Trường ĐH Kinh tế quốc dân Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Cho vay luôn chiếm tỷ trọng lớn trong hoạt động kinh doanh của NHTM,
cho vay là hoạt động đem lại nguồn thu chủ yếu của NHTM đặc biệt là các
NHTMVN và VPBank không phải là một ngoại lệ, song cho vay mới chỉ là
“điều kiện cần”, “điều kiện đủ” là phải thu hồi nợ. Chỉ thu đủ nợ - cả gốc và
lãi - thì hoạt động kinh doanh của ngân hàng mới có thể được coi là hiệu quả.
Muốn vậy, các khâu của hoạt động cho vay phải được thực hiện một cách trôi
chảy theo những nguyên tắc nhất định để bảo đảm cho NHTM thu hồi được
cả gốc và lãi khi hết thời hạn cho vay.
Thực trạng hoạt động cho vay hiện nay cho thấy khả năng thu nợ chưa
cao: nợ quá hạn, khó đòi, mất vốn và xoá nợ luôn và là một trong những nguy
cơ đe doạ hiệu quả kinh doanh của các NHTM. Áp lực cạnh tranh giữa các
ngân hàng ngày càng tăng, đặc biệt sau khi hội nhập. Trong bối cảnh đó, các
NHTM phải nâng cao chất lượng và hiệu quả kinh doanh, phải có doanh số
cho vay cao và khả năng thu nợ tốt.
Vì vậy, đây chính là lý do mà tác giả chọn đề tài "Áp dụng dịch vụ hỗ
trợ sau cho vay nhằm nâng cao khả năng thu nợ của Ngân hàng TMCP
các doanh nghiệp ngoài quốc doanh - VPBank " để nghiên cứu và tìm ra
những yêu cầu của thực tiễn hoạt động VPBank cũng như các NHTMVN nói
chung hiện nay.
Đối tượng nghiên cứu trong bài viết là hoạt động cho vay và dịch vụ hỗ trợ
sau cho vay đối với khách hàng của các NHTM.
Phạm vi nghiên cứu:Về mặt lý luận, đề tài tập trung nghiên cứu chủ yếu về
hoạt động cho vay và dịch vụ hỗ trợ sau cho vay. Các mặt hoạt động khác của
NHTM như: tăng cường quản lý hoạt động cho vay, hoàn thiện quy trình
nghiệp vụ cho vay, các dịch vụ thanh toán, môi giới, tiện ích, v.v…, cũng sẽ
Triệu Mai Anh-Lớp Ngân hàng 45B
1
Trường ĐH Kinh tế quốc dân Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
được đề cập song không phải là trọng tâm nghiên cứu. Về mặt thực tiễn, đề tài
• Khái niệm về hoạt động cho vay của NHTM
Cho vay là một mặt của hoạt động tín dụng ngân hàng, thông qua hoạt
động cho vay ngân hàng thực hiện điều hòa vốn trong nền kinh tế dưới hình
thức phân phối nguồn vốn tạm thời nhàn rooic huy động được từ trong xã hội
(qũy cho vay) để đáp ứng nhu cầu về vốn phục vụ sản xuất kinh doanh và đời
sống.
Cho vay là quyền của NHTM với tư cách là người cho vay (chủ nợ) yêu
cầu khách hàng của mình – người đi vay muốn vay được vốn phải tuân thủ
những điều kiện nhất định, những điều kiện này là cơ sở ràng buộc về mặt
pháp lý đảm bảo cho người cho vay có thể thu hồi được vốn (gốc + lãi) sau
một thời gian nhất định. Để thu hồi được vốn, các ngân hàng có quyền yêu
cầu người đi vay đáp ứng những điều kiện vay cụ thể dựa trên cơ sở mức độ
tin tưởng, tín nhiệm lẫn nhau giữa ngân hàng với khách hàng.
Mặt khác, cho vay là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ
người sở hữu (NHTM) sang người sử dụng (người vay – khách hàng), sau
một thời gian nhất định lại quay về với lượng giá trị lớn hơn một lượng giá trị
ban đầu.
