Trang
1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA SƯ PHẠM
BỘ MÔN NGỮ VĂN
NGUYỄN THỊ TUYẾT MỸ
Luận văn tốt nghiệp Đại học
Ngành Sư phạm Ngữ Văn
Cán bộ hướng dẫn: Th.s. TRẦN VĂN MINH
Cần Thơ, 5 -
2009
Trang
2
ĐỀ CƯƠNG TỔNG QUÁT
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề
tài
2. Lịch sử vấn
đề
3. Mục đích nghiên
cứu
4. Phạm vi nghiên
cứu
5. Phương pháp nghiên
cứu
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1: Thơ 1955 – 1975 trong văn học cách mạng giai đoạn 1945 –
1975
1.1.Thơ ca cách mạng 1955 – 1975 – một thời và mãi
mãi
1.1.1. Bối cảnh lịch
tượng
2.2.3. Ở phương diện giọng
điệu
Chương 3: Cảm hứng lãng mạn trong thơ 1955 –
1975
3.1. Khái
niệm
3.1.1. Lãng
mạn
3.1.2 Cảm hứng lãng
mạn
3.2. Biểu hiện của cảm hứng lãng mạn trong thơ 1955 –
1975
3.2.1. Thi vị hóa hiện thực xây dựng và chiến
đấu
3.2.2. Lý tưởng hóa tương
lai
3.2.3. Tuyệt đối hóa giữa thiện và ác, giữa ta và
địch
PHẦN KẾT
LUẬN
TÀI LIỆU THAM
KHẢO
Trang
4
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hai mươi năm chiến tranh chống Mỹ đã qua đi và một giai đoạn văn học cũng
đã
khép lại. Nhưng những ngày kháng chiến gian khổ, vĩ đại ấy lúc nào cũng sống
“Khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn trong thơ 1955 - 1975” không
phải
là một đề tài hoàn toàn mới. Viết về đề tài này đã có rất nhiều công trình nghiên
cứu,
bài viết, chuyên luận của các tác giả khác
nhau.
Có thể điểm qua một số công trình nghiên cứu tiêu biểu như
sau:
Công trình đầu tiên cần kể đến là quyển Thơ Tố Hữu của Lê Đình Kỵ (Nhà
xuất
bản Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội - 1979). Đây là quyển sách trình
bày
rất hay về sự nghiệp sáng tác, phong cách thơ Tố Hữu. Trong phần ba, khi trình
bày
những nét phong cách nghệ thuật thơ Tố Hữu, tác giả đã dành trọn chương 8 để viết
về
“lãng mạn cách mạng, trữ tình cách mạng” trong thơ Tố Hữu. Lê Đình Kỵ đã chỉ
ra
rằng: “Lãng mạn cách mạng ở đây là nhân sinh quan, nhiệt tình cách mạng cất
lên
thành tiếng hát, là tiếng gọi của tự do, là mệnh lệnh của chính nghĩa, là hào khí
của
tuổi trẻ khao khát được hiến dâng” [12; tr. 340]. Từ đó tác giả đã phân tích để làm
rõ
yếu tố lãng mạn trong thơ Tố Hữu. Lê Đình Kỵ đi từ khía cạnh cách mạng cho đến
sự
Trang
5
kết hợp giữa chủ nghĩa anh hùng cách mạng và lãng mạn của chiến tranh nhân
dân,
1945 - 1975. Tác giả đã nhận xét rằng: “Ba mươi năm chiến tranh giải phóng dân
tộc
hướng về lý tưởng độc lập tự do và chủ nghĩa xã hội, cả dân tộc chủ yếu sống với
tâm
lý lãng mạn - một chủ nghĩa lãng mạn thấm nhuần tinh thần chiến thắng và chủ
nghĩa
anh hùng” [21;tr. 18.] Tiếp sau lời nhận định ấy, Nguyễn Đăng Mạnh đã phân tích
và
làm rõ bằng những vần thơ cụ thể. Ở cuối phần trình bày về cảm hứng lãng mạn,
tác
giả đã khẳng định lại một lần nữa rằng “cảm hứng lãng mạn là đặc trưng mỹ học
của
giai đoạn văn học 1945 - 1975” [21; tr. 24]. Và chính nhờ cảm hứng lãng mạn đó
mà
dân tộc Việt Nam đã vượt qua những gian khổ tột cùng, hy sinh tột độ để hướng
về
ánh sáng rực rỡ của lý tưởng, của tương
lai.
