Chính sách pháp luật Việt Nam đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài trong bối cảnh hội nhập - Pdf 26

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYÊN HỮU ĐẠT
CHÍNH SÁCH PHÁP LUẬT VIỆT NAM ĐỐI VỚI
NGƯỜI VIỆT NAM ĐỊNH c ư Ở NƯỚC NGOÀI
TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP
Chuyên ngành : Luật Quốc Te
Mã số : 60 38 60
LƯẬN VĂN THẠC sĩ LUẬT HỌC
• • • •
Người hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN LAN NGUYÊN
Hà nội-2012
LÒÌ CAM ĐOAN
Tên tôi là: Nguyễn Hữu Đạt
Học viên lớp cao học Luật Quốc tế khóa 13 Khoa Luật Đại học Quốc Gia
Hà Nội
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết
quả nêu tron? Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Các
số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung
thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài
chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc Gia Hà Nội.
Vậy tôi viết lời cam đoan này đề nghị Khoa luật xem xét để tôi có thể bảo
vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI VIẾT CAM ĐOAN
Nguyễn H ữ u Đ ạ t
Trang
1
7
7

Thực trạng hệ thống chính sách pháp luật Việt Nam đối với người Việt
Nam định cư ở nước ngoài
Một số chính sách của Đảng và nhà nước sau năm 1975
Chính sách hiện nay đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài
Một số chuyển biến tích cực về chủ trương chính sách
Những hạn chế yếu kém
Pháp luật Việt Nam hiện nay đổi với người Việt Nam định cư ở nước
ngoài
Mặt tích cực
60
71
74
74
78
83
83
91
99
99
100
104
107
107
109
120
Hệ quả của chính sách - pháp luật Việt Nam đối với người Việt Nam
định cư ở nước ngoài thời gian qua
Chính sách pháp luật một số nước đối với người định cư ở nước ngoài
Singapore
Trung Quốc

mặc cảm, định kiến, phân biệt đối xử do quá khứ hay thành phần giai cấp, xây dựng
tinh thần cởi mở, tôn trọng, cảm thông và tin cậy lẫn nhau cùng hướng tới tương
lai ” Đó là những khẳng định trong nghị quyết 36 của Bộ Chính trị ngày
26/03/2004 về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài. Có thể nói nghị
quyết này là chủ trương chính sách hoàn toàn đúng đắn. Sự rạn nứt, định kiến
không tốt của một bộ phận Kiều bào ở nước ngoài về đất nước sau hơn 30 năm giờ
đây đang đứng trước bối cảnh mới đó là sự hàn gắn sự hòa hợp. Chỉ thị số
19/2008/CT-TTg ngày 06/06/2008 tái khẳng dinh sự hợp tác và hàn gắn người Việt
Nam ở nước ngoài.
Thời eian qua Đảng và Nhà nước đã có nhiều cố gắng trong chính sách pháp
luật đối với kiều bào nhưng vấn đề là những cố gắng của chúng ta đã thực sự có
hiệu quả hay chưa? Đã đáp ứng được niềm mong mỏi của đông đảo Kiều bào hay
chưa? Trong khi chúns, ta cho ràng đã tạo cơ chế chính sách pháp luật thông thoáng,
cởi mở cho kiều bào thì không ít kiều bào lại lo lắne về chính sách pháp luật hiện
hành đổi với họ? Lượng kiều hổi gửi về mỗi năm một tăng, năm 2002 đạt 2,2 tỷ
USD, năm 2003 đạt eần 2.7 tỷ USD. năm 2004 đạt 3.5 tỷ USD, năm 2005 trên 4 tỷ
USD, năm 2006 là 5.2 tỷ USD. Năm 2007 trên 6 tỷ USD, năm 2008 là trên 8 tỷ
USD. Năm 2009 do nền kinh tế thế giới biến động suy thoái nên lượng kiều hối
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1
giảm đáng kể chỉ được khoảng 7.3 tỷ USD giảm khoảng 12,8 % so với năm 2008.
Năm 2010 đạt khoảng hơn 8 tỷ USD. Mặc dù năm sau tăng hem năm trước nhưng
tính bình quân theo đầu người thì sổ lượns đó không đáng bao nhiêu so với lượng
Kiều bào ở nước ngoài.
Tại sao chính sách pháp luật đổi với Kiều bào được cho là thông thoáng, cởi
mở. tại sao tiềm năng của Kiều bào được đánh giá là to lớn, tại sao nói rằng phần
lớn kiều bào đều hướng về quê hương, đều tha thiết với quê hương đất nước nhưng
kết quả đạt được trong thời gian qua lại chưa tương xứng với tiềm năng? Đặt ra sự
nehi vấn không phải chúng ta đang bi quan mà là chúng ta đang chủ động tìm