Cho vay là một quan hệ giao dịch giữa hai chủ thể (NHTM và người
vay), trong đố một bên (NHTM) chuyển giao tiền hoặc tài sản cho bên kia
(người vay) sử dụng trong một thời gian nhất định, đồng thời bên nhận tiền
hoặc tài sản cam kết hoàn trả vốn (gốc và lãi) cho bên cho vay vô điều kiện
theo thời hạn đã thỏa thuận.
Triệu Mai Anh-Lớp Ngân hàng 45B
3
Trường ĐH Kinh tế quốc dân Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Qua khái niệm trên cho thấy bản chất của cho vay là một giao dịch về
tiền hoặc tài sản trên cơ sở có hoàn trả mà thực chất là sự vay mượn dựa trên
cơ sở tin tưởng, tín nhiệm lẫn nhau. Trong đó sự hoàn trả là đặc trưng thuộc
về bản chất của cho vay, là nguyên tắc để phân biệt phạm trù cho vay với cấp
phát của NSNN.
nhiều hơn, sử dụng các dịch vụ ngân hàng thường xuyên hơn. Đây là cơ sở để
ngân hàng mở rộng hoạt động kinh doanh, tăng sức cạnh tranh trên thị trường
nhằm thu được nhiều lợi nhuận.
Đối với khách hàng
Hoạt động cho vay đáp ứng nhu cầu vốn để duy trì quá trình sản xuất
được liên tục đồng thời đầu tư phát triển kinh tế. Thực trạng hiện nay là tài
sản cố định của các doanh nghiệp đã cũ nát và lạc hậu, thời gian khấu hao đã
hết là cho doanh nghiệp khó có thể tăng năng suất lao động và phát triển sản
xuất. Nghiệp vụ cho vay đã góp phần khắc phục được vấn đề đó.
- Làm tăng sức cạnh tranh cho doanh nghiệp
Trong môi trường kinh tế cạnh tranh, các chủ thể kinh doanh luôn phải
chủ động tìm kiếm và thực hiện nhiều biện pháp để các sản phẩm của mình
tiêu thụ được nhanh, nhiều trên thị trường. Ví dụ như: Ứng dụng những thành
tựu khoa học đổi mới công nghệ, hoàn thiện nghệ thuật quản trị kinh doanh,
tìm kiếm thị trường mới… nhằm tự nâng cao khả năng sản xuất, làm cho các
sản phẩm của bản thân doanh nghiệp có chỗ đứng trên thị trường, nhờ vậy,
các doanh nghiệp có thể tồn tại và phát triển. Muốn thực hiện được điều đó
các doanh nghiệp cần có một lượng vốn lớn mà không ai khác ngoài ngân
hàng có thể cung cấp cho họ. Nghiệp vụ cho vay đã góp phần rất lớn vào quá
trình sản xuất kinh doanh ổn định của doanh nghiệp. Nhờ đầu tư xây dựng
mới cũng như áp dụng công nghệ hiện đại mà doanh nghiệp cũng như sản
phẩm của doanh nghiệp nâng cao được uy tín và vị thế trên thị trường, thu hút
Triệu Mai Anh-Lớp Ngân hàng 45B
5
Trường ĐH Kinh tế quốc dân Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
được khách hàng, làm cho mục tiêu lợi nhuận của doanh nghiệp được thực
hiện dễ dàng hơn.
- Tạo điều kiện cho doanh nghiệp mở rộng quy mô sản xuất, chiếm lĩnh
thị trường:
Khi được đầu tư trung và dài hạn, doanh nghiệp có cơ hội để mở rộng
trường. Nếu nghiệp vụ cho vay hoạt động có hiệu quả sẽ góp phần đảm bảo
cho khối lượng tiền cung ứng phù hợp (vì cho vay là ngân hàng đưa tiền vào
lưu thông, thu nợ là ngân hàng rút tiền ra khỏi lưu thông) điều đó làm cho giá
cả hàng hóa cũng dần dần ổn định.
