LỜI CẢM ƠN
Luận văn thạc sĩ với đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng biến đổi mực
nước thượng lưu đến ổn định của đập đất khu vực Bắc Miền Trung” đã
được hoàn thành với sự nỗ lực của bản thân, sự giúp đỡ nhiệt tình của các
Thầy, Cô trong bộ môn Thủy công, khoa sau Đại học – Trưởng Đại Học Thủy
Lợi và bạn bè đồng nghiệp
Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Thầy giáo – TS Lê Xuân
Khâm đã trực tiếp tận tình hướng dẫn cũng như cung cấp các tài liệu thông
tin khoa học cần thiết để tác giả hoàn thành luận văn này
Tác giả xin chân thành cảm ơn tới các thầy cô giáo bộ môn Thủy công,
khoa Sau đại học, khoa Công trình, và các thầy cô giáo trong trường Đại học
Thủy lợi đã tận tình giúp đỡ và truyền đạt kiến thức trong suốt thời gian học
tập chương trình cao học cũng như trong quá trình thực hiện luận văn
Tác giả xin chân thành cảm ơn tới gia đình, bạn bè, đồng nghiệp và
những người đi trước đã chỉ bảo, khích lệ, động viên, ủng hộ nhiệt tình về mọi
mặt trên con đường học hỏi nghiên cứu khoa học.
Do trình độ có hạn và thời gian nghiên cứu ngắn nên luận văn không
thể tránh khỏi những tồn tại, hạn chế, tác giả mong nhận được mọi ý kiến
đóng góp và trao đổi chân thành của các thầy cô giáo và các bạn đồng
nghiệp. Tác giả mong muốn những vấn đề còn tồn tại sẽ được tác giả nghiên
cứu sâu hơn để góp phần đưa những kiến thức khoa học vào phục vụ sản xuất.
Hà nội, tháng 05 năm 2014
Tác giả luận văn
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I.TỔNG QUAN VỀ ĐẬP ĐẤT Ở KHU VỰC BẮC MIỀN
TRUNG
3
1.1. Tổng quan về đập đất và ổn định của đập đất 3
1.1.1.Tình hình xây dựng đập trên thể giới. 3
1.1.2. Tình hình xây dựng đập đất tại Việt Nam 5
1.1.3. Tổng quan về ổn định của đập đất ở Việt Nam. 8
1.2. Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu các vấn đề ảnh hưởng đến ổn