lối với neười của họ định cư ở nước ngoài.
Xác định phương hướng và đề ra các giải pháp cụ thể góp phần hoàn thiện
chính sách pháp luật mang tính đồng bộ thiết thực để đạt được mục tiêu hòa hợp
dân tộc thu hút người Việt Nam định cư ở nước ngoài hướng về quê hương chung
sức chung lòng xây dựng đất nước.
Phạm vi nghiên cứu
Trong phạm vi đề tài này tác giả tập trung nghiên cứu hệ thống chính sách
pháp luật Việt Nam liên quan đến người Việt Nam định cư ở nước ngoài, một số
vấn đề có tính lịch sử liên quan đến người Việt Nam định cư ở nước ngoài và ảnh
hưởng đến chính sách pháp luật đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài từ
<au năm 1975 tới nay.
3
Nhận định đề tài
“Chính sách pháp luật Việt Nam đối với người Việt Nam định cư ở nước
ngoài trong bối cảnh hội nhập” đây là đề tài tương đối mới mẻ, bởi lẽ dưới chế độ
Nhà nước Xã hội Chủ nghĩa, chính sách pháp luật Việt Nam đối với người Việt
Nam định cư ở nước ngoài chỉ thực sự hé 1Ĩ1Ở khi Đảng và Nhà nước thực hiện
chính sách mở cửa phát triển nền kinh tế thị trường. Cho đến nay chưa có một luận
án Khoa học nào của nghiên cứu sinh được công bố nghiên cứu về vấn đền này.
Đánh giá một cách khách quan thì đây là một đề tài tương đối khó, mang tính thời
sự, bao hàm nhiều yếu tố chính trị, pháp lý nhạy cảm và liên quan mật thiết đến
những vấn đề có tính lịch sử thể hiện ở hai góc độ nhà nước Việt Nam và người
Việt Nam định cư ở nước ngoài. Hơn nữa đối tượng đề cập ở đây là một chủ thể
tưcmg đối đặc biệt, họ là người Việt Nam nhưng chủ yếu là mang quốc tịch nước
ngoài hav nói cách khác là họ chủ yếu là người Việt Nam đang làm ăn, sinh sống ở
rất nhiều quốc gia trên thế giới.
Phương pháp thực hiện đề tài
Phương pháp đánh giá hiệu quả pháp luật: Hiệu quả pháp luật được đánh giá
thône qua công tác lập pháp, hành chính và tư pháp. Thực chất của phương pháp
này là tiến hành rà soát, đánh giá thực trạng hệ thống chính sách pháp luật hiện