Hoạt động của ngân hàng tập trung vốn tiền tệ tạm thời chưa sử dụng, mà
vốn này nằm phân tán ở khắp mọi nơi, trong tay các nhà doanh nghiệp các cơ
quan nhà nước và của cá nhân. Trên cơ sở đó cho vay các đơn vị kinh tế. Tuy
nhiên quá trình đầu tư cho vay khong phải rải đều cho mọi chủ thể có nhu cầu
mà việc đầu tư được thực hiện một cách tập trung, chủ yếu là cho các xí
nghiệp lớn, những xí nghiệp kinh doanh có hiệu quả. Đầu tư tập trung là quá
trình tất yếu, vừa đảm bảo tránh rủi ro cho vay, vừa thúc đẩy quá trình tăng
trưởng kinh tế.
- Góp phần ổn định đời sống, tạo công ăn việc làm và ổn định trật tự xã
hội.
Nghiệp vụ cho vay chú trọng vào nhiều lĩnh vự mới, cải tạo và nâng cao
năng lực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, mở rộng quy mô sản xuất, từ
đó tạo ra nhiều công ăn việc làm cho người lao động. Bên cạnh đó, do năng
lực sản xuất ngày càng được nâng cao nên số lượng sản phẩm tiêu thụ sẽ
nhiều hơn, đó là nguồn để tăng thu nhập và ổn định đời sống cho cán bộ trong
doanh nghiệp. Mặt khác, tín dụng trung và dài hạn tạo điều kiện thuận lợi cho
việc chuyển dịch cơ cấu đầu tư, hợp lý hóa cơ cấu nền kinh tế từ đó làm tiền
đề cho sự ổn định và trật tự an toàn xã hội.
Triệu Mai Anh-Lớp Ngân hàng 45B
7
Trường ĐH Kinh tế quốc dân Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Trong điều kiện ngày nay, phát triển kinh tế của một nước luôn gắn liền
với thị trường thế giới, vì vậy hoạt động cho vay đã trở thành một trong
những phương tiện nối liền các nền kinh tế các nước với nhau.
• Phân loại cho vay:
Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động cho vay của ngân hàng thương
Căn cứ vào phương thức cho vay
- Cho vay theo hạn mức thấu chi :
Thấu chi là nghiệp vụ cho vay qua đó ngân hàng cho phép người vay
được chi trội (vượt) trên số dư tiền gửi thanh toán của mình đến một giới hạn
nhất định và trong khoảng thời gian xác định. Giới hạn này được gọi là hạn
mức thấu chi.
- Cho vay trực tiếp từng lần:
Là hình thức cho vay tương đối phổ biến của ngân hàng đối với các
khách hàng không có nhu cầu vay thường xuyên, không có đủ điều kiện để
cấp hạn mức thấu chi. Một số khách hàng sử dụng vốn chủ sở hữu và tín dụng
thương mại là chủ yếu, chỉ khi có nhu cầu thời vụ, bổ sung vốn lưu động
không thường xuyên hoặc khách hàng có vòng quay vốn kinh doanh dài mới
vay ngân hàng, tức là vốn ngân hàng chỉ tham gia vào một số giai đoạn nhất
định của chu kỳ sản xuất kinh doanh.
- Phương thức cho vay theo hạn mức tín dụng:
Đây là nghiệp vụ tín dụng theo đó ngân hàng thỏa thuận cấp cho khách
hàng hạn mức tín dụng. Hạn mức tín dụng có thể tính cho cả kì hoặc cuối kì.
Đó là số dư tại thời điểm tính. Phương thức này thường áp dụng với khách
hàng có nhu cầu vay bổ sung vốn lưu động thường xuyên, mục đích sử dụng
vốn rõ ràng và có tín nhiệm với Ngân hàng (có khả năng tài chính, sản xuất
kinh doanh ổn định, có lãi, trong thời gian một năm trước đó không có quá
hạn tại các tổ chức tín dụng).
