Khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn trong văn học việt nam giai đoạn 1945 - Pdf 31

Khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn trong văn học Việt Nam giai
đoạn 1945-1975

Cách mạng Tháng Tám thành công là "cuộc tái sinh mầu nhiệm" đã mở ra bước ngoặt lớn
cho quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân ta. Đồng thời nó cũng là động
lực để tạo nên một cuộc cách mạng trong văn học. Đó là sự thay đổi của một cách
nhìn,một cách cảm,một quan niệm sống trong sáng tạo nghệ thuật.Từ năm 1945 trở đi
những người cầm bút đã ý thức sâu sắc được trách nhiệm trong các sáng tác của mình là
phải phụng sự cho đất nước,các tác phẩm cần tập trung đề cập đến các vấn đề thời sự,liên
quan đến vận mệnh dân tộc,tạo dựng và ca ngợi những con người của thời đại đã sống và
phục vụ cho tổ quốc.Chính vì vậy mà văn học giai đoạn 1945-1975 mang đậm khuynh
hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn.
Trước hết cần giải thích được về khái niệm khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn.
Khuynh hướng sử thi được hiểu là những tình cảm, cảm xúc tự hào , ngợi ca của tác giả
về những vấn đề lớn lao quyết định vận mệnh chung của cộng đồng. Đây là cảm hứng chi
phối mạnh mẽ đến các sáng tác của các thi nhân trong thời kỳ kháng chiến , đặc biệt là
cuộc kháng chiến chống Mỹ.Tác phẩm viết theo khuynh hướng sử thi là tác phẩm đề cập
đến những đề tài có ý nghĩa lịch sử và mang tính dân tộc.Nhân vật chính là những người
tiêu biểu cho lí tưởng và phẩm chất cộng đồng,và chiến đấu vì cộng đồng.Sử thi thì mang
ý nghĩa lịch sử còn cảm hứng lãng mạn lại mang nội dung trữ tình sôi nổi, dạt dào và
hướng về lý tưởng, hướng về tương lai.Cảm hứng lãng mạn không chỉ sôi nổi trong thơ
mà cả trong văn xuôi.Từ tiểu thuyết, truyện ngắn đến bút kí,tuỳ bút và cả kịch bản sân
khấu đều rất giàu chất thơ.Hướng vận động của cốt truyện, số phận nhân vật, dòng cảm
nghĩ của tác giả hầu như đều đi từ bóng tối ra ánh sáng, từ gian khổ đến niềm vui, từ hiện
tại đến tương lai đầy hứa hẹn.Cảm hứng lãng mạn đó là cách nhìn thế giới mang đậm dấu
ấn chủ quan, đầy mơ ước.Có khi đó là sự mơ ước bay bổng hướng tới cái chưa có trong
thực tế bằng niềm tin,sự lạc quan.Có khi đó là những rung động về lí tưởng cao đẹp,khát
vọng lớn lao của những con người có chí hướng,hoài bão cao cả…Văn học 1945-1975 đã
thể hiện những cảm xúc lãng mạn tích cực đó.Hiện thực chiến tranh khốc liệt, phải đương
đầu với hai kẻ thù hùng mạnh,một nửa đất nước tiến lên con đường Chủ nghĩa xã hội từ
đôi tay trắng, phải "Dọn tí phân rơi nhặt từng mẩu lá" để "dựng cơ đồ"(Tố Hữu).Con

truyện trong truyện, đầu cuối tương ứng (kết cấu vòng tròn) cũng góp phần chuyển tải tư
tưởng và cảm hứng sử thi của tác phẩm
Từ năm 1945 đến năm 1954 là thời kỳ chống Pháp của đất nước. Văn học gắn liền với
khuynh hướng sử thi, tập trung phản ánh không khí hồ hởi, vui sướng khi đất nước giành


