Nghiên cứu thực trạng và xu hướng biến đổi của một số thảm cỏ tại xã Nham Sơn, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang - Pdf 23


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
ĐẶNG THỊ NHUNG NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ XU HƢỚNG
BIẾN ĐỔI CỦA MỘT SỐ THẢM CỎ TẠI XÃ NHAM SƠN,
HUYỆN YÊN DŨNG, TỈNH BẮC GIANG
Chuyên ngành: Sinh thái học
Mã số: 60.42.01.20 LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. HOÀNG CHUNG
THÁI NGUYÊN - 2014

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

MỤC LỤC
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục i
Danh mục các từ viết tắt ii
Danh mục các bảng iii
Danh mục các hình iv
MỞ ĐẦU 1
1. Đặt vấn đề 1
2. Mục đích nghiên cứu 2
CHƢƠNG I. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1. Khái niệm vùng, phân vùng 3
1.1.1. Khái niệm vùng 3
1.1.2. Khái niệm phân vùng 4
1.2. Các dạng phân vùng 4
1.2.1. Phân vùng địa vật lý 4
1.2.2. Phân vùng khí hậu 5
1.2.3. Phân vùng thổ nhưỡng 7
1.2.4. Phân vùng sinh thái thảm thực vật 9
1.3. Những nghiên cứu về đồng cỏ tự nhiên 13
1.3.1. Vấn đề nguồn gốc và phân bố đồng cỏ trong đai nhiệt đới 13
1.3.2. Những nghiên cứu về thành phần loài 14
1.3.3. Những nghiên cứu về dạng sống 15
1.3.4. Những nghiên cứu về năng suất 17
1.4. Những nghiên cứu về thoái hóa đồng cỏ do chăn thả và vấn đề sử
dụng hợp lý đồng cỏ miền Bắc Việt Nam 18
1.4.1. Những nghiên cứu về thoái hóa đồng cỏ do chăn thả 18
1.4.2. Những nghiên cứu về sử dụng hợp lý đồng cỏ miền Bắc Việt Nam 20



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

4.1. Đặc điểm đặc trưng của các tiểu vùng 33
4.1.1. Tiểu vùng sinh thái ven sông 33
4.1.2. Tiểu vùng sinh thái ven suối. 33
4.1.3. Tiểu vùng sinh thái chân đê 33
4.1.4. Tiểu vùng sinh thái gò đồi 34
4.1.5. Tiểu vùng sinh thái dưới tán rừng trồng keo 34
4.2. Tổ hợp thành phần loài, dạng sống và khối lượng thực vật trong từng
tiểu vùng sinh thái 34
4.2.1. Tiểu vùng sinh thái ven sông 34
4.2.1.1. Thành phần loài 34
4.2.1.2. Thành phần dạng sống thực vật 39
4.2.1.3. Khối lượng thực vật 41
4.2.2. Tiểu vùng sinh thái ven suối 42
4.2.2.1. Thành phần loài 43
4.2.2.2. Thành phần dạng sống 46
4.2.2.3. Khối lượng thực vật 48
4.2.3. Tiểu vùng sinh thái bãi bằng chân đê 49
4.2.3.1. Thành phần loài 49
4.2.3.2. Thành phần dạng sống 55
4.2.3.3 Khối lượng thực vật 57
4.2.4. Tiểu vùng sinh thái trên đồi cỏ tự nhiên 59
4.2.4.1. Thành phần loài 59
4.2.4.2. Thành phần dạng sống 64
4.2.4.3. Khối lượng thực vật 67
4.2.5. Tiểu vùng sinh thái dưới tán rừng 68
4.2.5.1. Thành phần loài 68
4.5.2.2. Thành phần dạng sống 73

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Những dạng sống chính của thực vật đồng cỏ vùng núi Bắc Việt Nam 16
Bảng 2.1. Cơ cấu đất đai của xã Tân Hương 26
Bảng 4.1. Thành phần loài trong thảm cỏ ven sông 35
Bảng 4.2. Những dạng sống chính của thực vật trong các thảm cỏ ven sông 39
Bảng 4.3. Khối lượng thực vật trong thảm cỏ ven sông (g/m
2
) 41
Bảng 4.4. Thành phần loài trong thảm cỏ ven suối 43
Bảng 4.5. Những dạng sống chính của thực vật trong thảm cỏ ven suối 46
Bảng 4.6. Khối lượng thực vật trong thảm cỏ ven suối (g/m
2
) 48
Bảng 4.7. Thành phần loài trong thảm cỏ bãi bằng chân đê 49
Bảng 4.8. Những dạng sống chính của thực vật trong bãi bằng chân đê 55
Bảng 4.9. Khối lượng thực vật bãi bằng chân đê (g/m
2
) 57
Bảng 4.10. Thành phần loài trong thảm cỏ trên đồi 59
Bảng 4.11. Những dạng sống chính của thực vật trên đồi 64
Bảng 4.12. Khối lượng thực vật trên gò đồi (g/m
2
) 67
Bảng 4.13. Thành phần loài trong thảm cỏ dưới tán rừng 69

