ĐỘNG THÁI VÀ XU HƯỚNG BIẾN ĐỔI MỰC NƯỚC DƯỚI
ĐẤT TRONG TẦNG CHỨA NƯỚC PLEISTOCEN DƯỚI (qp
1
)
VÀ TẦNG CHỨA NƯỚC PLIOCEN GIỮA (n
2
2
)
GIAI ĐOẠN 2000 - 2010
TẠI KHU VỰC ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
KS. Vũ Thị Phương
Tháng 12 - 2011
Nội dung của bài báo gồm 03 phần
I- Mở đầu
II- Động thái và xu hướng biến đổi mực nước dưới đất của
các tầng chứa nước
1. Động thái và xu hướng biến đổi mực nước dưới đất của
tầng chứa nước Pleistocen dưới (qp
1
)
2. Động thái và xu hướng biến đổi mực nước dưới đất tầng
chứa nước Pliocen giữa (n
2
2
)
III- Kết luận
MỞ ĐẦU
Công tác “Quan trắc Quốc gia Tài nguyên nước dưới đất vùng đồng
bằng Nam Bộ” tại 12 tỉnh thành trong khu vực Đồng Bằng sông Cửu
Long giai đoạn 2000 ÷ 2010, đã cho biết về động thái mực nước năm
2010 và xu hướng biến đổi mực nước giai đoạn 2000 ÷ 2010 của 7 tầng
1. Động thái và xu hướng biến đổi mực nước dưới đất của tầng chứa
nước Pleistocen dưới (qp
1
)
Theo kết quả quan trắc 12 công trình trong tầng chứa nước Pleistocen
dưới (qp
1
) khu vực Đồng bằng sông Cửu Long cho thấy: Mực nước bình
quân (tính bằng độ cao tuyệt đối) tại đây thường cạn kiệt vào tháng 5 hàng
năm, vào mùa mưa mực nước thường được bổ cập và đạt giá trị cực đại vào
tháng 10.
Kết quả quan trắc năm 2010 cho thấy: mực nước trung bình tầng vào
tháng 5 là -4,84m; vào tháng 10 là -4,52m. Mực nước tại khu vực TP Cà
Mau thường gặp rất sâu khoảng -18,91m, còn các khu vực khác mực nước
thường nông hơn. Riêng tại Vĩnh Hưng - Long An mực nước thường gặp ở
độ sâu khoảng -0,57m.
Mực nước trung bình của tầng Pleistocen dưới (qp1) năm 2010 so với
cùng kỳ tháng 5 của 2 năm trước có xu hướng giảm khoảng 0,72m; so với 5
năm trước giảm khoảng 1,22m và so với cùng kỳ 10 năm trước mực nước
có xu hướng giảm khoảng 3,32 m (xem hình).
Các giá trị đặc trưng độ cao mực nước trung bình tháng trong năm
2010, độ chênh lệch mực nước so với cùng kỳ 2 năm trước, 5 năm và 10
năm trước của tầng chứa nước (qp
1
) được thống kê trong các bảng dưới
Đồ thị dao động mực nước tầng ( qp
1
) khu vực Đồng bằng Sông cửu Long
Nước dưới đất trong tầng Pleistocen dưới (qp1) ở khu vực Đồng bằng sông Cửu
Long thường được khai thác mạnh tại các tỉnh như Long An, Hậu Giang và TP Cà
5/09
5/10
Tháng/Năm
Độ cao mực nước (m)
Q 326030 TÂN TRỤ - LONG AN
y = -0.0397x - 0.069
R
2
= 0.9731
-6.0
-5.0
-4.0
-3.0
-2.0
-1.0
0.0
1.0
2.0
5/00
5/01
5/02
5/03
5/04
5/05
5/06
5/07
5/08
5/09
5/10
Tháng/Năm
2
2
) khu vực Đồng bằng Sông cửu Long
Các giá trị đặc trưng độ cao mực nước trung bình tháng trong năm
2010, độ chênh lệch mực nước so với cùng kỳ 2 năm trước, 5 năm và 10
năm trước của tầng chứa nước (n
2
2
) được thống kê trong bảng dưới.
Qua phân tích kết quả quan trắc từ năm 2000÷2010, chúng tôi nhận thấy
mực nước dưới đất tầng chứa nước Pliocen giữa (n
2
2
) như sau: tại TP Cà
Mau (Q17704T), do ảnh hưởng của việc khai thác nước phục vụ cho nhu
cầu sinh hoạt và các khu công nghiệp, mực nước sau 10 năm có xu hướng
giảm rất mạnh khoảng 9,56m, với tốc độ suy giảm mực nước trung bình
khoảng 0,96m/năm. Còn tại khu vực Lai Vung - Đồng Tháp (Q206030),
mực nước từ năm 2000 ÷ 2010 có xu hướng giảm khoảng 6,68m; tốc độ suy
giảm mực nước trung bình khoảng 0,68m/năm. Vì vậy chúng ta phải có biện
pháp kiểm tra, giám sát việc khai thác nước và quan trắc lâu dài để dự báo
sự suy giảm của nước dưới đất và cần tuân thủ các qui định (xem hình).
Đồ thị dao động mực nước Q17704T - TP Cà Mau và Q206030 - Lai Vung – Đồng Tháp
Độ cao tuyệt đối mực nước bình quân tháng trong năm 2010 của tầng chứa nước (qp
1
) và tầng
chứa nước (n
2
2
) khu vực Đồng bằng sông Cửu Long ,m
Cửu Long không bị cạn kiệt, chúng ta phải có biện pháp kiểm tra, giám sát,
quản lý việc khai thác nước và quan trắc lâu dài để dự báo sự suy giảm mực
nước dưới đất.
Xin cảm ơn