xã hội, quan niệm xã hội, tâm lý xã hội. Vì vậv chúng ta cần tính đến sự ảnh hưởng
của những yếu tố nói trên, có vậy mới giúp ta đưa ra được những nhận định trung
thực, chính xác.
5
4. Kết cấu đề tài
Luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận gồm có 3 chương.
Chiroìig 1. Tổng quan về địa vị pháp lý của người Việt Nam ở nước ngoài
\à thực trạng người Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Chương 2. Nội duna, chính sách pháp luật Việt Nam đối với người Việt Nam
cịnh cư ở nước ngoài.
Chương 3. Giải pháp hoàn thiện cơ chế chính sách pháp luật đối với người
Việt Nam ở nước neoài trone bối cảnh hội nhập.
6
TỒNG QUAN VÈ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA NGƯỜI VIỆT NAM Ỏ NƯỚC
NGOÀI VÀ THỤC TRẠNG NGƯỜI VIỆT NAM ĐỊNH cu Ở NƯỚC NGOÀI
1.1. ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA NGƯỜI VIỆT NAM Ở NƯỚC NGOÀI
Nói đến địa vị pháp lý của người Việt Nam ở nước ngoài tức là nói đến
quyền chủ thể đó được hưởng và nghĩa vụ chủ thể đó phải thực hiện. Quyền và
nghĩa vụ của người Việt Nam định cư ở nước ngoài được quy định trong các văn
bản pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Việt Nam ra nhập hoặc tham gia.
Hiến pháp 1992 Quy định: Nhà nước bảo hộ quyền, lợi ích chính đáng của
người Việt Nam định cư ở nước ngoài, Nhà nước tạo điều kiện để người Việt Nam
định cư ở nước ngoài giữ quan hệ gắn bó với gia đình và quê hương, góp phần xây
dựng quê hương, đất nước (điều 75 Hiến pháp 1992); Nhà nước tạo điều kiện thuận
lợi cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài đầu tư về nước (điều 25 Hiến pháp
1992).
Luật Quốc tịch Việt Nam số 24/2008/QII12 ngày 13 -11- 2008 của Quốc Hội
Khóa XII có hiệu lực ngày 01 tháng 07 năm 2009 quy định: Nhà nước Cộng hòa Xã
hội Chủ nghĩa Việt Nam có chính sách khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi đế
người Việt Nam định cư ở nước ngoài giữ quan hệ gắn bó với gia dinh và quê

đồng dân cư, tặng cho nhà tình nghĩa theo quy định tại điếm c khoản 2 Điều 110 của
Luật này. Trường hcrp tặng cho, để thừa kể cho đối tượng không thuộc diện được sở
hữu nhà ở tại Việt Nam thì đối tượng này chỉ được hưởne giá trị của nhà ở gắn liền
với quyền sử dụng đất ở; thế chấp nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại tổ
chức tín dụng được phép hoạt động tại Việt Nam; Được bồi thường khi Nhà nước
thu hồi đất theo quy định của pháp luật Việt Nam; (Luật sửa đổi, bổ sung điều 126
của Luật Nhà ở và điều 121 của Luật Đất đai sổ 34/2009/QH12 của Quốc hội)
Luật nhà ở 2005 quy định: Người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc các
đối tượne, sau đâv được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cho phép cư trú tại
Việt Nam từ ba tháns trở lên thì có quvền sở hữu nhà ở để bản thần và các thành
viên trong gia đình sinh sổng tại Việt Nam: Người có quốc tịch Việt Nam; Người
gốc Việt Nam thuộc diện người về đầu tư trực tiếp tại Việt Nam theo pháp luật về
đầu tư; người có công đóng góp cho đất nước; nhà khoa học, nhà văn hoá, người có
kỹ năng đặc biệt mà cơ quan, tổ chức của Việt Nam có nhu cầu và đang làm việc tại
Việt Nam; người có vợ hoặc chồng là công dân Việt Nam sinh sống ở trong nước.
Người gốc Việt Nam không thuộc các đối tượng quy định tại điểm b khoản 1 Điều
này được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp giấy miễn thị thực và được
phép cư trú tại Việt Nam từ ba tháng trở lên thì có quyền sở hữu một nhà ở riêng lẻ
hoặc một căn hộ chung cư tại Việt Nam để bản thân và các thành viên trong gia
đình sinh sổng tại Việt Nam” (Luật sửa đổi, bổ sung điều 126 của Luật Nhà ở và
điều 121 của Luật Đất đai số 34/2009/QH12 của Quốc hội)
Trong luật đất đai tại điều 121 sửa đổi quy định “Người Việt Nam định cư ở
nước ngoài thuộc các đối tượng quy định tại Điều 126 của Luật nhà ở có quyền sở
hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam” điều 126 Luật nhà ở
“Người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc các đối tượng sau đây được cơ quan
có thẩm quyền của Việt Nam cho phép cư trú tại Việt Nam từ ba tháng trở lên thì có
quyền sở hữu nhà ở để bản thân và các thành viên trong gia đình sinh sống tại Việt
Nam: Người có quốc tịch Việt Nam; Người gốc Việt Nam thuộc điện nẹười về đầu
tư trực tiếp tại Việt Nam theo pháp luật về đầu tư; người có công đóng góp cho đất
nước; nhà khoa học, nhà văn hoá, người có kỹ năng đặc biệt mà cơ quan, tổ chức