Triệu Mai Anh-Lớp Ngân hàng 45B
9
Trường ĐH Kinh tế quốc dân Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Căn cứ vào nhu cầu vay vốn theo hạn mức của khách hàng, giá trị tài sản
thế chấp, tài sản cầm cố hoặc bảo lãnh (nếu có) và khả năng nguồn vốn của
mình, ngân hàng và khách hàng vay xác định hạn mức tín dụng phù hợp với
đặc điểm chu kỳ sản xuất, kinh doanh, vòng lưu chuyển tiền tệ. Hợp đồng tín
dụng được ký kết trong phạm vi hạn mức được xác định.
Phương thức cho vay này áp dụng đối với khách hàng có nhu cầu dự
phòng nguồn vốn tín dụng trong một khoảng thời gian nhất định nhằm đảm
bảo khả năng chủ động về tài chính khi thực hiện sản xuất, kinh doanh dịch
vụ và đời sống.
- Cho vay thong qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng:
Ngân hàng chấp thuận cho khách hàng được sử dụng vốn vay trong
phạm vi hạn mức tín dụng thẻ thanh toán tiền mua hàng hóa dịch vụ và rút
tiền mặt tại máy rút tiền tự động hoặc các điểm ứng tiền mặt là đại lý của
chính ngân hàng.
Khi cho vay thông qua phát hành thẻ tín dụng, ngân hàng và khách hàng
phải tuân theo các quy định của Chính phủ, Ngân hàng nhà nước về phát hành
va sử dụng thẻ tín dụng.
- Các phương thức cho vay khác:
Ngân hàng có thể áp dụng các phương thức cho vay khác mà pháp luật
không cấm, phù hợp với Quy chế này và điều kiện kinh doanh cụ thể của mỗi
ngân hàng và đặc điểm của khách hàng vay.
Căn cứ theo hình thức đảm bảo tiền vay
- Cho vay có bảo đảm bằng tài sản:
Cho vay có tài sản đảm bảo là việc cho vay vốn của tổ chức tín dụng mà
theo đó nghĩa vụ trả nợ của khách hàng vay được cam kết bảo đảm thực hiện
bằng tài sản cầm cố, thế chấp, tài sản hình thành từ vốn vay của khách hàng
vay hoặc bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba. Trong trường hợp này tài sản
Triệu Mai Anh-Lớp Ngân hàng 45B
11
Trường ĐH Kinh tế quốc dân Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
bảo đảm tiền vay là tài sản của khách hàng vay, của bên bảo lãnh để đảm bảo
nghĩa vụ trả nợ, bao gồm tài sản thuộc quyền sở hữu, giá trị quyền sử dụng
đất của khách hàng vay, của bên bảo lãnh; tài sản thuộc quyền quản lý, sử
dụng của khách hàng vay, của bên bảo lãnh là doanh nghiệp nhà nước, tài sản
hình thành từ vốn vay.
khách hàng này thương có nhu cầu vốn với số lượng lớn, và có thể là rất lớn.
Tuy nhiên số lượng khách hàng loại này của mỗi NHTM thường không lớn,
vì vậy các NHTM cần đặc biệt chú ý quan tâm đến từng khách hàng cụ thể, từ
đó xây dựng tôt mối quan hệ tín dụng lâu dài, đồng thời mở rộng mối quan hệ
với khách hàng mới.
- Cho vay khách hàng cá nhân:
Nhóm đối tượng còn lại là các khách hàng cá nhân (bao gồm cá nhân, hộ
gia đình, chủ trang trại, tổ hợp tác…) được các NHTM áp dụng phương thức
cho vay theo quy trình thủ tục của cho vay khách hàng cá nhân. Nhóm đối
tượng này có số lượng rất lớn và có nhu cầu vay các khoản nhỏ lẻ, tuy nhiên
đây là nhóm khách hàng khá nhạy cảm nên các NHTM cần có phương thức
tiếp cận cũng như quản lý hợp lý mới có thể khai thác tốt mảng khách hàng
này.
