cho chương trình đào tạo cử nhân ngoại
ngữ hộ sư phạm của khoa NN & VH Anh-Mỹ là hết sức cần thiết để xác định
các cử nhân - sản phẩm của quá trình đào tạo đó có trình độ và kiến thức ở
mức nào. Bên cạnh đó, cũng cần xác định chuẩn cho từng giai đoạn đào tạo -
từng năm học vì việc học một ngoại ngữ sẽ được kiểm soát tốt hơn, chương
trình, giáo trình cũng như phương pháp giảng dạy có thể được điều chỉnh kịp
thời hơn và thông tin về tiến độ chương trình cũng như tiến bộ của người học
sẽ được cung cấp kịp thời nếu nó được phân chia thành từng đơn vị nhỏ.
9
1.1.4 Căn cứ để xây dựng chuẩn
Xác định chuẩn cho một mồn học trong một khóa học đòi hỏi một quá
trình nghiên cứu thu tập nhiều thông tin khác nhau. Sâu xa về mật lý luận,
chuẩn được xây dựng dựa trên quan niệm về bản chất và chức nãng của ngôn

nhu cầu đều phải thi lại. Còn một khi đã có chứng chỉ IELTS, hay TOEFL,
hoặc GMAT là các trường ĐH trong các nước nói tiếng Anh đều chấp nhận.
Tuy nhiên, cũng cần xác định rằng, với mục tiêu chung của chương trình là
đào tạo các giáo viên ngoại ngữ, một số mô tả và khía cạnh chuẩn quốc tế sẽ
không hòan tòan phù hợp. Do vậy, tuy rằng việc xác định và xây dựng chuẩn
kiến thức là một nhu cầu tất yếu, và cũng cần phải xây đựng chuẩn theo chuẩn
quốc tế nếu chúng ta muốn chơi cùng một sân với thế giới, cũng cần có nghiên
cứu thực trạng để có những điều chỉnh đối với chuẩn dùng trong chương trình
đào tạo cử nhân tiếng Anh hệ sư phạm của trường ĐHNN - ĐHQG HN.
Một hộ thống chuẩn tối ưu phải đáp ứng được yêu cầu của cả hai mục tiêu
trước mắt và lâu dài. Để xây dựng được một hệ thống như vậy việc tham khảo
các hệ thống chuẩn quốc tế là tối cần thiết. Hệ thống chuẩn này cần dựa trên
cơ sở bối cảnh phát triển của đất nước hiện tại và tương lai có ảnh hưởng đến
nhu cầu học ngoại ngữ trong nước.
Sự cân bằng hài hoà giữa chuẩn nội địa và chuẩn quốc tế hoặc sự kết hợp
có chọn lọc chuẩn quốc tế là cần thiết, tránh các phương án cực đoan hoặc bài
ngoại, chỉ dùng chuẩn nội địa hoặc rập khuôn cứng nhắc chuẩn quốc tế vào
hoàn cảnh Việt nam.
Trong phần này chúng tôi đã điểm qua một số vấn đề cơ bản về chuẩn
đánh giá: đã xác định chuẩn đánh' giá là gì, vai trò của nó trong việc xây dưng
11
và phát triển chương trình đào tạo cũng như trong quá trình dạy và học của
người dạy và người học. Bên cạnh đó chúng tôi cũng đã xác định được các căn
cứ để xây dựng chuẩn và yêu cầu đối với việc xây dựng một hệ thống chuẩn
đánh giá năng lực ngoại ngữ dựa theo các chuẩn quốc tế có uy tín có tính đến
thực trạng và nhu cầu đào tạo ở Việt nam. Sau đây, chúng tôi sẽ đi vào một số
phần chính đó.
1.2 Chuẩn đánh giá với các quan niệm về ngôn ngữ và việc dạy ngoại ngữ
Việc xác định chuẩn đánh giá thường chịu nhiều ảnh hưởng của các
thành tựu của cả ngôn ngữ học ứng dụng và đo lường giáo dục. Nói một cách