độc lập và cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Văn học gắn bó với cuộc sống kháng
chiến. Cho nên mới có những lời mừng vui:
"Mẹ ! Cao - Lạng hoàn toàn giải phóng
Tây bị chết bị bắt sống hàng đàn
Vệ quốc quân chiếm lại các đồn
Người đông như kiến, súng đầy như củi"
( Dọn về làng_Nông Quốc Chấn)
Đó là thắng lợi của chiến dịch Biên Giới, là niềm vui của nhân dân Cao - Bắc - Lạng.
Văn học cũng tập trung khám phá sức mạnh và những phẩm chất tốt đẹp của nhân dân.
Cảm hứng chủ đạo của giai đoạn này là cảm hứng lãng mạn. Các nhà văn, nhà thơ luôn
hướng vào tương lai, khơi dậy niềm vui, lòng tin tưởng và niềm say mê với con đường
cách mạng. Dù gian khổ,dù khó khăn nhưng trong trái tim các chiến sĩ luôn là niềm tự
hào dân tộc và niềm tin vào tương lai tất thắng : "Gian nan đời vẫn ca vang núi đèo"
Hơn nửa văn học còn ngợi ca những đổi thay của đất nước và con người trong bước đầu
xây dựng Xã hội chủ nghĩa với cảm hứng lãng mạn. Đó là sự đổi đời của con người, miêu
tả sự biến đổi số phận và tính cách nhân vật trong môi trường xã hội mới qua bài thơ "Đất
nước":
"Mùa thu nay khác rồi
Tôi đứng vui nghe giữa núi đồi
Gió thổi rừng tre phấp phới
Trời thu thay áo mới
Trong biếc nói cười thiết tha
Trời xanh đây là của chúng ta
Núi rừng đây là của chúng ta

khâm phục.
Tính sử thi của Rừng xà nu còn thể hiện ở giọng văn tha thiết, trang trọng mà tác giả đã
sử dụng khi kể về sự tích của làng Xô Man. Giọng văn ấy cũng thấm đượm trong việc
miêu tả thiên nhiên, khiến cho hình ảnh rừng xà nu bỗng thổi tới trong lòng người đọc
một cảm giác say sưa.
Sống giữa chiến tranh khốc liệt,luôn phải đối mặt với hy sinh mất mát song những người
chiến sĩ vẫn ngời sáng phẩm chất anh hùng cách mạng,họ tuyệt đối tin tưởng vào thắng
lợi của cách mạng và tìm thấy niềm vui,sự lạc quan từ chính thực tại cuộc sống như nhà


văn Anh Đức đã nói:"nơi dòng đời chảy xiết, nơi máu đổ, nơi tình huống khó khăn gian
khổ nhưng lại là nơi có thể viết nên những trang đẹp nhất".
Cảm hứng lãng mạn đã khẳng định cái tôi đầy cảm xúc và hướng tới lí tưởng, ca ngợi con
người mới, ca ngợi chủ nghĩa anh hùng cách mạng, tin tưởng vào tương lai tươi sáng của
dân tộc.
Khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn làm cho văn học giai đoạn này thấm
nhuần tinh thần lạc quan và đáp ứng được yêu cầu phản ánh hiện thực đời sống
trong quá trình vận động và phát triển của cách mạng. Suốt ba mươi năm văn
học luôn là tiếng kèn xung trận, tiếng trống thúc quân góp phần làm nên chiến
thắng vẻ vang của dân tộc trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ
cứu nước.

* Cảm hứng: Là những cảm xúc chủ đạo, chi phối sự tưởng tượng, sáng tạo, hoạt động có hiệu quả.
Lãng mạn: có các cách hiểu sau:
1. Có khuynh hướng nghệ thuật theo chủ nghĩa lãng mạn:
Chủ nghĩa lãng mạn: Trào lưu và tư tưởng nghệ thuật thịnh hành vào hồi thế kỷ XIX ở Pháp và một số
nước châu Âu, đối lại với chủ nghĩa cổ điển, chủ trương vượt lên trên thực tế và dựa vào ý muốn chủ quan
mà sáng tác.
Lãng mạn cách mạng: Khuynh hướng nghệ thuật tiến bộ tin tưởng vào cuộc sống tương lai tươi đẹp.
2. Lãng mạn còn để chỉ tính cách hay mơ mộng, xa rời thực tế, giàu cảm xúc, tưởng tượng, hoặc yếu đuối,

