ĐAI HỌC Q UỐ C GIA HA NỒI
TRUỒ NG ĐẠI HỌC KH O A HỌC XẢ HỘI V À N H Â N V A N
N H Ũ N G X U H Ư Ớ N G L Ã N G M Ạ N
T R O N G V Ă N H Ọ C N G A c u ố i T H Ê K Ỷ X I X
Mã sô: QX 05-20
Chủ trì đề tài: Ths. Nguyễn Thị Thu Thủy
Hà Nội, tháng 3 nãm 2009
BÁO CÁO TÓM TẮT
ĐÈ TÀI KHCN CÁP ĐẠI HỌC QUÓC GIA HÀ NỘI
rén đê tài: Những xu hướng lãng mạn trong văn học Nga cuối thế kỷ XIX
vlà sổ: QX 05-20
rhủ trì đề tài: Ths. Nguyễn Thị Thu Thủy
Khoa Văn học, trường ĐH KHXH&NV, ĐHQGHN.
. Tông quan các vân đê nghiên cứu:
- Đe tài xác định ban chât của những xu hướng lãng mạn trong văn học Nga
cuối thế kỷ XIX: đó là sự hồi sinh của chủ nghĩa lãng mạn hay là chủ nghĩa hiện
tiực mang những phâm chât mới?
- Đê tài tập trung vào một số tác gia tiêu biêu như Turgenev, Lexcov,
Garsin, Korolenco, Gorki, trong đó đặt ra hai vấn đề chính liên quan đến sáng tác:
’ấn đề lựa chọn kiêu nhân vật trung tâm và vấn đề lựa chọn hình thức thể loại cho
úc phẩm.
- Đe tài cung câp bản dịch một số tác phâm tiêu biếu của những nhà văn
tên.
1. Ket quả nghiên cứu:
- Chúng tôi dùng thuật ngừ cái lãng mạn (phân biệt với chủ nghĩa lãng mạn)
cê chỉ những trường hợp kể thừa của chủ nghĩa hiện thực đối với thi pháp của chủ
rghĩa lãng mạn. Bản chất của những xu hướng lãng mạn trong văn học Nga cuối
tie kỷ XIX chính là sự kế thừa truyền thong lãng mạn trên các phương diện chủ
CE, nhân vật, các thủ pháp nghệ thuật
- Mặc dù đôi tượng nghiên cứu bao gồm cả sáng tác của Turgenev, Lexcov,
Corki, song Garsin và Korolenco được chúng tôi coi là hai nhà văn tiêu biểu nhất
Vietnam National University, Hanoi
Duration: from 2005 to 2007th.
1. Objectives:
The project reseaches a literary period, what is not studied well in Viet Nam,
through introducing one of its leading literary tendencies - romantic tendency.
2. Main contents:
- This project is to define the nature of the romantic tendencies in late XIX
century Russian literature: whether it is a revival of romantism or new
charateristics of realism
- This project focuses on some typical writers such as Turgenev, Lexcov,
Garsin, Korolenco, Gorki, with two main questions on their writing: the choice of
type for main characters and of form genre for works.
- This project contains translation of some typical works of the above
writers.
3. Research results:
- Our terminology romantic (different from romantism) refers to those cases
where realism inherits poetic of romantism. The nature of the romantic tendencies
in Russian literature late XIX century is an inheritance of romantic traditions in
spheres of topics, characters, arts methods
- Although our project includes works by Turgenev, Lexcov, Gorki, we
consider Garsin and Korolenco as the most typical writers for these romantic
tendencies
In Garsin’s works the traditions of romantism are inherited visibly: fantastic
and legendary colors of plot, tragedic elements of writing are parallel to those of
Weltschmcrzy (“the world sorrow”), his characters are romantic, full of heroism,
they arc “lonely insanes, dreaming of abolishing the world evils”
Korolenco went further in using the traditions of romantism in his writing.