thức ăn gia súc có chất lượng, rẻ tiền và phù hợp với điều kiện của nhiều nước
mà cỏ còn có nhiều tác dụng như bảo vệ và cải tạo đất trồng dưới dạng này hay
dạng khác, tham gia cải thiện khí hậu…
Từ lâu, con người đã biết khai thác đồng cỏ để làm thức ăn cho gia súc,
lúc đầu còn hoàn toàn dựa vào tự nhiên. Nhưng do nhu cầu phát triển ngày
càng tăng, hình thức chăn thả tự nhiên như trước không đáp ứng được. Vì vậy
đòi hỏi con người phải tìm cách để làm tăng năng suất cỏ cung cấp đủ cho
ngành chăn nuôi.
Sự phát triển của đồng cỏ cũng phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: khí hậu,
đất đai, các hình thức tác động khác của con người. Sự sinh trưởng của thảm cỏ
cũng có sự biến động theo mùa rõ rệt. Ở các vùng sinh thái khác nhau thì thảm
cỏ có sự phát triển khác nhau tạo nên thảm cỏ với năng suất khác nhau.
Trên thực tế hiện nay, nguồn thức ăn xanh ngày càng cạn kiệt do đồng cỏ
chăn thả dần bị thu hẹp để nhường chỗ cho cây trồng khác. Bên cạnh đó, con
người chăn thả gia súc một cách bừa bãi không có kỹ thuật đã làm cho một số
bãi chăn thả trở thành đất trống, đồi chọc không còn khả năng khai thác. Từ đó,
nguồn thức ăn của gia súc trở nên thiếu đặc biệt là vào mùa đông.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

Yên Dũng là một huyện miền núi của tỉnh Bắc Giang. Số lượng đàn gia
súc của huyện ngày càng giảm do diện tích chăn thả ngày càng bị thu hẹp.
Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Nghiên cứu thực trạng và xu hƣớng biến đổi của một số thảm cỏ tại xã
Nham Sơn, huyện Yên Dũng, Tỉnh Bắc Giang”.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở điều tra các yếu tố khí hậu, thủy văn, đất đai, thảm thực vật
của các tiểu vùng sinh thái trong xã Nham Sơn huyện Yên Dũng tỉnh Bắc
Giang tiến hành:
- Đánh giá thực trạng khai thác thảm cỏ tự nhiên trong từng tiểu vùng

Theo Lê Bá Thảo “Vùng là một bộ phận của lãnh thổ quốc gia có một sắc thái
đặc thù nhất định, hoạt động như một hệ thống do có những mối quan hệ tương
đối chặt chẽ giữa các thành phần cấu tạo nên nó cũng như mối quan hệ có
chọn lọc với không gian các cấp bên ngoài” [31, tr.281].
Vùng sinh thái được hiểu là một bộ phận lãnh thổ cụ thể có chung nguồn gốc
phát sinh và phát triển, đặc trưng bởi sự đồng nhất tương đối về các điều kiện
tự nhiên (địa chất, địa hình, khí hậu, thủy văn, đất) và trên đó phát triển một
sinh quần lạc điển hình. Vùng sinh thái bao gồm một tập hợp có quy luật các
đơn vị sinh thái cảnh quan cấu trúc (đơn vị cấp thấp). Mỗi vùng sinh thái có
những chức năng xã hội (chức năng kinh tế) nhất định, trước hết chúng phải
phù hợp với điều kiện và tài nguyên tự nhiên của chính vùng đó. Tại đây có
những hình thức khai thác, sử dụng và cải tạo thiên nhiên tương đối giống nhau
của cộng đồng con người [35, tr. 9].
Như vậy có thể hiều vùng là một hệ thống bao gồm các mối liên hệ của
các bộ phận cấu thành với các dạng liên hệ địa lý, kỹ thuật, kinh tế, xã hội bên
trong hệ thống cũng như bên ngoài hệ thống. Vùng có quy mô rất khác nhau,
song dù quy mô thế nào, lớn hay nhỏ đều có điểm chung, đó là một lãnh thổ có
ranh giới nhất định, trong đó có sự tác động tương hỗ giữa các yếu tố tự nhiên,
môi trường và con người. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