Tuy nhiên tùy vào mỗi mục đích quản lý khác nhau mà mỗi ngân hàng
có thể phân loại các khoản cho vay theo các tiêu thức khác nhau phù hợp với
mục đích đó. Trên thực tế việc kết hợp nhiều tiêu thức với nhau thường được
các ngân hàng sử dụng.
Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn:
- Cho vay theo dự án:
Triệu Mai Anh-Lớp Ngân hàng 45B
13
Trường ĐH Kinh tế quốc dân Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Khi khách hàng có kế hoạch mua sắm, xây dựng tài sản cố định… nhằm
thực hiện dự án nhất định, có thể xin vay ngân hàng. Một tring những yêu cầu
của ngân hàng là người vay phải xây dựng dự án, thể hiện mục đích, kế hoạch
đầu tư cũng như quá trình thực hiện dự án (sản xuất kinh doanh). Phân tích và
thẩm định dự án là cơ sở để ngân hàng quyết định phần vốn vay và xác định
khả năng hoàn trả của doanh nghiệp.
- Cho vay tiêu dùng:
Cho vay tiêu dùng được bắt đầu từ các hãng bán lẻ do yêu cầu đẩy mạnh tiêu
Thứ hai, do cán bộ ngân hàng bất cập về trình độ, quản lý yếu kém hoặc
vi phạm đạo đức trong kinh doanh dẫn đến cho vay khống, cho vay không
đúng mục đích, thẩm định dự án đầu tự, phương thức kinh doanh không chính
xác.
Thứ ba, do thiếu thông tin về khách hàng nên ngân hàng đã cho vay
những khách hàng kinh doanh kém hiệu quả, nên việc thu nợ gặp khó khăn,
đến hạn khách hàng không trả được nợ cho ngân hàng. Hoặc có thể do ngân
hàng quá chú trọng về lợi tức, đặt kỳ vọng về lợi tức cao hơn khoản cho vay
lành mạnh.
Thứ tư, do các thay đổi bất thường trên thị trường vượt quá khả năng
phán đoán của ngân hàng như thay đổi lãi suất và tỷ giá, khủng hoảng nợ dây
truyền, những thay đổi trong quyết định của Chính phủ.
Ngân hàng không kinh doanh, cho vay theo hình thức rủi ro mạo hiểm,
bởi nếu làm như vậy thì ngân hàng phải trả cho những người gửi tiền một lãi
suất cao hơn rất nhiều do những rủi ro mà ngân hàng gặp phải. Trong khi đó,
nguyên nhân gây ra rủi ro hoạt động cho vay xuất phát từ: môi trường, khách
hàng và cả bản thân ngân hàng, vì vậy, mỗi ngân hàng, khi giải quyết cho
khách hàng vay cần phải có những biện pháp và dịch vụ cụ thể nhằm giúp cho
Triệu Mai Anh-Lớp Ngân hàng 45B
15
Trường ĐH Kinh tế quốc dân Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
việc thu nợ của mình thuận lợi hơn. Có câu ngạn ngữ cổ cho rằng “Bất kỳ một
thằng ngốc nào cũng có thể cho vay tiền nhưng để thu được nợ thị lại cần một
cái đầu thông minh”.