With the concept “romantism can not revive fullv these days”, Korolenco used
romantic traditions actively in creating his characters. His characters are “heroes”-
who arc belonging to people. The symbols of lights, colors and sounds in
2.1.1 .Thực trạng văn học dân túy
^
2.1.2. “Hoạt động làm sạch” của CNHTPP và vấn đề chất anh hùng trong
thời đại “không có anh hùng” ^
2.2. Kiểu nhân vật trong sáng tác của Turgenev những thập niên cuối đời
^
2.2.1. Anh hùng hóa và lãng mạn hóa hình tượng nhân vật dân chú cách
mạng-trí thức bình dân A
2.2.2. Kiểu nhân vật sống xa rời thực tế trong nhóm truyện “bí ân” 5
2.3. “Sự điên rồ của những con người quả cảm”, hay kiểu nhân vật trong
sáng tác của V.M. Garsin 6
2.4. Lãng mạn hóa nhân vật trong sáng tác của V.G.Korolenco
7
2.5. Nhân vật với khát vọng tự do của M.Gorki
7
Chương III. Xu hướng lãng mạn với vấn đề lựa chọn hình thức thể loại
cho tác phẩm 8
3.1. Truyền thuyết 8
3.2. Truyện - phúng dụ 9
3.3. Một số motip hình tượng biểu tượng 9
3.3.1. Motip “con đường” 9
3.3.2. Motip “giấc mơ” 9
3.3.3. Hình tượng âm thanh 9
Kết luận 9
Tài liệu tham khảo 9
Phụ lục (ban dịch một sô truyện ngăn) 1(
V.M.Garsin
quán. Đé tài cua clúnm tỏi xác định quan diêm của mình vê vấn dề đó
và sẽ khai thác nó từ nóc độ nuhiên cứu uiui đoạn văn học còn chưa
được uiói thiệu nhiêu tại Việt Nam - i2,iai đoạn cuôi the kv XIX.
2. Y liíỊhĩa thực til'll cùa de tìiv.
ó Việt Nam việc nghiên cứu chuyên sáu các tác giá, các hiên
tượng văn học Nga chưa có điều kiện được triển khai rộng. Trong
chương trình giang day ớ bậc đại học và cao đắng, văn học Nga thế kỷ
19 dược giới thiệu một cách khái quát và có dừng lại kỹ hưn ỏ một sô
nhà văn hiện thực ticu biếu, song những nét phong cách da dạng của
họ, tuy vậy, cùng vần chua được khai thác hết. Điều này để ngó nhiều
cơ hội cho những nghiên cứu chuyên biệt hơn vê những tác gia và
những hiện tượng văn học đáng chú ý. Một trong sô đó là nghiên cứu
vê những xu hướng sáng tác lãng mụn phút lộ rõ nét từ những năm 80
trải dài qua dầu thế ký XX tạo nên nét đặc sắc của tiến trình văn học
giai đoạn này mà độc giá Việt Nam có thê chưa được biêt tới một
cách đây đủ. Xét từ góc độ đó, chúng tôi cho rằng đề tài mà chúng tôi
thực hiện có ý nghĩa thực tiễn và khoa học cao.
3. Lịch sử van đê.
3.1. Ở Việt Nam, giai đoạn văn học Nga những năm 80-90 thê kỷ
XIX, cụ thê là những xu hướng lãng mạn trong đó, chưa được đề cập
đến với tư cách là một đối tượng nghiên cứu riêng biệt. Trong các
cuốn giáo trình, phẩn này chỉ được giới thiệu khái quát dạng như
“càng về cuối thế kỷ cuộc đấu tranh càng mãnh liệt. Văn học trở
thành một diễn đàn cách mạng đầy hiệu lực mà nhà thơ phải là người
công dân ” [2; 249], có nghĩa là yêu tô hiện thực trong sáng tác văn
học vân được nhân mạnh dặc biệt. Trong sô các nhà văn giai đoạn
này, sự chú V gần như được dành tuyệt đổi cho A.Tsekhov. A.
Tsekhov đúng là gương mặt điên hình nhất, và cũng sẽ là một trong
các đôi tượng nghiên cứu của chúng tôi trong de tài cúa mình. Nhiều
công trình nghicn cửu vê Tsekhov, chủ yêu dưới hình thức các bài
dọc thế kỷ 19, thậm chí dêìi ca đáu thế kỷ 20, sô' khác lại cho văn học
cuôi thê k\ là sự hổi sinh trớ lai của chú nghĩa lãng mạn đầu thế kỷ và
gọi đó lù “chú nghĩa lãng mạn mới”, một sô khác nữa gọi đó là những
xu hướng lãng mạn phát trie'll trong lòng chủ nghĩa hiện thực.