Quyển Nhìn lại một chặng đường văn học của Trần Hữu Tá, Nhà xuất bản
Thành
phố Hồ Chí Minh, 2000, là công trình có nhiều đóng góp quan trọng. Trần Hữu Tá
đã
đi vào nghiên cứu những thành tựu, đặc điểm và tác phẩm tiêu biểu của khuynh
hướng
văn học yêu nước, cách mạng ở các thành thị miền Nam. Ở chương ba của phần
thứ
nhất “Sau hai mươi lăm năm, nhìn lại”, tác giả đã dành khá nhiều giấy mực để viết
về
thành tựu của khuynh hướng văn học yêu nước, cách mạng, trong đó đặc biệt là
lĩnh
1975, tập 1, Nguyễn Đăng Mạnh chủ biên. Đây là công trình nghiên cứu mang
tính
khái quát những đặc điểm chung của văn học giai đoạn 1945 - 1975. Trong
chương
một, khi trình bày về “Những đặc điểm cơ bản của nền văn học mới”, tác giả đã
khẳng
định rằng một trong những nét riêng của nền văn học ba mươi năm chiến tranh này
là
“xu hướng sử thi hóa là chủ đạo, chi phối từ tiểu thuyết, thi ca đến kịch bản sân
khấu”
[20; tr. 20]. Ý kiến này đã khẳng định nét nổi bật của thơ ca nói riêng và văn học
1945
- 1975 nói chung, đó chính là xu hướng sử thi hóa. Tuy nhiên Nguyễn Đăng Mạnh
chỉ
dừng lại ở ý kiến mà chưa góp phần làm sáng tỏ bằng những dẫn chứng, chi tiết cụ
thể.
Trong quyển Một thời đại mới trong văn học (Nhà xuất bản Văn học,
1995)
Nguyễn Đăng Mạnh đã đi vào trình bày khuynh hướng sử thi trong văn học ba
mươi
năm chiến tranh đau thương nhưng rất đỗi hào hùng bằng lời nhận định “Văn học
giai
đoạn 1945 - 1975 là văn học của những sự kiện lịch sử, của số phận toàn dân, của
chủ
nghĩa anh hùng. Nhân vật trọng tâm của nó là những con người đại diện cho giai
cấp,
dân tộc, thời đại và kết tinh một cách chói lọi những phẩm chất cao quý của
cộng
đồng” [21; tr. 22]. Để lời nhận định của mình có sức thuyết phục cao, tác giả đã
chứng
thảo, trong số đó bài “Nghĩ về đặc trưng thẩm mỹ của văn học cách mạng 1945
–
1975” của Trần Đình Sử ít nhiều có đề cập đến khuynh hướng sử thi trong văn
học
cách mạng 1945 – 1975. Trần Đình Sử đã trình bày ba đặc trưng thẩm mỹ cơ bản và
ở
đặc trưng thứ ba, tác giả đã viết “Là văn học thuộc loại hình sử thi, cái đẹp trong
văn
học cách mạng gắn với ý niệm về Tổ quốc trường tồn. Mọi cá nhân hữu hạn sẽ bất
tử
trong Tổ quốc của mình” [29; tr. 158]. Dù chỉ dừng lại ở ý kiến nhưng rõ ràng
qua
tham luận của Trần Đình Sử đã hé mở và gợi ý rất nhiều cho những người nghiên
cứu
đi
sau.
Trần Đình Sử trong Thi pháp thơ Tố Hữu (Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin –
Hà
Nội 2001) đã đi vào tìm hiểu và đi đến kết luận “sự kết hợp các chủ đề chính trị
với
thể tài lịch sử - dân tộc làm cho thơ trữ tình của Tố Hữu trở thành thơ chính trị sử
thi”
[26; tr. 101]. Tiếp sau đó tác giả đã chỉ ra rằng: “Nhìn theo con mắt sử thi mới có
thể
phát hiện được tầm vóc to lớn hùng vĩ, trách nhiệm nặng nề của thời đại hôm nay.
Do
đó, việc chuyển sang thể tài sử thi đánh dấu một bước tiến trong tư duy nghệ thuật
và
tiếng thơ Tố Hữu”. Từ việc nghiên cứu tính sử thi trong thơ Tố Hữu, Trần Đình Sử
đã
biểu hiện tập trung của ý chí, khát vọng và sức mạnh của cả cộng đồng dân tộc,
của
thời đại, của nhân loại. Mặc dù không đi vào phân tích cụ thể, chi tiết nhưng ý
kiến
Trang
8
của Nguyễn Văn Long đã phần nào tạo cơ sở lý luận vững chắc cho việc nghiên
cứu
về khuynh hướng sử thi trong thơ chống
Mỹ.
Ở phần hai, khi viết về “Thơ giai đoạn 1945 – 1975, tiến trình và các
khuynh
hướng” Nguyễn Văn Long đã dành nhiều trang viết để đề cập đến vấn đề “Thơ
với
cuộc kháng chiến chống Mỹ của dân tộc”. Ở phần này, tác giả lại trở về với ý kiến
cái
tôi trữ tình trong thơ kháng chiến chống Mỹ là cái tôi sử thi. Nguyễn Văn Long
đã
khẳng định rằng chính cái tôi sử thi đã cho các nhà thơ có chỗ đứng ở đỉnh cao
của
thời đại mà bao quát cả thời gian và không gian, lịch sử và hiện tại, dân tộc và
nhân
loại. Nhờ thế mà thơ thời kỳ chống Mỹ đã có sự mở rộng rất đáng kể về không gian
và
thời gian được chiếm lĩnh trong thơ. Nối liền quá khứ lịch sử với hiện tại và tương
lai,
liên kết dân tộc với thời đại và nhân
loại.