1.1.2. Thu nợ:
Ngân hàng là tổ chức trung gian đi vay để cho vay. Tiền đi vay qua dân
cư, qua các tổ chức tín dụng khác, qua NHNN… đều phải trả lãi. Đó là chi
phí khi ngân hàng sử dụng vốn của các chủ thể trong nền kinh tế. Vì hoạt
động của ngân hàng là đi vay để cho vay nên vốn của nó phải được bảo tồn và
phát triển. Khi các chủ thể trong nền kinh tế sử dụng vốn của ngân hàng thì họ
thanh toán được nợ cho ngân hàng vì nguyên nhân bất khả kháng nhưng vẫn
còn khả năng sản xuất hay phương án kinh doanh có hiệu quả để khắc phục
thì cán bộ tín dụng nên đề nghị xem xét cho gia hạn nợ hoặc có thể cho vay
vốn tiếp để tăng cường sức mạnh tài chính cho khách hàng để họ khôi phục
sản xuất và ngân hàng phải giám sát chặt chẽ những khách hàng này cho đến
khi thu hối được nợ. Nếu thấy không có khả năng thu hồi nợ thì sẽ tiến hành
thủ tục khởi kiện để phát mãi tài sản thế chấp để thu nợ giúp ngân hàng bảo
toàn nguồn vốn hoạt động.
1.2.Dịch vụ hỗ trợ sau cho vay của ngân hàng thương mại:
Ngân hàng là loại hình tổ chức chuyên nghiệp trong lĩnh vực tạo lập và
cung cấp các dịch vụ quản lý quĩ cho công chúng, đồng thời nó cũng thực
hiện nhiều vai trò khác nhau đối với nền kinh tế. Thành công của ngân hàng
phụ thuộc vào năng lực xác định các dịch vụ tài chính mà xã hội có nhu cầu,
thực hiện các dịch vụ đó một cách có hiệu quả và bán chúng tại một mức giá
cạnh tranh. Kinh tế càng phát triển, các dịch vụ tài chính ngân hàng thương
Triệu Mai Anh-Lớp Ngân hàng 45B
17
Trường ĐH Kinh tế quốc dân Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
mại cung cấp càng đa dạng. Cùng với các dịch vụ ngân hàng truyền thống
như: thực hiện trao đổi ngoại tệ. chiết khấu thương phiếu và cho vay thương
mại, nhận tiền gửi, bảo quản vật có giá, tài trợ các hoạt động chính phủ, cung
cấp các tài khoản giao dịch, cung cấp dịch vụ ủy thác… thì gần đây các dịch
vụ ngân hàng mới phát triển cũng ngày càng nhiều, liên quan tới công tác tư
vấn về mặt chuyên môn của các ngành khác nhau: tư vấn tài chính, cung cấp
các dịch vụ môi giới đầu tư chứng khoán, lưu ký chứng khoán, các dịch vụ
tiện ích…
1.2.1 Dịch vụ hỗ trợ sau cho vay
Ngoài các loại hình dịch vụ trên, gần đây, các ngân hàng đang tổ chức,
nâng cao dịch vụ hỗ trợ khách hàng sau cho vay nhằm đạt hiệu quả cao trong
việc thu nợ. Loại hình này được áp dụng với các khách hàng sau khi hồ sơ
triển nguồn nhân lực… Nhưng các dịch vụ mà ngân hàng cung cấp thường chỉ
giới hạn trong một số lĩnh vực có liên quan trực tiếp đến hoạt động của ngân
hàng, chủ yếu bao gồm
• Dịch vụ cung cấp thông tin về thị trường
Các hoạt động kinh tế trên thị trường hiện nay rất phức tạp và luôn biến
động. Đó là nguyên nhân chính gây khó khăn cho các nhà quản lý trong việc
thu thập các thồng tin cần thiết và rút ra các kết luận.
Bên cạnh đó, các NHTM trong các hoạt động đầu tư, cho vay có thể tổng
hợp được nhiều thông tin liên quan đến các ngành, nền kinh tế. Chính vì vậy,
ngân hàng có thể tổ chức việc chọn lọc và cung cấp cho khách hàng những
thông tin về môi trường kinh doanh trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội, chính trị,
pháp luật, đạo đức và kỹ thuật công nghệ… Để nhận được các thông tin đó,
khách hàng cần phải trả một số tiền nhất định cho ngân hàng. Ngoài ra, việc
cung cấp các dịch vụ thông tin đã làm tăng đáng kể số lượng khách hàng của
ngân hàng, bởi vì nó tạo ra sự thuận tiện hơn đối với khách hàng khi họ nhận
Triệu Mai Anh-Lớp Ngân hàng 45B
19
Trường ĐH Kinh tế quốc dân Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
thông tin và thực hiện giao dịch ngay tại ngân hàng mà không phải đi đâu.