A.M. Gurevich trong hài vé những đặc điểm loại hình của
chủ nghĩa lãng mạn Nga nhận định rằng sự phát triển của chủ nghĩa
lãng mạn Nga cuối thế kỷ như là “một nghịch lý”. Ông viết: “Chấm
dứt tồn tại như một trào lưu văn học độc lập nhưng suốt thế kỷ 19,
thậm chí cá ở đầu thế ký 20, nó vẫn được lưu giữ như một truyền
thống sinh động và hữu hiệu" Ị13; 505], Theo Gurevich, điều này hoàn
toàn giải thích được. Giữa thế kỷ 19, đặc biệt là sau cái cách, khi các
nề nếp hàng thế kỷ của cuộc sống Nga bị phá vỡ, nước Nga lại trái qua
một thời kỳ tương tự như tai biến đã lùm rung chuyên thế giới phương
Tây ở ranh giới giữa thế ký 18 và 19. Nhà nghiên cứu dẫn lời của
Ph.I.Evnin (trong bài Chú nẹlũa hiện thực Dostoievski II Các vấn đề
loại hình chủ nghĩa hiện thực Nga, M.1969): “Các biến chuyển bất
ngờ, đột ngột, chiều sâu của các nhiễu loạn xã hội đang diễn ra làm
nảy sinh ở người đương thời cám giác không còn tin tướng ớ ngày mai,
lo âu, bất ổn, hấp bênh và sự mờ mịt xung quanh, nhịp sống khẩn
trương”( tr.415). Bán thân hiện thực bắt đầu trở nên khó tướng tượng,
hoang đường, bới sự phát triến xã hội ở Nga có được sự khán trương
chưa từng thấy, mang tính thám họa, còn khủng hoảng chế độ nông nô
gắn chật với khúng hoảng các quan hệ tư sán vừa mới hình thành. Tất
cả điều này tạo ra tiền đề bên trong và mở ra những khả năng mới cho
sư hồi sinh độc đáo và phát triển truyền thống lãng mạn.
Theo Gurevich, truyền thống lãng mạn bộc lộ trong vãn học
Nga có hai mặt. Một mật, nó thể hiện, theo cách này hay cách khác,
trong sáng tác các nhà văn hiện thực phê phán: Turgenev, L.Tolstoy,
Dostoievski, Lexcov, Korolenco và Gorki thời trẻ, phán ánh trong hệ
vân đề của tác phàm và plurơim pháp nghệ thuật của chúng. Mặt khác,
Mười Những thành tựu mà chú nghĩa lãng mạn dạt được chủ yếu nhờ
vào văn xuôi dãn chu thời hây giờ (Garsin, Korolenco, Kuprin,
Gorki r 11 ỉ I
5
V.l.Kaminxki trong D ỏng chà y lảng mạn trong vàn học Nga
“thờ i kỳ chu yến tiếp" đã lược thuật những thành tựu CƯ hán của việc
nghiên cứu văn học Nga cuối thê kỷ. Ong trình bày, vào những năm
70-80 vấn đc chú nghĩa lãng mạn trong văn học Nga cuối thế kỷ 19
càng nhận dược nhiều sự chú ý. Như một hiện tượng tiến bộ và thể
hiện (lặc trưng thẩm mỹ của những tìm tòi cách tàn của các nhà văn,
vấn đé chú nghĩa lãng mạn đã được nói tới trong các công trình của
Bialưi G.A., L.P.Egorova, M.A.Xocolova, U.R.Phokht, E.P.Txoi
Một số xem chú nghĩa lãng mạn cuối thế kỷ như một phương pháp
nghệ thuật độc lập, phát triến song song với phương pháp hiện thực và
chỉ tác động qua lại với nó. Phần lớn các nhà nghiên cứu thừa nhận sự
tồn tại của chú nghĩa lãng mạn trong văn học Nga cuối thế kỷ, nhưng
nhấn mạnh rằng nó gần như không bao giờ ở dạng “tinh khiết”
(L.P.Egorova, G.A.Ixupova, M.A.Xocolova ). Thường gặp hưn là
vấn đề về sự độc đáo của chính phương pháp hiện thực “thời kv
chuyển tiếp”, dược phức tạp lẻn bởi cả một tổ hợp các nguyên tắc lãng
mạn trong miêu tả” [16]
Một bài háo khác cũng đề cập tới vấn đề ban chất sự phát triển