Nhà văn - hiện thực đời sống và cá tính sáng tạo là quyển sách tập hợp rất
nhiều
khẳng định, ngợi ca chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Đồng thời, Trần Đăng Suyền
đã
dẫn ra những khía cạnh thể hiện của chất sử thi như: Khám phá về Tổ quốc Việt
Nam
trong những năm tháng chống Mỹ, nhân vật trữ tình trong thơ là những con người
đại
diện cho tinh hoa và khí phách, phẩm chất và ý chí của toàn dân tộc. Từ đó Trần
Đăng
Suyền đã đi đến kết luận: Khuynh hướng chủ đạo của thơ Việt Nam từ 1955 đến
1975
là khuynh hướng sử thi, là “tập trung thể hiện những vấn đề, những sự kiện có ý
nghĩa
lịch sử và tính cách toàn dân tộc” [24; tr.74]. Phần nghiên cứu của Trần Đăng
Suyền
đã góp phần làm rõ hơn về đặc điểm khuynh hướng sử thi trong thơ 1955 - 1975.
Tuy
nhiên bài viết chỉ dừng lại ở một số nét, chưa đi sâu và có sức bao
quát.
Trang
9
Bên cạnh những bài viết, những công trình nghiên cứu riêng lẻ về khuynh
hướng
sử thi, cảm hứng lãng mạn, Sách Ngữ văn lớp 12, tập một do Phan Trọng Luận
làm
tổng chủ biên (Nhà xuất bản Giáo dục tháng 6 - 2008) đã có nhận xét tổng hợp
về
khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn. Khi trình bày về những đặc điểm cơ
bản
của nền văn học 1945 - 1975, sách đã nêu: “Nền văn học chủ yếu mang khuynh
hướng
mạn.Và các tác giả đã thể hiện sáng tỏ những nhận xét ấy qua những dẫn chứng
tiêu
biểu. Sách giáo khoa Ngữ Văn lớp 12, tập 1 đã góp phần làm rõ và cụ thể đặc
điểm
của văn học 1945 - 1975 là mang đậm khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng
mạn.
Trên đây là những bài viết, những công trình nghiên cứu có liên quan về vấn
đề
“Khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn trong thơ 1955 - 1975”. Có công
trình
nghiên cứu trực tiếp, có công trình nghiên cứu gián tiếp, có công trình có qui mô
lớn,
sâu sắc nhưng cũng có công trình ngắn gọn, đơn giản. Dù thế nào, đây vẫn là nguồn
tư
liệu quan trọng, bổ ích giúp người viết có thể tham khảo để hoàn thành luận văn
của
mình.
3. Mục đích nghiên cứu
Đến với đề tài này, mục đích đầu tiên mà người viết hướng tới đó là có thể
khám
phá, đánh giá và làm sáng tỏ được nét nổi bật, bao trùm, xuyên suốt của thơ ca 1955
-
1975 là mang đậm khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn. Và từ đây có thể
cảm
nhận trọn vẹn hơn, sâu sắc hơn hình ảnh đất nước và con người Việt Nam trong
cuộc
chiến đấu chống Mỹ gian khổ, hào hùng. Ngoài ra việc thực hiện đề tài này sẽ
giúp
người viết có thêm điều kiện rèn luyện một số kỹ năng cần thiết như phân tích,
tổng
giúp người đọc nắm bắt các sự việc trong cùng mối quan hệ tổng thể, bao quát.
Bên
cạnh đó, người viết còn sử dụng phương pháp tổng hợp và phân tích. Đây là
hai
phương pháp được sử dụng nhiều nhất trong quá trình thực hiện đề tài. Để quá
trình
nghiên cứu đi đúng hướng, cách thức lựa chọn, tổng hợp nguồn tài liệu là những
yếu
tố quan trọng góp phần vào việc lý giải, làm sáng tỏ đặc điểm nổi bật trong thơ
ca
1955 – 1975 là mang đậm khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn. Trong
quá
trình phân tích có sự kết hợp nhiều thao tác như: giải thích, chứng minh, bình luận,
so
sánh,… để làm nổi bật vấn đề nghiên
cứu.
Trang
11
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1:
THƠ 1955 - 1975 TRONG VĂN HỌC CÁCH MẠNG
GIAI ĐOẠN 1945 - 1975
1.1. Thơ ca cách mạng 1955 - 1975 - một thời và mãi mãi
1.1.1. Bối cảnh lịch sử:
1945 - 1975, ba mươi năm chiến tranh triền miên và ác liệt, ba mươi năm
đất
nước dường như không ngủ. Đây là khoảng thời gian đất nước không ngớt tiếng
súng.
Một thời kì đau thương nhưng vĩ đại mà dân tộc Việt Nam đã trải
qua.
thương
bên kia vĩ tuyến mười
bảy.
Ngày 5-8-1964, đế quốc Mỹ cho máy bay bắn phá một số địa điểm ở miền
Bắc.