với quan hệ hôn nhân và gia đình giữa công dân Việt Nam với nhau mà một bên
hoặc cả hai bên định cư ở nước ngoài. (Điều 100 Luật Hôn nhân và gia đình)
Xem xét địa vị pháp lý của người Việt Nam định cư ở nước ngoài cho thấy:
Quyền và nghĩa vụ của người Việt Nam định cư ở nước ngoài nằm rải rác
trong các văn bản pháp luật, điều đáng chú ý là các quyền và nghĩa vụ của chủ thể
này dã được Hiến pháp Việt Nam - văn bản pháp luật cao nhất của Việt Nam công
nhận.
Chế độ pháp lý mà nhà nước dành cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài
tương đối đặc biệt so với hai chủ thế khác là công dân Việt Nam và người nước
10
ngoài không phải là gốc Việt. So với công dân trong nước người Việt Nam định cư
ở nước ngoài được nhà nước cho hưởng các che độ pháp lý.
Sở dĩ nhà nước có chế độ pháp lý dành riêng đối với người Việt Nam định cư
ở nước ngoài là vì: phần lớn người Việt Nam định cư ở nước ngoài là người nước
ngoài tức là họ đã nhập quốc tịch nước ngoài, chỉ có một số ít người vẫn chưa thôi
quốc tịch Việt Nam nhưng các quyền lợi về kinh tế, chính trị, dân sự của họ đều
gắn với nước sở tại mà họ đang sinh sống. Việc người Việt Nam được hưởng chế độ
pháp lý kém thuận lợi hơn so với người dân trong nước nhưng tốt hơn người nước
nsoài không phải là người gốc Việt Nam là vì: do có gổc gác là người Việt Nam
máu đỏ da vàng, do đường lối chính sách của Đảng, nhà nước coi cộng đồng người
Việt Nam ở nước ngoài là một bộ phận không thể tách rời của cộng đồng dân tộc
Việt Nam nên đã dành cho họ một chế độ pháp lý tốt hơn người nước ngoài không
phải là gốc Việt.
1.2. THỰC TRẠNG NGƯỜI VIỆT NAM ĐỊNH CƯ Ở NƯỚC
• • • •
NGOÀI
1.2.1. Quá trình người Việt N am định cư ở nước ngoài.
Cách đây hàng trăm năm đã có người Việt Nam ra nước ngoài sinh sống.
Vào thể kỷ thứ XII, do hoàn cảnh đương thời, một nhánh con cháu họ Lý sang Hàn
Ọuốc lập nghiệp. Thế kỷ thứ XVII có người Việt Nam sang làm ăn tại Campuchia.