văn học Nga giai đoạn này, đó là hài của K.G.Petrosov Về những vàn
đê tranh cãi của chủ nghĩa lãng mạn trong văn học Nga cuối thế kỷ
19-đầu thê kỷ 20. Ông cũng có những quan điểm gần với Kaminxki:
Chủ nghĩa lãng mạn Nga như một trào lưu và phươnu pháp nghệ thuật
hình thành trong những điếu kiện lịch sử xã hội nhất định và gắn với
chúng là bán chát và sự tồn tại của nó. Trong nhiều năm, trong khoa
nghiên cứu văn học thông trị một quan điểm rằng cùng với sự thay đổi
của đời sống xã hội và tư tướng thì chú nghĩa lãng mạn như một
cìiii n^lìhi chú (/nan ỉrotiỊi chu nghĩa hiên thực citoi tliế kỷ
Korolưnco, (iorki. Theo Lolman, không chí chú nghía nhân bán mà cá
chú nghía lãng mạn cũng là đặc diêm của chứ nghĩa hiện thực phê
phán trong việc mó ta cái claim hình thành. Chu nghĩa hiện thực phê
7
phán là chu nghĩa hiện thực nhất quán đôi với hiện thực đang tồn tại
và qua đi dó và bị phức tap lên bới các yếu tô của chú nghĩa lãng mạn
(đối khi cá chủ nghĩa duy lý) khi hướng về lương lai.
Phokht [30] lại phân ra các giai đoạn sau của chú nghĩa hiện
thực, trong đó cũng nhắc tới giai đoạn văn học mà chúng tôi quan tâm:
!. Giai đoạn đau tiên cỏ thê dược gọi là chủ nghĩa hiện thực g iá o huân
hay chủ nghĩa hiện thực khai sáng: Radisev, Crưlov, Naredznưi
Hành trình từ Peterburg đến Matxcơva (1790) của Radisev trình bày
hiện thực khách quan với lời huấn thị mang tính chủ quan.
2. Giai đoạn hai là chu nghĩa hiện thực phê phán. Giữa những năm 20,
trong bầu không khí chính trị dàng cao, trong điều kiện phong trào
cách mạng tháng Chạp, trong qua trình vượt qua những nmâu thuẫn
của hệ tư tưởng và văn học tháng Chạp và chủ nghĩa lãng mạn công
dân, chủ nghĩa hiện thực phê phán có điểm khởi đầu là tác phẩm Khổ
vì trí tuệ, Epsịhenhi o nhe Ạ in và Boris Godunov. Chú nghĩa hiện thực
phê phán trở thành một khuvnh hướng chủ đạo từ những năm 40 cho
đến đầu thế kv 20.
Phokht dựa vào đối tượng micu tá, hay nói khác đi, lát cắt của
hiện thực mà qua đó đạt tới sự phản ánh và thể hiện thái độ đối với
hiện thực, chia ra 3 trào lưu trong chủ nghĩa hiện thực phê phán: trào
lưu tâm lý, trào lưu xã hội và trào lưu chủ nghĩa hiện thực lãng mạn
(tên gọi mang tính ước lệ)
Trào 1 ưu tâm lý có đặc điểm là sự chú ý tới vấn đề cá nhân, tư
tưởng lự đo cá nhân, các lý tưởng đạo đức, miêu tá hiện thực trước hết
là thông qua thế giới nội tám nhân vật, thể loại là tiểu thuyết tâm lý-
mạn rõ nét, song song với những tác phẩm hiện thực.
Cấu trúc các tác pharn trào lưu này thường là những hình thức
thế loại nhỏ. phát Iricn tính trữ tình (mạch ngầm của Sekhov), sử dụng
các hình thức ước lệ. Nó trực tiếp chuẩn bị cho một khuynh hướng mới
tron ỉ: chủ nghĩa hiện thực - đó là chu nuhĩa hiện thực xà hội chu
ntihĩa.
9
3. Giai đoạn thứ 3 cúa chủ nghĩa hiện thực là chủ nghĩa hiện thực xã
hội chu nghía. Đặc trưng của nó là không chí nhất quán khi miêu tá
cái đang có và dang qua di, inà cá cái hiện thực đang định hình, cái
đang trứ nên có thế nhừ vào sự nhận thức ra các quv luật cúa phát triển
xã hội.