trọng trong việc xác định chuẩn. Phần đông các nhà nghiên cứu và nhà ngôn
ngữ học hiện nay (Jong and Verhoeven 1992, Fromkin and Rodman 1993)
đều thống nhất quan điểm rằng biết một ngôn ngữ bao gồm khả năng thực
hiện một số lượng lớn các nhiệm vụ khác nhau bằng ngôn ngữ đó. Những
người biết một ngôn ngữ nói ngôn ngữ đó và được những người nói cùng thứ
ngôn ngữ đó hiểu. Họ biết những âm thanh nào có và những âm thanh nào
không có trong ngôn ngữ đó; họ biết rằng một tập hợp các âm thanh nhất định
sẽ tạo thành từ có nghĩa; họ có thể kết hợp các từ thành các cụm từ và các cụm
từ thành các câu có nghĩa. Biết một ngôn ngữ có nghĩa là kiểm soát được hệ
thống ngôn ngữ của nó (cú pháp, hình vị, âm vị, từ vựng,
V.V.). Nó cũng có
nghĩa là có khả năng tiếp cận với các khía cạnh ngữ dụng, ngữ cảnh, ngôn ngữ
xã hội học của ngôn ngừ đó, bao gồm cả việc biết cách sử dụng ngôn ngữ đó
để đạt được mục đích giao tiếp bằng những cách thức phù hợp với từng ngữ
cảnh văn hóa cụ thể.
Giao tiếp được coi là tâm điểm của mọi mối quan hệ xã hội. Mục đích
giao tiếp được coi là mục đích quan trọng nhất của việc học ngoại ngữ. Hệ
thống chuẩn cần được xây dựng dựa trên quan niệm rằng một trong những
mục đích quan trọng nhất của học ngoại ngữ là khả năng giao tiếp bằng ngoại
13
Quan niệm trên về bản chất ngôn ngữ và thế nào là biết một ngoại ngữ
có những điểm yếu: nó đã không tính đến đặc điểm cơ bản của ngôn ngữ là
tính dư, tính có thể dự đoán được cũng như tính sáng tạo và tính duy nhất của
các câu nói đơn lẻ. Gần đây hơn, các đường hướng kiểm tra đánh giá đã chịu
nhiều ảnh hưởng của những quan niệm mới về ngôn ngữ như một phương tiện
giao tiếp và đã cố gắng đánh giá việc thực hiện chức năng ngôn ngữ cũng như
khả năng sử dụng nó vào mục đích giao tiếp của người học (Rea-Dickins,
2000).
. 1.2.2 Chuẩn đánh giá theo đường hướng giao tiếp
Quan niệm về thế nào là 'biết' (know) một ngôn ngữ có vai trò rất quan

nghĩa.
Với quan niệm về bản chất của ngôn ngữ và quan niệm về thế nào là
biết một ngoại ngữ của đường hướng giao tiếp, chuẩn đánh giá ngoại ngữ
không những tập trung vào khả năng ngữ pháp mà còn nhấn mạnh cả kiến
thức về ngôn ngữ xã hội học, khả năng hiểu hàm ý và chiến lược giao tiếp của
người học. Nó đòi hỏi người học phải sử dụng ngôn ngữ một cách tự nhiên
trong những hoạt động giao tiếp thực sự, và nó phải kiểm tra được trực tiếp
người học một loạt các chức năng giao tiếp khác nhau. Chuẩn đánh giá theo
đường hướng giao tiếp phải xác định được một loạt các đặc điểm mà trước đó
không thể tìm thấy được trong các chuẩn truyền thống. Các đặc điểm đó phải
phản ánh được việc sử dụng ngôn ngữ dựa trên cơ sở tương tác, nhằm thực
hiện các mục tiêu giao tiếp cụ thể của người nói hoặc người viết đối với các
thính giả hoặc độc giả đã được xác định. Chuẩn đánh giá đã được thay đổi
nhiều, đặc biệt là với việc đánh gìá các kỹ năng nói và viết. Các tiêu chí đánh
giá truyền thống thường tập trung nhiều vào năng lực ngữ pháp, độ chính xác
vể ngữ pháp, việc sử dụng từ vựng thích hợp, hoặc hình thái đúng của câu hỏi,
v.v. Bên cạnh các tiêu chí trên, đánh giá theo đường hướng giao tiếp còn đánh
14
ngữ đó, có nghĩa là khả năng chuyển tải và thu nhận thành công những thông
điệp thuộc nhiều thể loại khác nhau; khả năng sử dụng ngôn ngữ đó để tham
gia vào các tương tác xã hội và thiết lập các mối quan hệ xã hội; khả năng trò
chuyện, tranh luận, phê phán, yêu cầu, thuyết phục và giảng giải một cách
hiệu quả, biết tính đến sự khác biệt về tuổi tác, nguồn gốc, học vấn, độ thân
quen của người tham thoại. Bên cạnh đó là khả năng thu nhận thổng tin từ các
văn bản viết và các phương tiện thông tin khác, diễn giải được các thông tin đó
phù hợp với phong cách, hoàn cảnh giao tiếp và mục đích giao tiếp. Nói cách
khác, khả năng giao tiếp là sự kết hợp giữa kiến thức về hệ thống ngôn ngữ đó
với kiến thức về các thể thức văn hoá, các quy tắc lịch sự, các quy ước ngôn
bản, v.v. để chuyển tải và nhận về một cách thành công các thông điệp có
nghĩa.