định đập đất trong và ngoài nước. 9
1.2.1. Tình hình nghiên cứu các vấn đề ảnh hưởng đến ổn định đập đất trên
thế giới. 9
1.2.2. Tình hình nghiên cứu các vấn đề ảnh hưởng đến ổn định đập đất ởViệt
Nam. 11
1.3. Hiện trạng đập đất ở khu vực Bắc Miền Trung 12
1.4. Kết luận chương 1. 15
CHƯƠNG II
.NGHIÊN CỨU CÁC ẢNH HƯỞNG CỦA MỰC NƯỚC
HỒ ĐẾN SỰ ỔN ĐỊNH CỦA ĐẬP
16
2.1 Phân tích, lựa chọn loại đập để nghiên cứu. 16
2.1.1. Các loại đập được sử dụng phổ biến hiện nay. 16
2.1.1.1. Đập bê tông trọng lực: 16
2.1.1.2. Đập đá: 17
2.1.1.3. Đập đất: 17
2.5.3. Công nghệ chống thấm bằng tường hào bentonite 44
2.5.4. Nâng chiều cao đập hiện trạng. 44
2.6 Kết luận chương 2: 45
CHƯƠNG III. TÍNH TOÁN ÁP DỤNG CHO CÔNG TRÌNH HỒ CHỨA
NƯỚC HAO HAO – THANH HÓA
47
3.1 Giới thiệu về công trình 47
3.2 Hiện trạng và các điều kiện biên để tính toán 48
3.2.1. Đánh giá sơ bộ về hiện trạng công trình đầu mối. 48
3.2.1.1. Đập đất. 48
3.2.1.2. Tràn xã lũ. 49
3.2.1.3. Tuy nen eo Văn Liễn 49
3.2.2. Điều kiện biên tính toán. 49
3.3 Tính toán, đánh giá khả năng ổn định đập đất của hồ chứa Hao Hao 50
3.3.1. Tính toán ổn định với mực nước lũ thiết kế 51
3.3.2. Tính toán với mực nước +27,40 m. 53
3.4 Các giải pháp tăng sự ổn định của đập đất 55
3.4.1. Lựa chọn giải pháp tăng sự ổn định cho đập đất của hồ chứa Hao Hao.
55
3.4.2. Tính toán ổn định cho đập đất của hồ chứa Hao Hao với các giải pháp
lựa chọn. 57
3.5 Kết luận chương 3 59
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
61
TÀI LIỆU THAM KHẢO 64
Hình 3.6: Kết quả tính thấm ứng với MNLTK = +27,40 m 54
Hình 3.7: Giá trị gradien tại đáy chân khay phía thượng lưu và hạ lưu đập với
MNLTK = +26,90 m 54
Hình 3.8: Kết quả tính ổn định ứng với mực nước +27,40 m 55
Hình 3.9: Mặt cắt ngang đập sau khi tiến hành phụt cao áp Jet – grouting và nâng
cao cao trình đỉnh đập. 57
Hình 3.10: Kết quả tính thấm sau khi xử lý ổn định ứng với MNLTK = +27,40 m 58
Hình 3.11: Giá trị gradien tại đáy chân khay phía thượng lưu và hạ lưu đập sau
khi đã xử lý ổn định với MNLTK = +27,40 m 58
Hình 3.12: Kết quả tính ổn định đập sau khi đã xử lý ổn định 59
ứng với mực nước +27,40 m 59
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1: Số lượng đập vật liệu địa phương ở các nước trên thế giới. [5] 5
Bảng 1.2: Xếp theo thứ tự thời gian đập đất ở Việt Nam 6
Bảng 2.1: Một số công trình chứa nước, đập đất của khu vực Bắc Miền Trung 20
Bảng 2.2: Tổng hợp chỉ tiêu cơ lý và hình thức một số đập ở Bắc Miền Trung 22
Bảng 2.3: Các trường hợp tính toán 32
Bảng 2.4: Các chỉ tiêu sử dụng tính toán 33
Bảng 2.5: Kết quả tính toán các trường hợp H
đ
= 20m, 25m, 30m 35
(J
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đập đất là loại đập làm bằng vật liệu địa phương được xây dựng phổ
biến ở nước ta và trên thế giới, trong đó miền trung là một trong những khu
vực có nhiều đập đất nhất ở nước ta.Đây là một loại đập tận dụng được vật
liệu tại chỗ, cấu tạo đơn giản, công nghệ thi công không phức tạp, trên mọi
loại nền đều có thể xây dựng đập đất, vì vậy giá thành thường rẻ.
Miền trung là một vùng chịu ảnh hưởng nhiều về biến đổi khí hậu: bão
tố, lũ lụt, hạn hán, nhiễm mặn, xói lở…Thiên tai ở miền trung ngày càng xuất
hiện dồn dập hơn, đặc biệt là lũ lụt (1999, 2002, 2003, 2005, 2006, 2008,
2009) và hạn hán (1991, 1992, 1994, 1996, 1998, 2002, 2003, 2005, 2007,
2010…) trong đó có các tỉnh thuộc Bắc Miền Trung. Cũng chính vì lý do biến
đổi khí hậu dẫn đến hiện tượng bất thường, điều này có nghĩa là mưa lũ không
còn tuân theo qui luật tự nhiên mà diễn biến phức tạp: mưa lớn, thời gian mưa
lâu…Khi thiết kế hồ chứa đều tuân thủ các tần suất thiết kế, song mấy năm
gần đây có nhiều trận lũ vượt tần suất thiết kế đã gây ra nhiều thiệt hại về con
người và vật chất. Cũng do biến đổi khí hậu mà nguồn nước đến các hồ chứa
bị thay đổi, có nghĩa mực nước thượng lưu đập đất bị thay đổi. Vấn đề đặt ra
là khi mực nước hồ thấp, đập vẫn làm việc an toàn theo thiết kế; nhưng vì lý
do bất thường nên mực nước hồ có thể dâng lên đột ngột vượt thiết kế, khi đó
ảnh hưởng trực tiếp đến sự làm việc an toàn của đập.
Vì vậy đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng biến đổi mực nước thượng lưu
đến ổn định của đập đất khu vực bắc miền Trung”, mang nhiều ý nghĩa ứng
dụng thực tiễn và cấp thiết.