+Một người có chí khí, có khát vọng, có hoài bão lớn lao
+ Có tầm vóc phi thường, có sức mạnh, dũng cảm đương đầu với khó khăn, sóng gió để thực
hiện hoài bão, ước mơ của mình
+Dám nghĩ dám làm, quyết tâm ra đi vì sự nghiệp lớn
Bài viết tham khảo:
Trên con đường tạo dựng nghiệp lớn, cuộc hôn nhân bất ngờ giữa chàng với Thúy Kiều chỉ là
phút chốc nghỉ ngơi, chứ không phải là điểm âm, tri kỉ và cuộc hôn nhân của họ đang hạnh phúc
hơn bao giờ hết. Ấy vậy mà, chỉ mới sáu tháng vui hưởng hạnh phúc bên Thúy Kiều, Từ Hải đã
lại động lòng bốn phương, dứt khoát lên đường, tiếp tục sự nghiệp lớn lao đang còn dang dở
Trước hết Từ Hải là một tráng sĩ, một người có chí khí mạnh mẽ. Chí là mục đích cao cả hướng
tới, khí là nghị lực để đạt tới mục đích, ở con người này, khát khao được vẫy vùng giữa trời cao
đất rộng như đâ trở thành một khát vọng bản năng tự nhiên, không có gì có thể kiềm chế nổi.


Từ chợt động lòng bốn phương, thế là toàn bộ tâm trí hướng về trời biển mênh mang, và lập tức
một minh với thanh gươm yên ngựa, lên đường thẳng rong. Chữ trượng phu trong Truyện Kiểu
chỉ xuất hiện một lần dành riêng đã nói về Từ Hải. Điều đó cho thấy Nguyễn Du đã dùng từ
Trượng phu với nghĩa Từ Hải là người đàn ông có chí khí lớn. Chữ thoắt thể hiện quyết định
nhanh chóng, dứt khoát cùa chàng. Bôn chữ động lòng bốn phương nói lên được cái ý Từ Hải
“không phải là người của một nhà, một họ, một xóm, một làng mà là người của trời đất, của bốn
phương”. (Hoài Thanh).
Con người phi thường như chàng chẳng thể giam hãm mình trong một không gian chật hẹp.
Chàng nghĩ rất nhanh, quyết định lại càng nhanh. Một thanh gươm, một con tuấn mã, chàng hối
hả lên đường. Ấy là bởi khát vọng tự do luôn sôi sục trong huyết quản của người anh hùng. Hoài
Thanh bình luận: Qua câu thơ, hình ảnh của con người “thanh gươm yên ngựa” tưởng như che
đầy cả trời đất”
Lí tưởng anh hùng của Từ Hải bộc lộ qua ngôn ngữ mang đậm khẩu khi anh hùng. Khi nói lời
chia tay với Thúy Kiều chàng không quyến luyến, bịn rịn vì tình chồng vợ mặn nồng mà quên đi
mục đích cao cả. Nếu thực sự quyếu luyến, Từ Hải sẽ chấp nhận cho Thúy Kiều đi theo.
Không chút vấn vương, bi lụy, không dùng dằng, quyến luyến như trong các cuộc chia tay bình