Các dịch vụ về thông tin hỗ trợ bao gồm: phân tích hệ thống thông tin
hiện tại, xác định các thông tin cần thiết cho quản lý chiến lược và kiểm tra
tác nghiệp, lựa chọn và đưa vào công nghệ xử lý thông tin khách hàng... Mục
đích là đảm bảo cho khách hàng không bỏ qua những thông tin cần thiết cho
các quyết định chiến lược cũng như tác nghiệp, đồng thời tránh việc thu thập
và xây dựng các thông tin mà khách hàng không trực tiếp sử dụng. Trong quá
trình này, vấn đề quan trọng là ngân hàng phải giúp đỡ khách hàng dự đoán
trước những điều kiện bất lợi từ thị trường sẽ có thể ảnh hưởng quan trọng tới
các hoạt động của khách hàng và giúp khách hàng phát huy năng lực nội bộ,
thay đổi chiến lược cho thích hợp với các cơ hội và hạn chế mới. Việc dự
đoán về thay đổi thị trường trong tương lai có thể tạo ra những cơ hội mới cho
năng thanh toán, hoạt động đầu tư, cơ cấu vốn và doanh lợi,… ngân hàng sẽ
cung cấp dịch vụ hỗ trợ tập trung vào tất cả các lĩnh vực: Phân tích tài chính;
thực hiện các dịch vụ hỗ trợ các doanh nghiệp trong việc giám sát và quản trị
tài chính công ty; tư vấn tái cơ cấu tài chính doanh nghiệp; hỗ trợ các
hoạt động quản trị cho các doanh nghiệp cổ phần hóa, tư vấn trong quản lý
tiền mặt,….
Tư vấn trong quản lý tiền mặt
Ngân hàng có thể trợ giúp các doanh nghiệp trong việc xây dựng một
chương trình quản lý ngân quỹ với mục đích sử dụng tiền mặt một cách hiệu
quả nhất nhưng vẫn đảm bảo khả năng thanh toán. Các biện pháp đưa ra bao
gồm việc lập kế hoạch thu chi và sử dụng các công cụ của thị trường tiền tệ.
Bằng việc phân tích tính quy luật và mức độ của các khoản thu chi trong
báo cáo lưu chuyển tiền tệ, trên cơ sở kế hoạch kinh doanh của doanh nghiệp
trong tương lai, ngân hàng tư vấn cho khách hàng lập ra kế hoạch thu chi tiền
tệ. Nó phản ánh mức độ chắc chắn về số lượng các luồng tiền trong tương lai
Triệu Mai Anh-Lớp Ngân hàng 45B
21
Trường ĐH Kinh tế quốc dân Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
vào những thời gian nhất định. Thông qua đó, ngân hàng có thể giúp doanh
nghiệp cân đối ngân quỹ hiệu quả dựa vào việc sử dụng các công cụ của thị
trường tiền tệ.
Tư vấn trong việc xác định một cơ cấu vốn hiệu quả
Cơ cấu vốn của một doanh nghiệp ảnh hưởng đến các quyết định tài
chính dài hạn cũng như các chi phí vốn của doanh nghiệp. Nhà tư vấn có thể
giúp khách hàng xem xét đánh giá cơ cấu vốn hiện hành gắn với những điều
kiện thị trường và các dòng tiền mặt chu chuyển trong tương lai. Trên cơ sở
đó đưa ra các quyết định về việc có nên huy động vốn bổ sung hay không,
huy động vốn dưới hình thức nào và những điều kiện cần thiết liên quan đến
việc bổ sung thêm vốn…
Nhà tư vấn giúp khách hàng sắp xếp một cơ cấu vốn hợp lý, lập kế hoạch
ứng với sự sụt giá ngoại tệ (có thể dẫn đến việc giảm lượng hàng
bán ra).