Những gợi mớ cua nhà nghicn cứu Phokht đã định hướng nhiều
cho chúng tôi khi triển khai đề tài của mình.
Như vậy, xét từ cá loại hình học chủ nghĩa lãng mạn lẫn loại
hình học chủ nghĩa hiện thực, giai đoạn văn học cuối thế kỷ XIX đều
được đánh giá thống nhất - đó là: đây không phải là chú nghĩa lãng
mạn đầu thế kỷ được hổi sinh, cũng không là chủ nghĩa hiện thực ở
dạng “thuần khiết” của nó. Văn học giai đoạn này có những phẩm chất
đặc biệt tương ứng với thời đại lịch sử biến động khi đó. Đề tài của
chúng tôi đặt mục đích xác định ranh giới giữa một sô thuật ngữ có
liên quan đến vãn học giai đọan này và giới thiệu cụ thể hưn về nó
thông qua một sỏ' tác gia tiêu biểu.
4. P hạ m vi và đố i tượng nghiên cứu:
4.1. Đề tài của chúng tôi có tên “Những xu hướng lãng mạn
trong văn học Nga cuối thế kỷ XIX”. Cụm từ cuối th ếk\ XIX chúng tôi
sử dụng để chỉ giai đoạn văn học bắt đầu từ những năm HO cho đến
hết thế kỷ XIX. Việc chú ý tới giai đoạn văn học này xuất phát từ bối
cánh xã hội có nhiều điểm đặc thù những năm đó dẫn tới những đặc
điểm mới trong sự phát triến văn học. Chúng tôi đóng khung hức tranh
4.2. Trong giai đoạn văn học này, các nhà nghiên cứu quan
sát thây một số xu hướng phong cách như phong cách lãng mạn, tự
nhiên chú nghĩa, giáo huấn- tuyên truyền Những yếu tố phong cách
này hoàn toàn không cáu thành một trào lưu hay trường phái nào đó
mà tổn tại dưới dạng pha trộn trong sáng tác, có khi cùa cùng một nhà
văn. thậm chí đòi khi trung cùng một tác phàm, Côn 2 trình của chúng
tôi giới hạn nghicn cứu cua mình ớ việc nghiên cứu xu hướng phong
cách làng mạn, mà theo chúng tôi, là nổi bật nhất trong thời kỳ này.
4.3. Sáng tác của các nhà văn bộc lộ rõ những yếu tố và
truyền thống lãng mạn giai đoạn này có thê phân thành ba nhóm
chính: nhóm các nhà văn dân túy, nhóm các nhà văn hiện thực lão
thành và nhóm các nhà văn hiện thực thê hệ mới, được gọi là các
“nghệ sĩ tré”. Đê tài cua chúng tôi hạn định nghiên cứu của mình ớ
hai nhóm sau, cụ thê là chúng tôi lựa chọn nghiên cứu một số tác
phẩm có các yêu tô mà chúng tôi quan tâm cua các tác giả như:
Turgenev giai đoạn cuối, Tolxtoy, Garsin, Korolenco, Sekhov và Gorki
thời kỳ đầu, trong sô đó có Garsin và Korolenco là những nhà văn
chưa được nói tới ở Việt Nam và cũng là những “nghệ sĩ trẻ” dáng chú
ý giai đọan này. Bên cạnh đó chúng tôi cũng lưứt qua đôi nét vê đặc
trưng sáng tác của các nhà văn hiện thực theo phong trào dân túy.
Liều lượng phân tích dành cho các tác giả và những vân đề khai thác
trong sáng tác của họ được chúng tôi thực hiện không đồng đều do
đặc trưng riêng cua từng tác giả.