Từ đầu năm 1965, cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của Mỹ
với
miền Bắc ngày càng ác liệt. Đồng thời đội quân viễn chinh của Mỹ ồ ạt đổ quân
vào
Trang
12
miền Nam. Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta bước sang một
giai
đoạn mới gay go, căng thẳng và vô cùng ác liệt. Tình hình đó đã buộc chúng ta
phát
huy cao độ không chỉ sức mạnh của hiện tại và thời đại mà còn phải khơi dậy
sức
mạnh truyền thống, tinh thần yêu nước ngàn đời của dân tộc để tiếp sức cho
cuộc
chiến đấu. Nhân dân hai miền Nam Bắc kề vai sát cánh tiến hành một cuộc chiến
tranh
chống Mỹ cứu nước oanh liệt trên toàn quốc. Nhân dân miền Bắc vừa chiến đấu,
vừa
sản xuất, nhân dân miền Nam liên tiếp phá tan các cuộc tiến công mùa khô của địch
và
tiến lên thực hiện cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1968. Trên đà thắng lợi
ấy,
phong trào dân tộc, dân chủ ở các thành thị có bước phát triển mới. Bị thất bại
lớn,
tháng 11/1968, Mỹ phải chấm dứt chiến tranh phá hoại ở miền Bắc và đầu năm
ta
giải phóng phần còn lại của Tây
Ngu
yên, miền Nam trung bộ và mở chiến dịch Hồ
Chí
Minh lịch sử, giải phóng thành phố Sài Gòn - thủ phủ của Ngụy quyền vào ngày
30/4
và thu hồi toàn phần Nam bộ. Trong cuộc tiến công và nổi dậy bảy tuần lễ, quân
và
dân ta đã giải phóng toàn miền Nam, những tên Mỹ cuối cùng phải chạy trốn
thục
mạng. Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước kéo dài nhiều năm, qua nhiều giai
đoạn
cùng với những diễn biến phức tạp, những hy sinh to lớn và thắng lợi trọn vẹn,
xứng
Trang
13
đáng là một trong những cuộc kháng chiến vĩ đại nhất trong lịch sử đấu tranh giữ
nước
của dân tộc
ta.
Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, giải phóng miền Nam, thống nhất
Tổ
quốc là một thử thách vô cùng ác liệt đối với con người Việt Nam, Tổ quốc Việt
Nam.
Lòng yêu nước, ý chí căm thù, ý chí quyết thắng, sức sáng tạo, lòng kiên nhẫn,
tình
thương yêu, đoàn kết, cưu mang nhau, niềm tin tưởng, chung thủy, tinh thần lạc
quan
được động viên tới mức chưa từng có. Đất nước và con người Việt Nam đã
không dài so với toàn bộ lịch sử phát triển của thơ ca. Nhưng trong thời gian ấy,
bằng
thực tiễn, kinh nghiệm và sức sáng tạo của mình, thơ đã lớn vượt, vươn lên xứng
đáng
với tầm vóc của dân tộc và thời đại, đi song song với những bước đi kì vĩ của lịch
sử.
Trải qua những chặng đường phát triển, vượt qua những thử thách, sức sống của
nền
thơ ca càng tỏ ra dồi dào và đi lên không
ngừng.
Thơ ca 1955 - 1975 bao gồm hai chặng đường phát triển: từ 1955 đến 1964 và
từ
1965 đến
1975.
Chặng đường 1955 -
1964:
Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc, đất nước tạm chia làm hai
miền.
Miền Bắc hòa bình bắt đầu cuộc sống lao động khẩn trương hàn gắn vết thương
chiến
Trang
14
tranh và xây dựng chủ nghĩa xã hội, cả nước tiếp tục chiến đấu chống Mỹ - ngụy,
giải
phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Trên nền hiện thực sôi động, hào hùng đó
thơ
1955 - 1964 có bước phát triển mới, phong phú, đa dạng và vững chắc. Thơ ca 1955
-
1964 tập trung thể hiện hình ảnh người lao động, ca ngợi những đổi thay của đất
của
Tế Hanh, Trò chuyện với kim tự tháp của Huy Cận…. là những bài thơ hay viết về
chủ
đề này. Những trang thơ thể hiện tình cảm bạn bè, đồng chí chan hòa đằm thắm
nhưng
vẫn xuất phát từ cảm hứng dân tộc
.
Dòng thơ đấu tranh thống nhất đất nước bùng lên mạnh mẽ khi miền Nam
đồng
khởi đứng lên cầm vũ khí, giết giặc. Thơ bừng bừng khí thế, có sức tác động lớn.