biết một ngoại ngữ của đường hướng giao tiếp, chuẩn đánh giá ngoại ngữ
không những tập trung vào khả năng ngữ pháp mà còn nhấn mạnh cả kiến
thức về ngôn ngữ xã hội học, khả năng hiểu hàm ý và chiến lược giao tiếp của
người học. Nó đòi hỏi người học phải sử dụng ngôn ngữ một cách tự nhiên
trong những hoạt động giao tiếp thực sự, và nó phải kiểm tra được trực tiếp
người học một loạt các chức năng giao tiếp khác nhau. Chuẩn đánh giá theo
đường hướng giao tiếp phải xác định được một loạt các đặc điểm mà trước đó
không thể tìm thấy được trong các chuẩn truyền thống. Các đặc điểm đó phải
phản ánh được việc sử dụng ngôn ngữ dựa trên cơ sở tương tác, nhằm thực
hiện các mục tiêu giao tiếp cụ thể của người nói hoặc người viết đối với các
thính giả hoặc độc giả đã được xác định. Chuẩn đánh giá đã được thay đổi
nhiều, đặc biệt là với việc đánh gìá các kỹ năng nói và viết. Các tiêu chí đánh
giá truyền thống thường tập trung nhiều vào năng lực ngữ pháp, độ chính xác
về ngữ pháp, việc sử dụng từ vựng thích hợp, hoặc hình thái đúng của câu hỏi,
v.v. Bên cạnh các tiêu chí trên, đánh giá theo đường hướng giao tiếp còn đánh
14
ngữ đó, có nghĩa là khả năng chuyển tải và thu nhận thành công những thông
điệp thuộc nhiều thể loại khác nhau; khả năng sử dụng ngôn ngữ đó để tham
gia vào các tương tác xã hội và thiết lập các mối quan hệ xã hội; khả năng trò
chuyện, tranh luận, phê phán, yêu cầu, thuyết phục và giảng giải một cách
hiệu quả, biết tính đến sự khác biệt về tuổi tác, nguồn gốc, học vấn, độ thân
quen của người tham thoại. Bên cạnh đó là khả năng thu nhận thông tin từ các
văn bản viết và các phương tiện thông tin khác, diễn giải được các thông tin đó
phù hợp với phong cách, hoàn cảnh giao tiếp và mục đích giao tiếp. Nói cách
khác, khả nãng giao tiếp là sự kết hợp giữa kiến thức về hệ thống ngôn ngữ đó
với kiến thức về các thể thức văn hoá, các quy tắc lịch sự, các quy ước ngôn
bản, v.v. để chuyển tải và nhận về một cách thành công các thông điệp có
nghĩa.
Với quan niệm về bản chất của ngôn ngữ và quan niệm về thế nào là
biết một ngoại ngữ của đường hướng giao tiếp, chuẩn đánh giá ngoại ngữ

Hiểu, chuyển đổi được từ phương tiện
này sang phương tiện khác, mô tả
được bằng ngôn ngữ của mình
3. Áp dụng (application)
Giải quyết vấn đề, sử dụng thông tin
có hiệu quả
4. Phân tích (analysis)
Có khả năng phân tích quá trình, sự
việc, tìm ra được cấu trúc bề sâu của
thông điệp, xác định được động cơ
5. Tổng hợp (synthesis)
\
Có khả năng tạo sản phẩm lời nói đặc
thù, bằng lời nói hoặc ngôn ngữ phi
lời nói
6. Đánh giá (evaluation)
Đánh giá được vấn đề, phán quyết
được những tranh uận, bất đồng ý
kiến
Bảng 1 - Thang bậc nhận thức theo mô hình của Bloom
• Lĩnh vực kỳ năng
15

Trích đoạn Hệ thống chuẩn cho môn ngoại ngữ ở trường phổ thông Mỹ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status