trình hình thành cộng đồng người Việt Nam định cư ở nước ngoài cách đây hàng
trăm năm, trải qua nhiều bước thăng trầm của lịch sử cho đến trước năm 1975 cộng
đồng người Việt Nam định cư ở nước ngoài không có nhiều biến động với số lượng
ít. Sau sự kiện năm 1975 vì nhiều lý do cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài
tăng lên nhanh chóng, nếu trước năm 1975 khoảng 200.000 người thì sau năm 1975
con số đă lên tới 2 triệu người. Cho tới nay cộng đồng người Việt Nam định cư ở
nước ngoài đã khoảng 4 triệu người. Cộng đồng người Việt Nam ngày càng gây
12
được tiếng vang nơi xứ người nhưng vẫn giữ được những đặc trưng, những nét văn
hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam.[42]
1.2.2. Đặc đi êm người Việt Nam định cư ở nước ngoài
Theo đánh giá của ủy ban về người Việt Nam ở nước ngoài. Trong những
năm gần đây, xu hướng phát triển của cộng đồng người Việt Nam định cư ở nước
ngoài ngày càne ổn định, hội nhập vào xã hội ở đất nước sở tại, tiếp thu những giá
trị vãn hóa của nước sở tại nhưng vẫn 2Ĩừ gìn và phát huy bản sắc dân tộc, từng
bước có vị trí nhất định trong việc làm cầu nối cho quan hệ giữa nước ta với các
nước sở tại. Hiện nay, đời sống của phần lớn kiều bào ta ở mức trung bình so với
người dân sở tại. số người giàu có theo tiêu chuẩn của các nước sở tại ngày càng
tăng. Các doanh nghiệp của kiều bào ta ngày càng lớn mạnh, vừa tích lũy vừa mở
rộng quan hệ làm ăn, bà con đã bước đầu xây dựng được cơ sở cho cuộc sống ổn
định lâu dài ở hầu hết các nước và vùng lãnh thổ.
Mặc dù tiềm lực kinh tế chưa lớn, nhưng cộng đồng người Việt Nam ở nước
ngoài có tiềm năng tri thức đáng kể và rất đa dạng. Hàng trăm nghìn người được
đào tạo ở trình độ đại học hoặc công nhân kỹ thuật bậc cao ở các nước công nghiệp
phát triển, có điều kiện tiếp cận với những thông tin và thành tựu mới về quản lý,
khoa học và công nghệ. Một số người hiện giữ những vị trí quan trọng trong các
viện nghiên cứu, trường đại học, bệnh viện, công ty, doanh nghiệp lớn hoặc các tổ
chức quốc tế.
Một thế hệ trí thức mới là những người gốc Việt đang hình thành và phát
triển, nhất là ở các nước tây âu, bắc mỹ, tập trung nhiều ở lĩnh vực như: luật học, tin

động đầu tư, kinh doanh hoặc giới thiệu các đối tác nước ngoài vào Việt Nam đầu
tư. kinh doanh. Các Hội người Việt Nam và các tổ chức nghề nghiệp, quốc tế, đồng
hương, từ thiện ở Mỹ, Pháp, Bỉ, Canada, Nhật, Đức,

đã và đang có những hoạt
độns đona góp thiết thực hướng về quê hương đất nước.
Cuộc sổne của người Việt Nam ở khu vực Đông Âu và Nga có những phát
triển nhất định, nhưng chưa ổn định. Nhiều người không có ý định lập nghiệp lâu
14
dài, thêm vào đó, dòng người nhập cư mới từ Việt Nam tiếp tục vào khu vực này
làm cho cộng đồng thêm phức tạp, phải đối mặt với nhiều khó khăn, nhất là về địa
vị pháp lý và an ninh cộng đồng. Tình trạng phạm pháp trong cộng đồng như: Tàng
trừ, sử dụng và làm giấy tờ giả mạo, cạnh tranh chèn ép nhau trong kinh doanh
khiến bà con không yên tâm làm ăn và ảnh hưởng tới quan hệ đổi với cộng đồng
của nước sở tại.
Cuộc sổng của bà con người Việt Nam ở các nước láng giềng, nhất là Lào,
Trung quốc đan? có điều kiện phát triển thuận lợi và ổn định. Chính quyền Thái lan
đã giải quyết cho những người thuộc thế hệ thứ 2, 3 nhập quốc tịch Thái Lan và cấp
giấy tờ định cư cho những người thuộc thế thệ thứ nhất. Ở Campuchia, tuy đời sống
vật chất còn gặp nhiều khó khăn hơn các nước khác nhưng cuộc sổng tinh thần của
người Việt nơi đây đã được cải thiện đáng kể. [31]
Đáng chú ý là dù người Việt sống ở bất kỳ nơi nào trên thế giới thì cộng
đồne. người Việt luôn mong muốn hướng về quê hương mong cho đất nước phát
triến và hội nhập với thế giới nhanh hơn nữa. Tuy nhiên, có một bộ phận đồng bào
do chưa hiểu đúng về tinh hình đất nước nên còn có thái độ tiêu cực hoặc dè dặt đối
với đất nước, thậm chí có một sổ ít nsười đi ngược lại lợi ích chung của toàn dân
tộc. Sự dóng góp của bà con vào công cuộc xây dựng đất nước, nhất là về tri thức
còn ít, chưa phản ánh đúng tiềm năng của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài.
Qua đây chúng ta thấy so với các cộng đồng thiểu số khác, cộng đồng người
Việt ở nước ngoài là cộng đồng trẻ, năng động, thông minh, nhanh chóng hòa nhập