Các
nhà thơ Lưu Trọng Lư, Nguyễn Bính, Tế Hanh, Tố Hữu… hướng ngòi bút mình
vào
những trang thơ biểu hiện lòng yêu nước, nỗi đau xót, nhớ thương miền Nam, căm
thù
giặc sâu sắc. Và đã có những bài thơ hay: Nhớ con sông quê hương của Tế Hanh,
Sóng
vỗ cửa Tùng của Lưu Trọng Lư, Đêm sao sáng của Nguyễn Bính, Thù muôn đời
muôn
kiếp không tan của Tố Hữu. Thơ đã góp phần khắc sâu trong nhận thức và tình
cảm
của mỗi người Việt Nam một chân lí lớn: “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam
là
một”, thống nhất Tổ quốc là khát vọng sâu xa, cháy bỏng của cả dân tộc. Mạch
tình
cảm ấy sẽ được kế tục và phát triển cao rộng hơn nữa ở chặng đường
sau.
Trang
15
Một đề tài lớn thu hút sự quan tâm lớn của nhiều nhà thơ và đã tạo nên nhiều
trào
Thơ mới đến với thơ cách mạng đã giải đáp vấn đề riêng chung bằng những
trải
nghiệm, qua chính con đường đi của cuộc đời và thơ mình. Con đường “từ chân
trời
của một người đến chân trời của mọi người”. Xuân Diệu, Chế Lan Viên là những
nhà
thơ tiêu biểu thể hiện thành công vấn đề này
.
Sự mở rộng các đề tài, chủ đề và cảm hứng trong thơ đi liền với sự phát triển
theo
hướng đa dạng và thống nhất của cái “tôi” trữ tình. Cái “tôi” trữ tình trong thơ
giai
đoạn này, so với thơ thời kì kháng chiến chống Pháp đã có sự mở rộng và phát
triển
đáng kể, mang tính đa dạng và thống nhất mà nền tảng tư tưởng của nó là sự
thống
nhất riêng - chung. Một trong những dấu hiệu rõ ràng nhất của sự phát triển và
mở
rộng ấy là sự hiện diện trở lại của cái “tôi” riêng tư. Trong thơ kháng chiến
chống
Pháp nổi bật lên cái tôi quần chúng, nói tiếng nói chung của giai cấp, tầng lớp, của
đại
chúng. “Trong thơ từ 1955, cái “tôi” riêng của tác giả đã dần xuất hiện trở lại
cùng
với nó, xu thế trữ tình hướng nội tăng lên. Vẫn chủ yếu đề cập đến những vấn đề
và
tình cảm mang ý nghĩa chung, như khẳng định cuộc sống mới, tình cảm với miền
Nam,
ý chí thống nhất Tổ quốc, nhưng trong nhiều trường hợp, các tác giả đã tiếp cận
là
sự tiếp nối một hướng đã mở ra trong thơ giai đoạn 1945 - 1954 nhưng được tăng
sức
khái quát và chú trọng khắc họa tư thế, tầm vóc của đất nước, của cách mạng
trong
tương quan với thời đại và lịch
sử.
Chặng đường 1955 - 1964 đánh dấu sự trưởng thành của giai đoạn thơ. Đó là
kết
quả của một quá trình tích lũy chuyển biến gắn liền với những năm tháng cách
mạng.
Thơ đã biểu hiện cuộc sống mới trong biến đổi. Thơ vượt qua những lời kể mộc
mạc
của giai đoạn trước, cố gắng khám phá ra vẻ đẹp bên trong của cuộc sống và tạo
ra
những hình tượng có sức khái quát. Sự trưởng thành ấy chứng tỏ các nhà thơ đã có
sự
thay đổi về chất, có trình độ tư tưởng cao, nghệ thuật vững vàng, có bản lĩnh trong
một
đội ngũ đông đảo. Một đội ngũ bao gồm các nhà thơ đã sáng tác từ trước cách
mạng
tháng Tám 1945, các nhà thơ ra đời và lớn lên trong kháng chiến chống Pháp. Các
nhà
thơ trẻ xuất hiện trong những năm miền Bắc hòa bình. Lớp trẻ này thật sự nổi lên
và
có đóng góp tích cực khi đất nước bước vào thời kỳ mới: cả nước trực tiếp chống
đế
quốc
Mỹ.
Thơ tập trung thể hiện cuộc ra quân vĩ đại của toàn dân tộc, khám phá sức mạnh
của
con người Việt Nam, nhận thức và đề cao sứ mệnh lịch sử, tầm vóc và ý nghĩa
nhân
loại của cuộc kháng chiến chống
Mỹ.
Cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ đặt dân tộc ta trước những thử
thách
gay gắt, vận mệnh của đất nước đứng trước nguy cơ một mất, một còn. Trong
những
năm tháng ấy, đời sống và số phận của mỗi người tất yếu phải gắn chặt với vận
mệnh
của đất nước, với cuộc chiến đấu của dân tộc. Thơ đã trở thành tiếng nói chung của
cả
cộng đồng, cho ý chí, khát vọng, tình cảm chung rộng lớn và thống nhất của
mọi
người, của toàn dân tộc. Nói như Chế Lan Viên, đó là: “những năm đất nước có
chung
tâm hồn, có chung khuôn mặt”. Cái “tôi” sử thi đã xuất hiện trong thơ thời kì
kháng
chiến chống Pháp và được tiếp tục ở mười năm hòa bình sau đó, giờ đây đã trở
thành
hình tượng cái “tôi” trữ tình chủ đạo. Mười năm thơ kháng chiến chống Mỹ cũng
là
chặng đường mà cái “tôi” sử thi đã đi qua suốt một cuộc chiến tranh dữ dội, quyết
liệt.