I. Mở bài:
- Giới thiệu được vấn đề cần nghị luận.
II. Thân bài:
1. Khái quát ( Dẫn dắt vào bài):
Đồng cảm và chia sẻ là một nếp sống tốt đẹp trong xã hội.
2. Giải thích:
- “Đồng cảm”: có chung một mối cảm xúc, suy nghĩ, có thể cảm nhận và chia sẻ được
những cảm xúc, suy nghĩ với một ai đó.
- “Chia sẻ”: cùng hưởng hoặc cùng chịu, san sẻ cho người khác những gì mình có ( vật
chất hoặc tinh thần) mà không hề toan tính thiệt hơn, hoàn toàn là tự nguyện.
=> Đồng cảm và chia sẻ đều là biểu hiện của tình người, của ý thức vì người khác.
3. Biểu hiện:
- Đồng cảm: hiểu và cảm thông chân thành với hoàn cảnh khó khăn hoặc bất hạnh của
người khác; đồng cảm có thể biểu hiện qua hành động, cử chỉ, hoặc có thể chỉ là ánh mắt
cảm thông...
- Chia sẻ: biểu hiện qua những hành động giúp đỡ, chia sẻ về vật chất và tinh thần. - Một
người biết đồng cảm, sẻ chia phải là người có sự cảm thông, thương xót, quan tâm giúp
đỡ người khác mà không nhằm mục đích cá nhân, vụ lợi. Đó chính là lòng nhân ái, tình
yêu thương ở trong mỗi con người.
- Đồng cảm, sẻ chia là một phẩm chất quý giá, một tấm lòng thương yêu cao đẹp:
+ Tình cảm ấy đã trở thành một truyền thống đạo lí tốt đẹp của dân tộc Việt Nam:
“Thương người như thế thương thân”, “Lá lành đùm lá rách – Lá rách ít đùm lá rách
nhiều”.
+ Tình cảm ấy đã đi nhiều vào văn học dân gian, trong các sáng tác văn học nổi tiếng:
“Truyện Kiều” ( dùng cách nói văn chương hơn là những câu Kiều trong lời ru của mẹ,
của thầy…),ca dao, dân ca,…
+ Trong xã hội chúng ta hiện nay, tình yêu thương vẫn được mọi người kế thừa và tiếp


nối: Quỹ nhân đạo vì người nghèo, Quỹ chữ thập đỏ, Trái tim cho em, phong trào Kế

- Đồng cảm và chia sẻ đã và đang là một nếp sống tốt đẹp rất cần được gìn giữ.
- Nếp sống tốt đẹp đó không chỉ sưởi ấm lòng người khác mà còn đem lại hạnh phúc cho
chính mình, mở ra một hi vọng cho tương lai tươi sáng cho quê hương, đất nước


ĐOÀN THUYỀN ĐÁNH CÁ
Tìm hiểu về bài thơ Đoàn thuyền đánh cá của Huy Cận
Năm 1958, trong không khí phấn khởi thi đua của toàn miền Bắc tiến lên xây dựng chủ
nghĩa xã hội, nhà thơ Huy Cậc trong 1 dẹp đi thực tế ở Hòn Gai đã sáng tác bài thơ
"Đoàn thuyền đánh cá". Với âm hưởng vừa khỏe khoắn, vừa sôi nổi lại vừa phơi phới bay
bổng, bài thơ đã ca ngợi sự giàu đẹp cuả vùng biển quê hương và tinh thần lao động hăng
say, phấn khởi của người lao động đc giải phóng hăng hài làm việc cho đất nước.
Với đôi mắt quan sát tinh tế, trí tưởng tượng phong phú, trái tim nhạy cảm và nghệ thuật
điêu luyện, nhà thơ đã vẽ ra 1 khung cảnh lao động tuyệt đẹp. Mở đầu bài thơ, tác giả
giới thiệu không gian và thời gian đoàn thuyền đánh cá ra khơi:
"Mặt trời xuống biển...
....sập cửa"
Một bức tranh thiên nhiên đẹp, có cái thoáng rộng của ko gian và thời gian của 1 ngày
đang khép lại. Trong cái mênh mông ấy nổi bật lên hình ảnh mặt trời đc ví như "hòn lửa"
đỏ rực gợi tả màu sắc sinh động của buổi hoàng hôn trên biển đang chuyển về đêm. Bầu
trời và mặt biển bao la như ngôi nhà vũ trụ trong khoảnh khắc đã phủ bóng tối mịt mùng,
còn những con sóng như chiếc "then cài" của ngôi nhà vĩ đại ấy. Biện pháp nhân hóa
"sóng đã cài then, đêm sập cửa" khiến thiên nhiên như những con người bit hoạt động, bit
nghỉ ngơi. Cảm hứng vũ trụ, các biện pháp tu từ so sánh, nhân hóa đã tạo nên những vần
thơ đẹp cho người đọc nhiều ấn tượng.
Khi vũ trụ đi vào trang thái nghỉ ngơi thì con người bắt đầu hoạt động :
"Đoàn thuyền đánh cá ...
....gió khơi"
Không phải từng chiếc thuyền lẻ tẻ mà là cả 1 đoàn thyền, một sức mạnh mói của cuộc
đời đổi thay đang bắt đầu căng buồm. Từ "lại" trong cụm từ "lại ra khơi" là sự khẳng định