Nguyên Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết nhấn mạnh trong cuộc gặp gỡ các
bà con kiều bào tại hội nghị người Việt Nam ở nước ngoài lần thứ nhất:
“tất cả

người Việt Nam trên thế giới đều là con một nhà” “cộng đồng người Việt Nam ở

nước ngoài đã không ngừng phân đâu, học tập và nâng cao trình độ đó là tiềm lực
lớn cho sự phát triển của Việt Nam
”[30]
Sáng ngày 10 tháng 11 năm 2009 Phó chủ nhiệm thường trực ủy ban Nhà
nước về người Việt Nam ở nước neoài Trần Trọng Toàn cho biết để tổ chức hội
16
nghị Người Việt Nam ở nước ngoài lần thứ nhất vì chúng tôi đánh giá rất cao sự
đóng góp của kiều bào ta đối với sự phát triển của đất nước trong thời kỳ hội nhập.
Thứ trưởng Bộ ngoại giao - Chủ nhiệm ủy ban Nhà nước về người Việt nam
ở nước ngoài Nguyễn Thanh Sơn trả lời phóne viên Vietnamnet về quan điểm của
Việt Nam về vai trò của người Việt Nam định cư ở nước ngoài: ông cho rằna
“Hàng triệu người Việt Nam sinh song, lao động và học tập tại 101 nước và vùng
lãnh thô là vốn quỷ báu, cỏ vai trò quan trọng trong công cuộc xây dựng đất
nước ”[30]
Tại Văn phòng chính phủ, phó Thủ tướng Trương Vĩnh Trọng tiếp đoàn việt
Kiều Mỹ cũng nhấn mạnh: "Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng công tác đối với
người Việt Nam ở nước ngoài bởi kiều bào là bộ phận không thể tách rời và là một
nguồn lực của đất nước. Việt Kiều ta cần đoàn kết, tích cực học tập, làm ăn và góp
phần hơn nữa để xây dựng quê hương đất nước”[54]
Có thể nói tiềm năng của Người Việt Nam định cư ở nước ngoài là rất lớn,
có rất nhiều cá nhân người Việt đã thành đạt trong hoạt động kinh doanh, trong
nghiên cứu khoa học, nắm giữ những vị trí quan trọng ở chính quyền nước sở
tại Để đánh giá được tiềm năng của người Việt ta ở nước ngoài đổi với đất nước
tôi đi sâu tìm hiểu ba khía cạnh: Kinh tế, chất xám và những đóng góp của họ cho

Nguyễn đã cho ra trang web Lala.com - trang khám phá âm nhạc, kết nổi những
người có cùng sở thích nghe nhạc với nhaứ\38]. Hiện nay anh đang có tham vọng
bien irang web lala.com của anh thành nơi trao đổi và mua bán đĩa CD lớn nhất thế
giới Bill Nguyền Khẳng định anh sẽ triến khai một hệ thống nhằm cung cấp nhạc
số Việt Nam như là một công việc ưu tiên hàng đầu của dự án công ty Lala của anh.
Bill Nguyễn chính là triệu phủ kinh doanh phần mềm.
Một doanh nhân trẻ nữa tôi muốn nhắc đến đó là anh Trung Dũng.
Trung Dũng đã trở thành tỉ phú người Việt ờ Mỹ, nhưng điều khiến bạn bè
và đối tác kính trọne không chỉ ở năng lực và lòng quyết tâm của anh, mà còn là
18
một tấm lòng luôn hướng về Tổ quốc. Ngoài kinh doanh, Trung Dũng còn tham
gia vào ban quản trị các tổ chức phi lợi nhuận như Viet Heritage Society. Mục
đích hoạt độne của tổ chức này là bảo tồn và phát huy truyền thống lịch sử và văn
hóa của Việt Nam qua việc thành lập các tụ điểm văn hóa và các chương trình eiáo
dục để nâng cao sự hiểu biết và trân trọng những truyền thống đó.
Anh cũng là thành viên Ban quản trị Interplast, tố chức cung cấp dịch vụ
phẫu thuật miễn phí cho người dân ở các nước đang phát triển và eiúp cải thiện
công lác chăm sóc sức khỏe toàn cầu.[34] Anh là cố vấn cho Vietnamese
American Silicon Valley Networks, chiếc cầu nối toàn cầu đầu tiên cho chuyên gia
gốc Việt hoạt động trong ngành công nghệ cao trên toàn thế giới và tạo ra sự đoàn
kết và thịnh vượng của các cộng đồng doanh nghiệp ở Mỹ.
Anh cũng là người sáng lập VietNet Forum, diễn đàn điện tử lớn nhất,
thành công nhất (và là diễn đàn đầu tiên thuộc loại này) dành cho người Việt định
cư ở nước ngoài Năm 2005, Trung Dũng được Tổng thống George w. Bush bổ
nhiệm vào Hội đồng Quản trị Vietnam Education Foundation (Quỳ Giáo dục Việt
Nam-VEF). Nhiệm vụ của VEF là tăng cường mối quan hệ song phương Việt -
Mỹ qua các hoạt động giáo dục về khoa học và công nghệ.
Hiện nay, Trung Dũng là Giám đốc điều hành của V-Home Group, một tập
đoàn đầu tư đang nhắm đến những cơ hội làm ăn tại Việt Nam.
Mới đây, khi trở về Việt Nam, tận mắt chứng kiến những thay đổi của quê