Từ cái náo nức say sưa với cảm hứng lãng mạn của buổi đầu, đến sự trải nghiệm
với
nhiều suy tư, trầm tĩnh… Cái “tôi” sử thi tạo cho các nhà thơ tâm thế trữ tình
cao
còn theo sát cuộc chiến đấu của dân tộc trên những sự kiện lớn, những vấn đề hệ
trọng
trong đời sống chính trị, tư tưởng. Theo hướng đó, thơ giàu tính thời sự và đậm
chất
chính luận. Không chỉ Tố Hữu, Chế Lan Viên chuyển mạch theo hướng chính
luận
thời sự, mà cảm hứng ấy cũng chi phối sáng tác của Xuân Diệu, Huy Cận, Tế
Hanh,
Hoàng Trung Thông và nhiều nhà thơ khác. Tăng cường tính chính luận, chất
suy
tưởng triết lý và gia tăng chất liệu hiện thực đời sống là những xu hướng chính
trong
sự vận động phát triến của thơ thời kì chống
Mỹ.
Lịch sử của thơ ca chặng đường này đặc biệt ghi nhận sự xuất hiện và
những
đóng góp của thế hệ các nhà thơ trẻ thời kì chống Mỹ cứu nước. Các nhà thơ
đã
thường trực chiến đấu bằng ngòi bút và bằng cả xương máu của mình, đã đem đến
cho
nền thơ Việt Nam hiện đại tiếng thơ mới: trẻ trung, sôi nổi mà vẫn thấm đượm
chất
suy tư, triết luận. Đó là Phạm Tiến Duật, Nguyễn Khoa Điềm, Lê Anh Xuân,
Bằng
Việt, Nguyễn Mỹ, Thanh Thảo, Hữu Thỉnh, Phan Thị Thanh Nhàn, Lâm Thị Mỹ
Dạ,
Nguyễn Đức
Mậu…
Thơ ca giai đoạn này đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đối với đất nước và
cách
cho thơ tầm cao và hướng bay xa. Trải qua hai chặng đường phát triển, ở mỗi
chặng
đường thơ, thành tựu có thể ở những mức độ khác nhau, nhưng tất cả đều được soi
rọi
từ một lý tưởng, bồi đắp từ những chất liệu phong phú của hiện thực cách mạng
và
được sáng tác theo những nguyên tắc và tiêu chuẩn thẩm mĩ gần gũi thống nhất.
Quá
trình phát triển của hai mươi năm thơ ca cách mạng 1955 - 1975 cũng là quá trình
hình
thành và lớn mạnh của nền thơ xã hội chủ nghĩa trên một thực tế cách mạng vĩ đại
và
một truyền thống phong phú của hàng nghìn năm thơ ca dân
tộc.
1.1.3. Thành tựu nổi bật
Giai đoạn 1955 - 1975, hai mươi năm của sự phát triển cực kỳ phong phú,
đầy
sáng tạo của thơ ca Việt Nam hiện đại.Vượt qua chướng ngại của một thời sóng
gió,
của những năm tháng chiến tranh ác liệt, thơ ca giai đoạn này đã đạt được những
thành
tựu rực
rỡ.
Tiếp nối thành tựu của thơ ca Cách mạng thời kỳ chống Pháp, thơ ca thời kỳ
này
đã có những sự trưởng thành vượt bậc về đội ngũ nhà thơ, có những tác phẩm xuất
sắc,
giàu giá trị tư tưởng và đạt được những thành tựu nghệ thuật đặc sắc. Mỗi nhà thơ
đều
có những đóng góp xứng đáng vào nền thơ đương thời và bằng phong cách riêng
với
những ám ảnh của quá khứ, để càng gắn bó tâm hồn mình với đất nước, nhân dân
và
cuộc sống hiện tại. Chế Lan Viên là nhà thơ thể hiện sâu sắc nhất cuộc hành trình
gian
khổ “từ chân trời một người đến chân trời của mọi người”, “từ thung lũng
đau
thương ra cánh đồng vui”. Trước Cách mạng Tháng Tám, Chế Lan Viên đã lạc quá
xa
vào cõi thần bí, siêu hình nên trở về với cuộc sống thực trên mặt đất, với đất nước
và
nhân dân của nhà thơ là một con đường dài phải trải qua nhiều trăn trở, day dứt, tự
phủ
định để vượt lên mình. Trong cuộc đấu tranh thầm lặng mà quyết liệt này, Chế
Lan
Viên đã giành được chiến thắng. Nhà thơ đã trút bỏ những dĩ vãng buồn thương để
dến
với niềm vui của dân tộc, trở về với đời sống của nhân dân để hòa nhập với cuộc
sống
mới, gắn bó với cuộc chiến đấu của dân tộc. Thơ ông giàu chất trí tuệ, đậm đà
tính