1.1.2. Khái niệm phân vùng
a. Sự phân vùng
Phân vùng là sự phân chia lãnh thổ, vùng biển ra thành các vùng hay các
phần, được phân biệt bởi mức độ đồng nhất bên trong của nó. Những dấu hiệu
được sử dụng để phân vùng có thể khác nhau về đặc điểm, theo mức độ rộng
hẹp của dấu hiệu nào đó về phân bố hoặc theo mục đích phân vùng. Thời kỳ
đầu nghiên cứu lãnh thổ thường phải phân vùng, từ đó cho phép sử dụng hợp lý

chia thành 5 khu: Khu Tây Bắc, khu Phanxipăng - puluong, khu Hòa Bình -
Thanh Hóa, khu Quảng Bình - Vĩnh Ninh, khu Nghệ Tĩnh [24].
1.2.2. Phân vùng khí hậu
Trên thế giới trái đất được chia thành 6 châu lục, mỗi châu lục có những
đặc điểm khí hậu khác nhau. Trong mỗi châu lục lại có sự phân miền khí hậu.
Châu Âu chia làm 3 miền khí hậu: Miền khí hậu cực và cận cực, miền khí hậu
ôn đới đại dương và ôn đới lục địa, miền khí hậu á nhiệt đới khô (khí hậu Địa
Trung Hải, khí hậu cận nhiệt đới). Châu Á được chia ra làm 6 miền khí hậu:
Miền khí hậu xích đạo, miền khí hậu nhiệt đới gió mùa, miền khí hậu nhiệt đới,
miền khí hậu á nhiệt đới, miền khí hậu ôn đới, miền khí hậu ôn đới lạnh và cận
cực. Châu Phi được phân ra làm 7 miền khí hậu: Miền khí hậu xích đạo, 2 miền
khí hậu cận xích đạo, 2 miền khí hậu nhiệt đới khô, 2 miền khí hậu á nhiệt đới
khô. Châu Mỹ gồm Bắc Mỹ và Nam Mỹ. Bắc Mỹ gồm các khu vực khí hậu:
khu vực khí hậu cận và cận cực, khu vực khí hậu ôn đới, khu vực khí hậu á
nhiệt đới, khu vực khí hậu nhiệt đới. Nam Mỹ gồm các khu vực khí hậu: khu
vực khí hậu xích đạo, khu vực khí hậu cận xích đạo và nhiệt đới, khu vực khí
hậu á nhiệt đới, khu vực khí hậu ôn đới. Châu đại dương chia ra các khu vực
khí hậu: khu vực khí hậu nhiệt đới, khu vực khí hậu nửa hoang mạc, khu vực
khí hậu ôn đới. Châu Nam Cực là một lục địa lạnh [39].
Các tác giả như H.Gaussen, P.Legris, P.blasco (1976) đã nghiên cứu và
thành lập bản đồ sinh khí hậu đối với vùng lãnh thổ Đông Nam Á [41].
Ở Việt Nam có khí hậu nội chí tuyến gió mùa ẩm, đa dạng và thất
thường. Khí hậu Việt Nam có sự phân hóa từ Bắc vào Nam, từ Đông sang Tây

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

và có cả sự phân hóa từ thấp đến cao. Vấn đề phân vùng khí hậu ở Việt Nam từ
trước đến nay đã được nhiều tác giả quan tâm và nghiên cứu.
Vào thế kỷ XV, Nguyễn Trãi đã có những nhận xét về đặc điểm khí hậu
các vùng địa lý và dựa trên đó đánh giá những thuận lợi khó khăn trong công