năm 2002 là 360. 000 người, năm 2004 là 430.000 người, năm 2005 là 494.000,
năm 2006 là 523.000, năm 2007 là 538.000, năm 2008 là 700.000 đây là năm tăng
đột biết so với nhữne năm trước[35]. Năm 2009 số lượng việt kiều về quê hương
đất nước càng tăng riêng thống kê của Thứ trưởng Bộ Ngoại giao kiêm Chủ nhiệm
ủy ban người Việt ở nước ngoài Nguyễn Thanh Sơn và tổng cục hải quan thì dịp tết
nguyên đán đã có trên 500.000 người về quê ăn tết. Có một thống kê đáng vui đó là
số lượng người Việt về quê làm ăn và tìm kiếm cơ hội đầu tư ngày càng tăng so với
những năm trước.
20
1.2.2.2.2. về chất xám
Báo cáo đánh giá của ủy ban về người Việt Nam ở nước ngoài năm 2010
cho biết: Hiện nay có khoảng 400.000 tri thức Việt kiều (bao gồm người có trình độ
từ đại học trở lên, các chuyên gia có trình độ kỹ thuật, tay nghề cao), chiếm 15 - 20
% cộng đônẹ, cụ thể :
Tại Đức có khoảng trên 350 tri thức khoa học kỹ thuật, nhà chính trị, chuyên
eia lành nghề, một số đang giữ vị trí cao trong quản lý điều hành, tập trung ở lĩnh
vực điện tử, hóa học, năng lượng, dầu khí, kiến trúc, toán học, máy tính, y dược.
Tại Pháp có khoảng 45.000 tri thức, trong đó có khoảng 50 người có học
hàm học vị cao và giữ vị trí tương đối quan trọng trong các lĩnh vực vật lý, công
nghệ, tin học. hóa sinh
Tại Anh có trên 200 tri thức, tại Bỉ có khoảng 600 tri thức tập trung ở các
lĩnh vực lý học, cơ khí, hóa học, điện tử, tin học, nông học giáo dục
Tại Mỹ, đội ngũ tri thức người Việt khá đông đảo, ước tính có khoảng
200.000 người có bằng đại học, trên đại học. Đặc biệt là đội ngũ tri thức trẻ có
nhiều tiềm năng, tập trung chủ yếu trong các lĩnh vực kinh tế, khoa học như viễn
thông, tin học, vũ trụ, y học, luật học, quản lý, chứng khoán. Hiện có hơn 10.000
chuyên gia, kỹ sư tin học, kỹ thuật viên cao cấp làm việc tại thung lũng Silicon ;
khoảng 150 người làm việc trong Ngân hàng

Tại Canada, có khoảng 2.000 tri thức, trong đó có khoảng 300 người có học


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status