chính luận, thời sự và luôn có những sáng tạo mới mẻ cả về nội dung và hình
thức…
Huy Cận, sau một thời gian dài dường như vắng bóng, đã mở rộng tâm hồn đón
lấy
những âm thanh của cuộc đời mới với niềm tin yêu, thiết tha, mãnh liệt trong
cuộc
sống xây dựng chủ nghĩa xã hội và chống Mỹ cứu nước. Cảm hứng vũ trụ và nhân
sinh
là hai nguồn cảm hứng lớn bao trùm thơ Huy Cận. Thơ Huy Cận đã kết hợp hiện
thật
Trang
21
hay. Ở đề tài nào Hoàng Trung Thông cũng có được sự thành công mà tiêu biểu là
các
bài thơ: Ở nông trường cà phê, Bài thơ báng súng, Mẹ
Bường…
Chính Hữu sáng tác không nhiều nhưng mỗi bài thơ của ông là biểu hiện một
sự
tìm tòi, vươn tới, mang bản sắc dân tộc một cách sáng tạo. Ông đã đóng góp cho
thơ
Việt Nam thời kỳ này nhiều bài thơ hay như: Đường ra mặt trận, Ngọn đèn đứng
gác,
Một
nửa…
Người đọc cũng không thể quên tiếng thơ dào dạt nghĩa tình của nhà thơ
miền
Nam tập kết Hoàng Tố Nguyên với những vần thơ “từ nhớ đến thương” lay động
tâm
hồn mọi người. Ngoài ra cũng cần khẳng định sự đóng góp của các nhà thơ khác
như:
Trần Hữu Thung, Xuân Hoàng, Lương An, Minh Huệ… và cũng cần nói đến sự
góp
phần đáng kể của hai nhà thơ miền núi: Nông Quốc Chấn, Bàn Tài Đoàn trong
việc
làm nên hương sắc đậm đà của thơ ca 1955 -
1975.
Nhưng có lẽ ấn tượng mạnh mẽ nhất về thơ ca thời kỳ này là sự xuất hiện lớp
nhà
thơ trẻ, họ đã góp phần tạo nên sự phong phú, đa dạng cho thơ Việt Nam hiện đại.
bút
sáng tạo mãnh liệt của các nhà thơ và để lại những thành tựu rực rỡ, đáng ghi
nhận.
Cuộc sống xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc tuy nhiều gian truân, vất
vả
nhưng cũng rất sôi nổi, hào hùng đã thổi luồng gió mới trong thơ ca. Thơ ca 1955
-
Trang
22
1975 tập trung thể hiện hình ảnh người lao động, cất lên tiếng hát ngợi ca những
đổi
thay của đất nước và con người trong bước đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội với
cảm
hứng lãng mạn, tràn đầy niềm vui và niềm lạc quan tin
tưởng.
Tố Hữu với tập thơ “Gió lộng” tươi trẻ đã thể hiện niềm tự hào và niềm tin
lộng
thổi trên miền Bắc ở những con người chiến thắng đang ra sức xây dựng cuộc
sống
mới. Chế Lan Viên hóa thân vào con tàu với khát vọng mãnh liệt được đến Tây Bắc
và
mọi miền đất xa xôi của Tổ quốc để bắt đầu cuộc sống xây dựng mới trong “Tiếng
hát
con tàu”. Hay khi trở về với đời sống của nhân dân, là niềm hạnh phúc dâng đầy
qua
hình ảnh “trái cây rơi trên áo người ngắm quả”, là niềm tự hào, niềm vui bất tận
khi
nhà thơ cảm nhận “Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng?”. Chế Lan Viên với những
lời
thơ âm vang, sôi động, hào hùng đã truyền được chất lửa của trái tim đến với
Hữu
có nhiều vần thơ xúc động về đề tài này. Nỗi đau, niềm xót xa về cảnh đất nước
chia
cắt luôn thường trực trong tâm hồn nhà thơ. Miền Nam chính là “miền sâu
thẳm”
trong cõi lòng ông, là điều ông không thể nào yên. Nhà thơ tự hào về đồng bào
miền
Nam bất khuất anh hùng, gắn bó thủy chung son sắt với cách mạng. Tế Hanh cũng
là
nhà thơ viết thành công về đề tài đấu tranh thống nhất đất nước. Tế Hanh gây
ấn
tượng cả về số lượng và chất lượng các bài thơ. Ông “Nhớ con sông quê hương”,
nhớ
Trang
23
“Mặt quê hương”, ông “Chiêm bao” gặp lại người thân, ông căm giận kẻ thù rãi
thuốc
độc xuống “Cái giếng đầu làng”. Xuyên suốt các bài thơ ông là trách nhiệm, tình
yêu
đối với quê hương miền Nam tha
thiết.