trong đó có 4 vùng khí hậu thuộc miền khí hậu miền Bắc (khu vực núi phía
Bắc, khu vực núi Tây Bắc, khu vực đồng bằng Bắc Bộ và khu vực núi phía
Tây, khu vực Bắc Trung Bộ) và 3 vùng khí hậu thuộc miền khí hậu miền Nam
(khu vực Nam Bộ, khu vực ven biển Nam Trung Bộ, khu vực Tây Nguyên)
[38].
Mai Trọng Thông (1998) và một số tác giả khi nghiên cứu phân vùng khí
hậu Việt Nam đã nêu nguyên tắc và đưa ra sơ đồ phân vùng khí hậu Việt Nam.
Theo sơ đồ này khí hậu Việt Nam được chia ra làm 2 miền khí hậu: Miền khí
hậu phía Bắc (miền khí hậu nhiệt đới gió mùa có mùa đông lạnh) và miền khí
hậu phía Nam (miền khí hậu nhiệt đới gió mùa không có mùa đông lạnh).
Trong phạm vi mỗi miền khí hậu đã phân chia ra các vùng khí hậu khác nhau:
Miền khí hậu phía Bắc đã được phân thành 6 vùng khí hậu (vùng khí hậu Đông
Bắc, vùng khí hậu Tây Bắc, vùng khí hậu Việt Bắc - Hoàng Liên Sơn, vùng khí
hậu đồng bằng Bắc Bộ và bắc của Bắc Trung Bộ, vùng khí hậu của Bắc Trung
Bộ, vùng khí hậu Bình Trị Thiên), miền khí hậu phía Nam được phân ra 3 vùng
khí hậu (vùng khí hậu Tây Nguyên, vùng khí hậu Trung và Nam Trung Bộ,
vùng khí hậu đồng bằng Nam Bộ) [34].
Theo quan điểm của các nhà phân vùng khí hậu thì đơn vị lớn nhất trong
hệ thống phân vị là miền rồi đến vùng và nhỏ nhất là khu.
1.2.3. Phân vùng thổ nhƣỡng
Để phân loại đất người ta dựa vào các kiểu đá mẹ, đặc điểm và phẫu diện
của các kiểu đất, độ phì của đất, cấu trúc và chế độ nước, chế độ nhiệt. Nó được
thể hiện trên bản đồ đất.
Trên thế giới có nhiều tác giả nghiên cứu về phân vùng thổ nhưỡng. V.
Dokutsaev đã căn cứ vào kinh nghiệm và những tài liệu điều tra thổ nhưỡng
trên một đơn vị rộng lớn, đề ra học thuyết về tính địa đới của thổ nhưỡng: theo
chiều ngang, theo chiều cao, tính địa phương hay tính vùng [31].

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu



Lê Văn Khoa (1993), căn cứ vào địa hình có thể chia ra 3 vùng đất:
Vùng núi hay vùng thượng du, vùng đồi gò hay trung du, vùng đồng bằng [21].
Dựa vào đặc điểm chủ yếu của đất đai, khí hậu, tổ nghiên cứu sinh thái
và môi trường - Viện khoa học lâm nghiệp Việt Nam đã chia ra 5 vùng đất:
Vùng đất cát và cồn cát ven biển, vùng đất phèn, vùng ngập mặn ven biển,
vùng đồng bằng châu thổ và vùng đồi núi [12].
Tổng hợp những kết quả nghiên cứu phân vùng thổ nhưỡng năm 1996
đã xác định hệ thống phân vị trong phân vùng thổ nhưỡng Việt Nam có 4 cấp
là: Miền thổ nhưỡng, á miền thổ nhưỡng, khu thổ nhưỡng và vùng thổ nhưỡng.
Theo kết quả nghiên cứu này, nước ta được phân ra làm 2 miền thổ nhưỡng, 6 á
miền thổ nhưỡng, 16 khu thổ nhưỡng và 142 vùng thổ nhưỡng. Hai miền thổ
nhưỡng là miền thổ nhưỡng phía Bắc và miền thổ nhưỡng phía Nam. Miền thổ
nhưỡng phía Bắc được chia thành 3 miền á thổ nhưỡng (á miền thổ nhưỡng Bắc
và Đông Bắc Bộ, á miền thổ nhưỡng Tây Bắc, á miền thổ nhưỡng Trường Sơn
Bắc) và 8 khu thổ nhưỡng. Miền thổ nhưỡng phía Nam cũng được chia ra làm 3
miền thổ nhưỡng (á miền thổ nhưỡng Nam và Đông Nam Bộ) và 8 khu thổ
nhưỡng. Các khu thổ nhưỡng trên lại được phân chia ra 142 vùng thổ nhưỡng,
trong đó miền thổ nhưỡng phía Bắc có 77 vùng và miền thổ nhưỡng phía Nam
có 65 vùng thổ nhưỡng [16].
1.2.4. Phân vùng sinh thái thảm thực vật
Trên trái đất khí hậu thay đổi từ nóng sang lạnh, từ ẩm sang khô. Mỗi
loại hình lớn của nó có thành phần thực vật, động vật đặc trưng - người ta gọi là
các biomes. Biomes theo trường phái Anh Mỹ đó là hệ sinh thái xâm chiếm
vùng rộng lớn có sự giống nhau về khí hậu và sinh vật. Cũng có thể coi biomes
là hệ sinh thái mà ở đó có một số nơi sống cùng tồn tại.
Humboldt (1805) có xu hướng địa lý trong nghiên cứu mối quan hệ giữa
phân bố thực vật với sự phân bố nhiệt độ trên lục địa, ông đã hệ thống hóa
những tri thức địa lý thực vật, vẽ được bản đồ chung về sự phân bố lớp phủ