2. Mục đích của đề tài
- Nghiên cứu xây dựng quan hệ giữa chiều cao đập, mực nước thượng
trình thực tế. 3
CHƯƠNG I
TỔNG QUAN VỀ ĐẬP ĐẤT Ở KHU VỰC BẮC MIỀN TRUNG
1.1. Tổng quan về đập đất và ổn định của đập đất
Đập đất là công trình dâng nước tạo hồ chứa rất phổ biến trên thế giới
cũng như ở Việt Nam.Những lợi ích mà đập hồ chứa mang lại là rất lớn, như
có tác dụng giúp giảm nhẹ lũ trên sông, cung cấp nước cho vùng hạ du cũng
như cho khu vực lân cận, cấp nước tưới ổn định cho sản xuất nông nghiệp, tạo
nguồn nước sinh hoạt cho khu dân cư. Ngoài ra đập đất còn tạo ra những hồ
chứa với dung tích lớn, tùy vào điều kiện địa hình, địa chất, dân sinh kinh tế
và nhu cầu của khu vực để tiến tới xây dựng nhà máy thủy điện, phát huy sức
mạnh của nước, tạo ra điện năng, phục vụ nhu cầu thiết yếu của nhân dân
cũng như của đất nước.
1.1.1.Tình hình xây dựng đập trên thể giới.
Hồ chứa nước trên thế giới được xây dựng và phát triển rất đa dạng,
phong phú. Đến nay trên thế giới đã xây dựng hơn 1.400 hồ có dung tích hơn 100
triệu mét khối nước mỗi hồ với tổng dung tích các hồ là 4.200 tỷ mét khối.
Theo tiêu chí phân loại của Ủy ban quốc tế về đập lớn, hồ có dung tích
từ một triệu mét khối nước trở lên hoặc có chiều cao trên 15 mét, thuộc loại
hồ đập lớn. Hiện thế giới có hơn 45.000 hồ. Trong đó châu Á có 31.340 hồ
(chiếm 70%), Bắc và Trung Mỹ có 8.010 hồ, Tây Âu có 4.227 hồ, Đông Âu
có 1203 hồ, châu Phi 1.260 hồ, châu Đại Dương 577 hồ. Đứng đầu danh sách
các nước có nhiều hồ là Trung Quốc (22.000 hồ), Mỹ (6.575 hồ), Ấn Độ
(4.291 hồ), Nhật Bản (2.675 hồ), Tây Ban Nha (1.196 hồ).
5
Xếp theo thứ tự về số lượng đập của các nước ta có thứ tự như sau:
Bảng 1.1: Số lượng đập vật liệu địa phương ở các nước trên thế giới.
TT Tên nước
Số
lượng
TT Tên nước
Số
lượng
1
Trung Quốc
22000
17
Na uy
335
2
Mỹ
6575
18
CHLB Đức
311
3
Ấn Độ
4291
19
Al-ba-ni
306
9
Brazin
594
25
Thụy Sĩ
156
10
Pháp
569
26
Áo
149
11
Nam Phi
539
27
Cộng hòa Séc
118
12
Mexico
537
28
Algerie
107
13
Italia
524
29
Bồ Đào Nha
103
6
1976 đến nay số hồ chứa xây dựng mới chiếm 67%. Không những tốc độ phát
triển nhanh, mà cả về quy mô công trình cũng lớn lên không ngừng.Hiện nay,
đã có nhiều hồ lớn, đập cao ở những nơi có điều kiện tự nhiên phức tạp.
Tính đến nay, ở nước ta có 6648 hồ chứa thuộc địa bàn của 45/64 tỉnh
thành, trong đó, có gần 100 hồ chứa nước có dung tích trên 10 triệu mét khối,
hơn 567 hồ có dung tích từ 1÷10 triệu mét khối, còn lại là các hồ nhỏ. Tổng dung
tích trữ nước của các hồ là 35,8 tỷ mét khối, trong đó có 26 hồ chứa thủy điện lớn
có dung tích 27 tỷ mét khối nước còn lại là các hồ có nhiệm vụ tưới là chính với
tổng dung tích 8,8 tỷ mét khối nước đảm bảo tưới cho 80 vạn hecta.