Bên cạnh đó, Lưu Trọng Lư nói tới nỗi đau trước cảnh đất nước chia cắt thật
cảm
động qua bài thơ Sóng vỗ cửa Tùng. Xuân Diệu có cả một phần thơ Mũi Cà Mau
trong
tập thơ Mũi Cà Mau – Cầm tay viết về đề tài đấu tranh thống nhất đất nước. Chế
Lan
Viên nói một cách thấm thía, sâu sắc về những kỷ niệm khó quên trong xa cách
qua
các bài thơ Đêm tập kết, Mẹ, Gốc nhãn cao,… Lê Anh Xuân với cảm xúc ngọt
đã
thể hiện được sự ra quân hùng mạnh của dân tộc với khí thế “Xẻ dọc Trường Sơn
đi
cứu nước/ Mà lòng phơi phới dậy tương lai”. Cả dân tộc đều ra trận “Lớp cha
trước,
lớp con sau/ Đã thành đồng chí chung câu quân hành”. Nhiều cảnh chia tay, đưa
tiễn
được thơ ca thể hiện với nhiều ý nghĩa cao đẹp: Kỷ niệm có gì, Đêm hò từ tạ của
Chế
Lan Viên, Hương thầm của Phan Thị Thanh Nhàn, Chia tay trong đêm Hà Nội
của
Nguyễn Đình Thi. Nguyễn Mỹ, một nhà thơ trẻ trước khi lên đường vào chiến
trường
đã viết bài Cuộc chia ly màu đỏ tràn đầy tin
tưởng.
Ở đề tài ra trận, tình cảm gắn bó sâu sắc, máu thịt, niềm tự hào của người
Việt
Nam về Tổ quốc, về Đảng, về Bác Hồ vĩ đại được các nhà thơ ngợi ca, khẳng định
ở
Trang
24
nhiều bài thơ Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng, Sao chiến thắng của Chế Lan
Viên;
Việt Nam máu và hoa của Tố Hữu; Quê hương của Giang Nam; Vàm cỏ đông của
Hoài
Vũ; Đất Viên An của Nguyễn Bá… Thành tựu nổi bật nhất của thơ ca ở giai đoạn
này
là đã thể hiện vẻ đẹp của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam. Vẻ đẹp ấy đã
được
các nhà thơ thể hiện từ nhiều phương diện thông qua sự cảm nhận sâu sắc về tâm
dọc
chiến hào điểm tô thêm vẻ đẹp và tâm hồn, tính cách của con người Việt
Nam.
Sâu sắc, phong phú về nội dung, thơ ca 1955 - 1975 cũng đã giàu thêm rất
nhiều
trong phương thức phản ánh và hình thức thể
hiện.
Thơ giai đoạn này vừa coi trọng việc kế thừa những kinh nghiệm nghệ thuật
của
thơ các giai đoạn trước, vừa có những tìm tòi, sáng tạo theo hướng mở rộng sự tự
do
hóa hình thức thơ. Về mặt thể thơ, hầu hết thể thơ quen thuộc trong thơ ca
truyền
thống và hiện đại đều được các nhà thơ ở thời kỳ này sử dụng nhuần nhuyễn, linh
hoạt
và ở thể thơ nào họ cũng đạt được thành công rực rỡ. Thơ tự do đã có vị trí chắc
chắn
trong thơ kháng chiến chống Pháp, nay đã trở nên quen thuộc và được sử dụng
ngày
một phổ biến hơn, có khả năng diễn tả được sâu sắc, trọn vẹn hơn những vấn đề cốt
lõi
của cuộc sống. Đặc biệt, thể thơ văn xuôi xuất hiện ngày một nhiều hơn và từng
bước
tìm được chỗ đứng trong thi đàn. Chế Lan Viên với một số bài thơ dài Cành phong
lan
Trang
25
bể, Tàu đến, tàu đi,… đã thể nghiệm thành công. Huy Cận cũng đi theo hướng ấy
ở
một số bài thơ giàu chất suy tưởng trong tập thơ Bài thơ cuộc đời. Sự mở rộng và
thơ
giai đoạn này tìm một cách nói tự nhiên, gần với lời nói hằng ngày. Ngôn ngữ thơ
đời
thường hơn, góc cạnh, sù sì hơn và cũng dân dã hơn. Nhịp điệu câu thơ giờ đây
uyển
chuyển hơn, trải rộng hơn, phóng túng hơn. Bên cạnh đó, ngôn ngữ thơ ca 1955
–
1975 xuất phát từ ngôn ngữ đời sống xây dựng chủ nghĩa xã hội và kháng chiến
chống
Mỹ của dân tộc. Cho nên, trong thơ xuất hiện một hệ thống từ ngữ không có ở thơ
ca
trước đó. Biểu hiện cụ thể qua một số câu thơ
sau:
“Và những đoàn xe lại nối đuôi
dài
Những hố bom vừa lấp đã xanh
khoai”
(Xuân 69 – Tố
Hữu)
“Lấp lánh cánh đồng đang gặt đang
hái
Xuôi ngược công trường những bánh xe
reo”
(Đường ra mặt trận - Chính
Hữu)
“Trường giặc, đốt rồi còn lại ánh
trăng