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

thành 9 phân miền (Âu Châu - Xibia, Actic, Trung Hoa - Nhật Bản, Pông tích -
Trung Á - Địa Trung Hải, Bắc Mỹ - Thái Bình Dương), miền cổ nhiệt đới được
chia thành 3 phân miền (Châu Phi - Ấn Độ, Mã Lai, Tân Tây Lan), miền Tân
nhiệt đới được chia thành 3 phân miền ( Trung Mỹ, nhiệt đới, Angđơ) [40].
Olson (1983) trong bảng phân vùng sinh thái được nhiều người công nhận
ông dung khái niệm biomes. Theo ông biomes là một vùng rộng lớn trên trái đất,
nó được phân biệt với nhau bởi khí hậu và sinh vật. Trong bảng phân loại các
biomes ông chia ra 4 dạng: Các biomes trên đất liền gồm 10 kiểu lớn, các biomes
nước ngọt gồm 8 kiểu, các biomes nước mặn gồm 8 kiểu, các biomes nhân tạo
gồm 3 kiểu [44]. Phần biomes trên đất liền (Tirrestialbiomes) ông chia ra các
kiểu sau: Tundra (lãnh nguyên), Temperate deciduous forest, Boreal coniferous
forest (rừng lá kim phương Bắc hoặc rừng Taiga), Tropical grassland and
savanna (thảm cỏ nhiệt đới và savan), Temperate rainforest (rừng mưa ôn đới),
Temperate grassland (thảm cỏ ôn đới), Chaparal (dạng thảo nguyên), Semi -
evergreen tropical forest (rừng mưa mùa nhiệt đới), Desert (hoang mạc),
Evergreen tropical rainforest (rừng mưa nhiệt đới)
Về sự phân bố cây trồng, theo Nguyễn Phi Hạnh, Đặng Ngọc Lân (1980),
cây trồng được phân bố ở 10 trung tâm trên thế giới trong đó có 6 trung tâm nằm
hoàn toàn trong vành đai nhiệt đới ( Trung Mỹ, Nam Mỹ, Êtiopi, Tây Xu - đăng,
Ấn Độ, Đông Nam Á); 2 trung tâm nằm trong vành đai cận nhiệt đới (Địa Trung
Hải, Tiền Á) và 2 trung tâm nằm ở vành đai cận nhiệt, có một phần lan sang cả
vùng ôn đới (Trung Quốc và Trung Á) [14].
Các công trình nghiên cứu về phân vùng sinh thái thảm thực vật ở Việt
Nam còn rất ít. Maurand P (1943) khi nghiên cứu thảm thực vật ở Đông Dương đã
chia thảm thực vật này thành 3 vùng: Vùng Nam Đông Dương, vùng Bắc Đông
Dương và vùng trung gian [43].
Trần Ngũ Phương (1970), khi nghiên cứu phân loại rừng miền Bắc Việt Nam

đã chia đồng cỏ Bắc Việt Nam thành hai vùng: Vùng Đông Bắc và vùng Tây
Bắc, mỗi vùng có một tổ hợp quần hệ, quần hợp khác nhau [7].