Bảng 1.2: Xếp theo thứ tự thời gian đập đất ở Việt Nam
TT Tên hồ Tỉnh Loại đập
Hmax
(m)
Năm hoàn
thành
1
Cây Trường
Hà Tĩnh
Đất
23,50
1961
2
Khuôn Thần
Bắc Giang
Đất
26,00
1972
8
Cấm Sơn
Bắc Giang
Đất
42,50
1974
9
Vực Trống
Hà Tĩnh
Đất
22,80
1974
10
Đồng Mô
Hà Tây
Đất
21,00
1974
11
Tiên Lang
Quảng Bình
Đất
32,30
1978
12
Núi Cốc
Thái Nguyên
Đất
26,00
1980
18
Liệt Sơn
Quảng Ngãi
Đất
29,00
1981
19
Phú Ninh
Quảng Nam
Đất
39,40
1982
7
20
Sông Mực
Thanh Hóa
Đất
33,40
1983
21
Quất Đông
Quảng Ninh
Đất
22,60
1983
27
Dầu Tiếng
Tây Ninh
Đất
28,00
1985
28
Biển Hồ
Gia Lai
Đất
21,00
1985
29
Núi Một
Bình Định
Đất
30,00
1986
30
Vực Tròn
Quảng Bình
Đất
29,00
1986
31
Tuyền Lâm
Lâm Đồng
Đất
32,00
1987
37
Gò Miếu
Thái Nguyên
Đất
30,00
1999
38
Cà Giây
Bình Thuận
Đất
30,00
1999
39
Sông Hinh
Phú Yên
Đất
50,00
2000
40
Vũng Sú
Thanh Hóa
Đất
25,00
2003
41
Sông Sắt
Ninh Thuận
Đất
29,00
2005
47
Hao Hao
Thanh Hóa
Đất
24,2
2009
48
Trưa Vân
Thanh Hóa
Đất
22
2010
49 Tả Trạch
Thừa Thiên
Huế
Đất 60,00 2012
50
Suối Mỡ
Bắc Giang
Đất
27,80
2012
8
Trong hai thập kỷ qua, sau khi phát triển kinh tế nói chung và xây dựng
đập cao nói riêng người ta dần dần càng thấy nổi lên những tác hại về mặt môi
trường khiến người ta đã so sánh thận trọng hơn, mặt khác cũng có thể những
Các hư hỏng khác như sạt mái, lún không đều, nứt, tổ mối… chiếm
khoảng 19,7%.
1.2. Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu các vấn đề ảnh hưởng đến
ổn định đập đất trong và ngoài nước.
Qua hàng ngàn năm phát triển, đập đất ngày càng phổ biến nhờ những
ưu điểm:
- Có cấu tạo đơn giản nhưng rất phong phú;
- Cho phép sử dụng các loại đất có sẵn ở khu vực công trình;
- Có thể xây dựng trên mọi loại nền và trong mọi điều kiện khí hậu
- Cho phép cơ giới hóa các công đoạn thi công từ khai thác vật liệu,
chuyên chở đắp, đầm nén, v.v
Tuy nhiên đập đất có một số nhược điểm như vật liệu tự nhiên có độ
bền vững tương đối thấp, bị ảnh hưởng nhiều bởi thời tiết lúc thi công, quá
trình vận hành phải theo dõi sát xao, thường trực để ứng phó với lũ… Các vấn
đề ảnh hưởng chính đến sự ổn định của đập đất đó là:
- Yếu tố tự nhiên
- Yếu tố khảo sát, thiết kế
- Yếu tố thi công
- Yếu tố khai thác và quản lý
- Yếu tố chiến tranh
1.2.1. Tình hình nghiên cứu các vấn đề ảnh hưởng đến ổn định đập đất
trên thế giới.
Trên thế giới, vấn đề an toàn đập, ổn định đập đã được sự quan tâm và
nghiên cứu rất nhiều của các nhà khoa học. Các phần mềm tính toán ngày
càng nhiều cùng với độ chính xác rất cao, giúp cho con người giảm được thời
gian, khối lượng tính toán và dự đoán được những kịch bản có thể xảy ra với
công trình để có biện pháp phòng ngừa thích hợp. Một số phần mềm được
dùng phổ biến có độ chính xác cao hiện nay như: Geoslope, Ansys…
các cơ quan quản lý của chính phủ Hàn Quốc, các chủ đập sẽ rất chủ động phát
11
hiện ra những hư hỏng, những nguy cơ mất an toàn đập, từ đó có những biện
pháp xử lý kịp thời.
1.2.2. Tình hình nghiên cứu các vấn đề ảnh hưởng đến ổn định đập đất ở
Việt Nam.