- Đánh giá những hoạt động có khả năng xảy ra rủi ro, trên cơ sở các
dự đoán tốt nhất liên quan đến sự biến động tỷ giá, xác định mức thiệt hại mà
các doanh nghiệp phải gánh chịu.
- Đưa ra quyết định quản lý rủi ro hối đoái.
Trên cơ sở các dự đoán về thị trường hối đoái, nhà tư vấn khuyến khích
khách hàng của mình giữ nguyên tình trạng hối đoái hoặc đưa ra các biện
pháp chống rủi ro thông qua việc so sánh giữa thiệt hại và chi phí bảo hiểm
theo dự án.
Việc phòng chống rủi ro có thể xảy ra thường được thực hiện bằng các
biện pháp tài chính: sử dụng thị trường có kỳ hạn, quyền lựa chọn ngoại tệ
hoặc sử dụng thị trường tiền tệ nước ngoài. Với các công ty có điều kiện có
thể áp dụng các biện pháp tác nghiệp, tiến hành một hoạt động mua bán đối
ứng. Một công ty bán hàng ra nước ngoài có thể mua nguyên nhiên vật liệu
Triệu Mai Anh-Lớp Ngân hàng 45B
23
Trường ĐH Kinh tế quốc dân Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
hoặc hàng hóa tại nước đó. Một số công ty đa quốc gia có thể loại trừ rủi ro
bằng việc thúc đấy nhanh một số khoản thanh toán hoặc trì hoãn một số
khoản khác để lợi dụng sự biến động tỷ giá theo dự đoán.
Ngoài ra, ngân hàng còn cung cấp các dịch vụ tư vấn/ hỗ trợ cho các tổ
chức song/đa phương thông qua việc xác định và cung cấp các chuyên gia tư
vấn chuyên nghiệp cho các dự án phát triển như các dự án phát triển nông
thôn, xoá đói, giảm nghèo.vv... Cung cấp các dịch vụ tư vấn cho các tổ
chức/nhà tài trợ quốc tế trong việc xác định đối tác, chuẩn bị kế hoạch hoạt
động, tổ chức hội thảo, triển khai các dự án trợ giúp kỹ thuật .vv...
Ngoài ra, ngân hàng còn cung cấp các dịch vụ tư vấn/ hỗ trợ cho các tổ
chức song/đa phương thông qua việc xác định và cung cấp các chuyên gia tư
vấn chuyên nghiệp cho các dự án phát triển như các dự án phát triển nông
Ở các ngân hàng thường có các chuyên gia với trình độ chuyên môn cao
rất thuận lợi trong việc phát triển tổng hợp các dịch vụ kiểm toán đối với các
khách hàng của mình. Ở phương tây, các công ty thường sẵn sàng yêu cầu
ngân hàng về các dịch vụ này. Ngay trong điều kiện của chúng ta, khi kiểm
toán trong thực tế còn chưa phát triển thì các ngân hàng cũng đã có thể cạnh
tranh gay gắt với các công ty kiểm toán vừa mới thành lập.
Việc ngân hàng thực hiện chức năng kiểm toán còn có một mặt tốt nữa:
khi kiểm tra hoạt động của khách hàng thường xuyên của mình (theo yêu cầu
của khách hàng), ngân hàng có khả năng hiểu sâu sắc hơn về các đặc điểm
hoạt động của khách hàng, rút ra kết luận về độ tin cậy của khách hàng đó
như là một người vay vốn..
• Các loại hình dịch vụ hỗ trợ khác:
Ngoài các dịch vụ kể trên, các ngân hàng có thể thực hiện các nghiệp vụ
trung gian liên quan tới dự trữ vật tư, hàng hóa và thiết bị, việc ký kết hợp
đồng buôn bán và các hợp đồng khác giữa các khách hàng của Ngân hàng.
Triệu Mai Anh-Lớp Ngân hàng 45B
25