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

1.3. Những nghiên cứu về đồng cỏ tự nhiên
1.3.1. Vấn đề nguồn gốc và phân bố đồng cỏ trong đai nhiệt đới
Đồng cỏ Việt Nam phân bố rải rác ở khắp nơi nhưng tập trung nhiều nhất
vẫn là trên các đồi núi và cao nguyên của trung du và miền núi (chiếm tới 10
triệu ha). Những khu vực có đồng cỏ tự nhiên với diện tích lớn không nhiều
lắm, đại diện là các đồng cỏ Mộc Châu và Mai Sơn (Sơn La), Lai Châu, đồng
cỏ Ngân Sơn (Bắc Kạn), Lạng Sơn và một số đồng cỏ thuộc vùng Tây Nguyên.
Các đồng cỏ khác thường có diện tích nhỏ từ vài chục đến vài trăm ha. Các
đồng cỏ thường xuất hiện trên đất xấu, cây quán mộc nhiều, những khu vực này
dùng từ bãi chăn có lẽ chính xác hơn.
Nguồn gốc của đồng cỏ là không đồng nhất, có nhiều loại hình đồng cỏ
được hình thành bằng con đường tự nhiên nhưng cũng có những đồng cỏ được
hình thành do hoạt động của con người trên vùng đất rừng, thảo nguyên hay
đầm lầy… làm thay đổi điều kiện môi trường và hình thành ra đồng cỏ [5].
Nguồn gốc của đồng cỏ trong đai nhiệt đới giữa các tác giả có các ý kiến
khác nhau. Đa số cho rằng trong điều kiện khí hậu nhiệt đới không có đồng cỏ
tồn tại, các quần xã cỏ ở đây là loại hình savan [7].
Khi nghiên cứu về nguồn gốc thứ sinh của các thảm cỏ trong vùng nhiệt
đới khác nhau, các tác giả đã đi đến kết luận rằng: Các đồng cỏ và cây bụi trong
vùng nhiệt đới đều được hình thành trên những quần xã rừng bị chặt hạ. Con
người khi chặt phá rừng và đốt nương làm rẫy đã làm đất bị cháy và khô đi,
những tác động này được kết thúc vào cuối mùa khô. Đầu mùa mưa ở đây sẽ
được gieo trồng các loại cây trồng nông nghiệp. Trải qua nhiều lần như vậy đất
sẽ bị bỏ hoang, trên đó lại phục hồi dần rừng thứ sinh và lại tiếp tục bị chặt hạ để
trồng trọt. Kết quả dẫn đến rửa trôi mạnh lớp đất mặt, cây gỗ không còn điều

điểm sinh thái, sinh vật học của Savan Quảng Ninh và các mô hình sử dụng đã
phát hiện được 60 họ với 131 loài thực vật khác nhau [18].

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

Lê Ngọc Công, Hoàng Chung (1997) nghiên cứu thành phần loài, dạng
sống của savan bụi ở vùng đồi trung du Bắc Thái (cũ) đã phát hiện được 123
loài thuộc 47 họ khác nhau [3].
Ma Thế Quyên (2000) nghiên cứu về động thái đồng cỏ trong mối quan
hệ với hình thức sử dụng của người dân địa phương (Ngân Sơn - Bắc Kạn) Sưu
tầm được 88 loài thuộc 35 họ [28].
Lục Thị Nghi, Hoàng Chung (2003), nghiên cứu đồng cỏ vùng núi Chi
Lăng - Lạng Sơn điều tra được 83 loài thuộc 33 họ.
Vũ Văn Thường, Hoàng Chung (2004), nghiên cứu đồng cỏ vùng núi
Móng Cái - Quảng Ninh đã điều tra được 98 loài thuộc 44 họ.
Ngoài ra còn nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả: Lê Sinh Tăng,
Nguyễn Chính (1959); Nguyễn Quang Ngọ, Lê Sinh Tăng (1964, 1969); Trịnh
Văn Thịnh và các tác giả (1974); Nguyễn Đăng Khôi (1978, 1979, 1981); Võ
Duy Giảng (1983)…
1.3.3. Những nghiên cứu về dạng sống
Humbon (1805) là người đầu tiên đặt cơ sở cho môn địa lý thực vật đề
nghị phân loại thực vật theo hình dạng bên ngoài và đã xác định được 19 dạng
thực vật như Hòa thảo, Dương xỉ, Dây leo… Sau Humbon kiểu phân loại như
vậy được hàng loạt các nhà nghiên cứu tiến hành. Cùng với thời gian đó, người
ta đã không chỉ dùng dấu hiệu bên ngoài mà cả tổ chức cơ thể thực vật để phân
loại. Từ đó đã hình thành khái niệm dạng sống của cơ thể thực vật. Người đầu
tiên đề cập đến khái niệm này là Warming (1901). Ông sử dụng các đặc điểm
sinh vật học như: Đặc điểm chồi, những phương thức sinh sản, sự kéo dài đời
sống, sự phát triển… để nghiên cứu và phân chia dạng sống của thực vật thuộc
thảo thuộc vùng ôn đới.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status