Vấn đề an toàn đập vật liệu địa phương ngày càng trở nên cấp thiết và
được quan tâm đúng mực hơn trong thời kì biến đổi khí hậu hiện nay. Đã có
nhiều nghiên cứu được sử dụng như tài liệu tham khảo để thiết kế, thi công,
đánh giá an toàn đập.
Sổ tay an toàn đập được lập ra để đảm bảo tính hệ thống về an toàn đập
từ các khâu thiết kế, thi công, quản lý vận hành, bảo trì, kiểm tra đánh giá mức
độ an toàn đập theo định kỳ, công tác tổ chức an toàn đập và trách nhiệm đối
với an toàn đập từ chủ đập đến các cấp, cơ quan quản lý, các ngành có liên
quan đến an toàn đập theo quy định của Nghị định 72/2007/NĐ-CP.
GS.TS. Phan Sỹ Kỳ đã thống kê sự cố một số công trình thủy lợi ở Việt
Nam, tìm ra nguyên nhân và đề ra biện pháp phòng tránh. Nguyễn Văn Mạo
và nhóm nghiên cứu (ĐHTL) năm 2010 đã tiến hành nghiên cứu cơ sở khoa
học để từ đó đề xuất các giải pháp kỹ thuật nhằm đảm bảo an toàn cho các
công trình xây dựng trong điều kiện thiên tai bất thường miền Trung.
Nguyễn Phương Mậu và nhóm nghiên cứu (ĐHTL) năm 2009 đã
nghiên cứu giải pháp quản lý các hồ chứa vừa và nhỏ miền Trung và Tây
Nguyên nhằm chống hạn trong những thời kỳ thiếu nước từ đó đưa ra các kiến
nghị quản lý, sử dụng nguồn nước hồ hợp lý để phục vụ pháp triển nông
nghiệp trong những năm hạn.
Nguyễn Thế Hùng và nhóm nghiên cứu (ĐHBKĐN) đã sử dụng mô
Đồng Đáng, huyện Tĩnh Gia, Thanh Hóa.
Hình 1.2.Vỡ đập Đồng Đáng, Trường Lâm - Tĩnh Gia - Thanh Hóa.
13
Hiện nay, cả thế giới đang phải đối mặt với các vấn đề biến đổi khí hậu,
trong đó có hiện tượng mưa lũ vượt ra ngoài các quy luật thông thường. Đợt
lũ lịch sử đầu tháng 10 năm 2010 ở Hà Tĩnh, Quảng Bình, Nghệ An là một ví
dụ. Xảy ra hiện tượng lũ chồng lên lũ, con lũ trước chưa rút hết thì con lũ sau
đã đổ về. Thêm vào đó, cường suất của con lũ sau là rất lớn; lượng mưa 1
ngày tại Chu Lễ (Hương Khê – Hà Tĩnh) đo được là 800mm; tổng lượng mưa
5 ngày lên tới 1300÷1500mm. Tổng lượng nước này được dồn vào các thung
lũng sông gây nên lũ lụt kinh hoàng. Trong điều kiện mưa lũ lớn như vậy, các
hồ đập thủy lợi rất dễ bị tổn thương bởi các lý do sau đây:
- Các hồ đập thường khống chế một lưu vực nhất định. Toàn bộ nước
mưa trên lưu vực được dồn vào bụng hồ phía trước đập. Lưu vực càng lớn,
nước dồn về càng nhiều; rừng bị phá, mặt đệm trơ trọi, nước dồn về càng
nhanh làm cho đường tràn xả nước không kịp, gây tràn và vỡ đập.
- Hơn 90% số đập tạo hồ ở nước ta hiện nay là đập đất, trong đó có khu
vực Bắc miền Trung. Kết cấu đập đất đa dạng, tuy nhiên qua thu thập số liệu
thực tế một số hồ chứa ở bắc miền Trung thì kết mặt cắt điển hình có 2 dạng
chính: đập đồng chất có thiết bị chống thấm dưới nền là chân khay, thiết bị
thoát nước thân đập là lăng trụ thoát nước và đập hai khối có thiết bị chống
thấm dưới nền là chân khay, thiết bị thoát nước thân đập ống khói kết hợp với
lăng trụ thoát nước; tầng thấm có chiều dày trung bình từ 0 ÷ 10m. Loại đập
này có điểm yếu là khi nước tràn qua thì dễ gây xói, moi sâu vào thân dẫn đến
bị vỡ.Ngoài ra, khi cường suất mưa lớn và kéo dài, đất thân đập bị bão hòa
về mối quan hệ giữa chiều cao mực nước thượng lưu đập và sự ổn định của đập
đất. Những yếu tố tác động đến an toàn đập như mưa lũ kéo dài, mưa rào với
lưu lượng nước tăng đột ngột, vượt dự báo, ảnh hưởng trực tiếp đến sự làm việc
ổn định của đập đất. Từ đó đưa ra phương án an toàn cho đập, giúp quá trình
vận hành đập ở mức đảm bảo.