hương
Hai khổ thơ có giá trị tạo hình đặc sắc, vẽ lại bức tranh lao động hoành tráng, tràn ngập
ánh sáng và màu sắc, tràn đầy sức sống mãnh liệt. Trong đó con người đã hòa hợp với
thiên nhiên hùng vĩ, bao la và thậm chí, vượt wa cả thiên nhiên nữa.
Mở đầu khổ thứ ba là hình ảnh đoàn thuyền lướt đi giữa trờ cao biển rộng có cái lân lân,
sảng khoái lạ thường:
"Thuyền ta lái gió....
.....biển bằng"
Hai câu thơ đẹp như 1 bức tranh Iồng lộng trời mây, mênh mông biển cả. Hình ảnh đoàn
thuyền đc làm đẹp thêm bởi 1 sức tưởng tượng kỳ lạ, giàu chất lãng mạn: gió là người,
trăng là cánh buồm. Cách nói như vậy giúp ta cảm nhận đc thuyền và con người như hòa
nhập vào thiên nhiên bát ngát, lâng lâng trong cái thơ mộng của trời, biển, gió, trăng. Từ
"lướt" đặc tả cảnh đoàn thuyền ra khơi với vận tốc phi thường; thiên nhiên cùng góp sức
với con người trên cn đường lao động và khám phá. Tư thế ra khơi nhẹ nhàng, thoải mái,
đầy khí thế d0ó chỉ có ở những con người vừa thoát khỏi kiếp sống nô lệ, được làm chủ
sản xuất, làm chủ đất trời, sông biển của mình. Nhưng lao động ko fải là 1 cuộc du
ngoạn. Hai câu thơ tiếp khắc họa hình ảnh 1 trận đánh, 1 cuộc chiến đấu với thiên nhiên
bằng tất cả trí tuệ và năng lực nghề nghiệp. Nhịp thơ trồi nên hối hả, lôi cuốn:
"Ra đậu....
....vây giăng"


Bên cạnh cá ung dung, sảng khoái của người dân chài, ta vẫn cảm nhận được nỗi vất vả
của họ. Họ phải vượt bao dặm biển trong trời đêm, rồi phải "dò bụng biển", tìm ra bãi cá,
"dàn đan thế trận" để bủa lưới bắt cá. Lúc này, mỗi thủy thủ là 1 chiến sĩ, 1 chiến sĩ trên
biển và con thuyền, mái chèo, lưới, các ngư cụ khác chính là vũ khí của họ. Huy Cận phải
có sự am hiểu sâu sắc về nghề chài lưới này và lòng thông cảm vói người lao động mới
vẽ đc bức tranh vừa hiện thực, sinh động mà lãng mạn ấy.
Bức tranh lao động đc tô điẻm bằng vẻ đẹp của thiên nhiên. Cái nhìn của nhà thơ đối với
biển và cá cũng có những sáng tạo bất ngờ, độc đáo:
cảnh trở nên hùng vĩ, lộng lẫy
- còn màn đêm khi buông xuống như cánh cửa và những lượn sóng là


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status