4.4. Nghiên cứu những hiểu hiện của xu hướng lũng mạn
trong giai đoạn văn học này, chúng tôi chỉ dừng lại ở hai vấn đề nổi
bật nhất, đó là vấn đề lựa chọn và xây dựng nhân vật và các phương
thức tái tạo hiện thực đặc thù. Chúng tôi xem hai vấn đề này có quan
hệ mật thiêt và là hệ quả của cảm quan thế giới của các nhà văn, vì thế
việc nghiên cứu chúng cũng cho phép chúng tôi bàn rộng ra về những
vấn đề tư tướng của tác phàm. Tương ứng với hai vấn đề này là hai
Ớ Nga, trong khoa nghiên cứu văn học tồn tại hai thuật ngữ biểu đạt
hai khái niệm khác nhau, mặc dù ớ một mức độ nhất định khá gần nhau và
có sự giao thoa với nhau về nghĩa. Đó là p0MaHTH3M và P0M3HTMK3 (trong
tiếng Pháp là romaníicisme và romantique, trong tiếng Anh lù romanticism
và romantic), được chuyển ngữ sang tiếng Việt là chủ nghĩa lãng mạn và
cái lãng mạn. Đôi với đề tài của chúng tôi, việc xác định nội hàm khái
niệm hai thuật ngữ trên trở thành nhiệm vụ đầu tiên, then chốt, đế từ đó
hiểu đúng bản chất của hiện tượng văn học mà chúng tôi đang nghiên cứu:
các xu hướng lãng mạn trong văn học Nga cuối thế kỷ là sự hồi sinh của
chú nghĩa lãng mạn, hay là chú nghĩa hiện thực mang những phẩm chất
mới?
1.1. Chủ nghĩa lãng mạn như một hệ thông nghệ thuật
1.1.1. Nguồn gấc tên I>ọi:
Theo Tù điên Bách khoa Ván học rút gọn (bản tiếng Nga), chủ nghĩa
lãng mạn (romanticism) có nguồn gốc tên gọi ban đầu lừ từ romance -
theo tiếng Tây Ban Nha có nghĩa một khúc ca trữ tình mang tính anh hùng
ca, sau đó chí các bán trường ca sứ thi kể về các hiệp sĩ (roman), và sau
cùng, nó chi các tiểu thuyết hiệp sĩ viết bằng văn xuôi. Vào thế kỷ 17, từ
romantique dành để chi các cốt truyện phiêu lưu viết bằng ngữ hệ Roman
(Latin) đối lập với các tác phám viết bằng tiếng cổ. Năm 1654 từ romantic
được John Everlean sử dụng và có nghĩa là “ngoạn mục”, được dùng để
khắc hoạ một địa danh cu thê, mà trong trường hợp này là khu đồi Bat
Ị27Ị. Vào thế ký 18, từ này thông dụng trong văn giới Anh nhưng là dành
dể chi văn học thời trung cổ và Phục hưng. Vào nửa sau thế kv 18, ở Anh.
từ romantic dùng đe chi tát ca những gì khác thường, hoang đường, bí án.
kỳ lạ - những thứ dược xem là veil tô' cán thiết cua thư ca. Cùng với các
khái niệm “độc đáo" (picturesque) và “gô-tich”(2olhic) nó chi những giá
14
trị thám mỹ mới, khác với lý tướng “vạn năng" và “duy lý” về cái đẹp
trong chủ nghĩa cổ diên.
người. Đối lặp trực tiếp với thê giới quan hệ vật chất xấu xa giữa con người
với nhau là xứ sứ tuyệt đẹp cua tâm hồn, là nội dung iý tướng của cuộc
sống” [cd I 1 1
Tóm lại, ra đời trên bức ncn lịch sử xã hội không làm ai thoả mãn, chủ
nghĩa lãng mạn có thể được hiếu như là một kicu cám nhận cuộc sống đặc
hiệt, mà đặc điếm của nó là dựa gán như tuyệt đối vào các cá thể riêng lẻ
trong tư cách là những sức mạnh có giá trị tự thân với khả năng giải phóng
inình và giải phỏng người khác khỏi những hoàn cảnh sống xa lạ với họ và
khẳng định một lối sống khác đúng theo ý nguyện. Thế giới thực đầy sự lệch
lạc và hỗn độn, chưa hoàn thiện và rất khó lường, được đặt đôi lập với một
thế giới lý tưởng, được tạo ra từ trí tưởng tượng của tác giả. Ớ đó không có gì
de doạ con người, họ thấy mình được an toàn trong đó. Trí tướng tưựng tạo
nên những quy luật và không gian riêng của nó.