15
1.4. Kết luận chương 1.
- Đập đất là công trình dâng nước tạo hồ chứa rất phổ biến trên thế giới
cũng như ở Việt Nam.Nhờ những lợi ích thiết thực mà đập hồ chứa mang lại
nên trên thế giới và tại Việt Nam được xây dựng và phát triển rất đa dạng,
phong phú.
- Đập đất có một số nhược điểm như vật liệu tự nhiên có độ bền vững
tương đối thấp, bị ảnh hưởng nhiều bởi nhiều yếu tố chủ quan và khách quan
như yếu tố tự nhiên, khảo sát thiết kế, quá trình thi công và trong khâu quản lý
khai thác do đó trong trong quá trình thi công, vận hành phải theo dõi sát xao,
thường trực để ứng phó với lũ…
- Việt Nam là một trong những nước có nhiều hồ chứa, đa số các đập đầu
mối là đập đất và được xây dựng từ những năm 70-80, điều kiện và khả năng xây
dựng lúc bấy giờ còn khó khăn nên nhiều đập đã xuống cấp nghiêm trọng. Đến
nay do tác động của biến đổi khí hậu nên có nhiều hiện tượng thiên tai bất
thường như bão lũ làm ảnh hưởng trực tiếp đến sự làm việc an toàn của đập.
- Khu vực Bắc Miền Trung là nơi chịu ảnh hưởng nhiều so với cả nước
về mưa bão, lũ lụt. Khu vực này các công trình đập tạo hồ chủ yếu là đất. Kết
cấu đập đất đa dạng, tuy nhiên qua thu thập số liệu thực tế một số hồ chứa ở
bắc miền Trung thì kết mặt cắt điển hình có 2 dạng chính: đập đồng chất có
thiết bị chống thấm dưới nền là chân khay, thiết bị thoát nước thân đập là lăng
thành năm 2001. Hình 2.1: Toàn cảnh đập trọng lực Tân Giang, nhìn từ hạ lưu
Bên cạnh đó còn có các hồ chứa như hồ Định Bình, hồ Sơn La đã
được thiết kế và xây dựng theo phương pháp đập bê tông trọng lực.
17
2.1.1.2. Đập đá:
Đập đá là một trong những công trình cổ, thường dùng vật liệu tại chỗ,
có thể thi công vào mọi mùa, kỹ thuật xây dựng đơn giản. Loại đập này có
thân đập được đắp bằng đá. Yêu cầu địa chất nền đập đá thấp hơn so với đập
bê tông.
Hình 2.2: Đập đá đổ Thác Bà nhìn từ hạ lưu
Hiện nay trên thế giới đã có hơn 100 đập đá cao từ 60m trở lên, ở nước
ta có đập Cẩm Ly ( Quảng Ninh ) cao trên 30m, đập Thác Bà cao 45m, đập
Hòa Bình cao 120m.
2.1.1.3. Đập đất:
Đập đất là loại đập sử dụng vật liệu địa phương, được sử dụng phổ biến
ở nước ta. Hiện nay kinh tế ngày càng phát triển, nhu cầu dùng nước không
ngừng tăng lên nên các đập ngăn nước được sử dụng càng nhiều. Do nhiều ưu
điểm và lợi thế nên đập vật liệu địa phương càng được sử dụng nhiều so với
các loại đập khác như đập bê tông, đá xây
Đập đất đầm nén gồm 3 loại cơ bản: đập có thiết bị chống thấm mỏng,
đập đồng chất và đập nhiều khối:
tại một cao trình nào đó lớn hơn khoảng cách tới cao trình đó đến đỉnh đập và
không nhỏ hơn 3m. Chiều rộng lớn nhất của khối vật liệu chống thấm được
khống chế bởi tiêu chuẩn thấm, ổn định và lượng vật liệu có sẵn.