Hcgcl có lẽ là triết gia sớm nhất đưa ra tiêu chí của nghệ thuật lãng
mạn khi ông so sánh đặc trưng cúa nó với đặc trưng của nghệ thuật cổ điển
trong công trình Những bài giảng vẻ mỹ học của mình. Ông viết: “Nội dung
thực sự của nghệ thuật, đó là đời sống nội tâm tuyệt đối, và hình thức tương
ứng, đó là một tính chủ thể tinh thần nhận thức được tính độc lập và tự do
của mình” [4;504]. Hegel phân tích tiếp: “Nếu như chúng ta so sánh đặc
trưng này của nghệ thuật lãng mạn với nhiệm vụ của nghệ thuật cổ điển là
nghệ thuật đã tìm thấy sự thê hiện hoàn mỹ nhất ở trong điêu khắc Hy Lạp,
thì chúng ta nhận thấy ràng các hình tượng tạo hình của các thần linh không
biểu hiện những vận động và họat động của tinh thần Kể ra. các nét thay
đổi và ngẫu nhiên của cái cá tính có tính chất kinh nghiệm vẫn không bị thù
tiêu ớ trong nhĩrim hình lượn2, đẹp đẽ này của các vị thần, song nó vẫn thiếu
một tổn tại thực SƯ cua một tinlì chú thê tồn tại vì mình Nhưng vị thần của
nghẹ thuật lãng mạn lại là một Thượrm đe đê biết nhìn, biết ràng mình là
Thượng đê có một tính dill thó' bên trong và hộc lộ nội cam của mình cho nội
làm người xem”. Ọuá trình này diên ra khi “ cái nội cám tuyệt đối này bộc
16
í ' l c í C T Z T O Z t ị 17
A. KI itco trong bài vé phương pháp và truyền thống của chủ nghĩa
lăng mạn cũng xác định đặc trưng ciia sáng tác lãng mạn là ớ chỗ đói tượng
phản ánh nghệ thuật cua nó là tlìớ’lỊÌỚi bên trong của chú thế. A.Xocoỉov
cùng một số khác xác định dấu hiệu hàng đầu đó là lý tưởng lãng mạn.
Hướng này được giới nghiên cứu đồng tình nhiều hơn vì thấy sự gắn bó đặc
hiệt chặt chẽ cua nó với cám nhận về cái mới, về một tương lai đang nảy nở.
Gorki cũng từng nhân mạnh nhịp chú của chủ nghĩa lãng mạn - là “sự chờ
đợi một cái gì mới mẻ, lo âu trước cái mới và khát vọng vội vã, hồi hộp nhận
biết cái mới này".
Cũng có quan điếm tương tự. A.A. Gadziev trong cuốn Chủ nghĩa
lãng mạn và chủ nghĩa hiện thực định nghĩa, kiểu sáng tác lãng mạn nhận
thức, tái tạo một cách sáng tạo trước hết là bình diện tinh thần của cuộc sống
con người.
K.Grigorian nhìn thấy bản chất của chủ nghĩa lãng mạn ỉà ở sự áp đảo
của “tính trữ tình, của yếu tố chú quan-cá nhân”. N.Giegalov nhìn thấy trong
chủ nghĩa lãng mạn khát vọng “hướng về niềm bi tráng, tới cường suất cao
của ấn tượng nghệ thuật”, tới sự hé mở cái sâu kín nhất. Như vậy, có thế
nói, cách hiểu tiêu chí cơ hán của chú nghĩa lãng mạn là sự quan tâm tới
bình diện tinh thần, thê giới bên trong của con người, điển hình hoà trữ tình
chủ quan như sợi chỉ đỏ đi suốt toàn bộ lý luận về văn học lãng mạn bắt đầu
từ nửa đầu thế kỷ 19 đốn nay.
1.1.3. Các nguyên tắc /ư ỉ ương-thẩm mỹ (hay thể giới qua con mắt các
nhà lãng mạn):
Phong trào lãng mạn phát triển ở các nước khône đồng nhất và nhiều
mâu thuẫn. Điểm giao cắt giữa chúng cũng chính là điếm chung trong
nguyên tắc cơ hán thâm nhập và khám phá cuộc sống. Điểm chung đó là gì?
Trong triết học, hiếu hiện đặc trưnti của kiêu tư duy lãng mạn là chủ
nghĩa duy tâm chu quan của Fichte: " Cái Tôi là hiện thực duy nhất, là sức
mạnh sáng tạo toàn năng, lạo ra tất ca và cuối cùng sẽ hợp lại với sự tự nhận