Sáng kiến kinh nghiệm
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
PHƯƠNG PHÁP DẠY TẠO LẬP VĂN BẢN
CHO HỌC SINH T.H.C.S
I- ĐẶT VẤN ĐỀ
Từ ngàn xưa ông cha ta đã có những câu thành ngữ, tục ngữ rất hay như:
“Trước khi nói uốn lưỡi bảy lần”
“Nói ra đầu ra đũa”
“Nói có sách, mách có chứng”
Để khuyên ta trong giao tiếp nên cân nhắc, nói rõ ràng, có căn cứ. Đó là một
cách ngẫu nhiên ông cha ta đã dạy ta tạo lập văn bản bằng ngôn ngữ nói qua
chuyện trò trong sinh hoạt sao cho đạt hiệu quả cao nhất. Còn ngày nay khi
mà nền kinh tế tri thức ngày càng phát triển thì không chỉ dừng lại ở ngôn
ngữ nói như ông cha ta đã dạy mà ta còn phải biết dùng ngôn ngữ văn bản để
trình bày một câu chuyện, một vấn đề nào đó theo suy nghĩ, quan điểm, lập
trường của mình đểà thuyết phục người đọc, người nghe đồng tình với mình,
dần dần dẫn đến sự thành đạt trên từng chặng đường của cuộc đời một con
người. Là một giáo viên Ngữ văn, ta phải làm thế nào để học sinh làm được
điều đó trong chặng đường học bậc THCS?
Tôi xin mạn phép lần lượt trình bày cách thức làm được điều đó qua
“Phương pháp dạy tạo lập văn bản”cho học sinh THCS mà tôi đã thực hiện
trong hai năm nay.Khiêm nhường mà nói thì hiệu quả cũng khả quan .
Trang 1
Sáng kiến kinh nghiệm
II-GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
A/ VỊ TRÍ, TÍNH CHẤT, YÊU CẦU CỦA PHÂN MÔN TẬP
LÀM VĂN
1/ Vị trí, tính chất
Mỗi bài tập làm văn đối với HS là một tác phảm nhỏ. Qúa trình xây
dựng tác phảm nhỏ là quá trình học sinh sáng tạo cái đẹp .
Bên cạnh việc giáo dục tư tưởng, tình cảm, thẩm mĩ như đã nêu . Tập
làm văn còn có khả năng phát triển tư duy cho học sinh : Mỗi lần làm bài tập
làm văn học sinh phải huy động năng lực quan sát, so sánh, phân tích, tổng
hợp…Và qua nhiều bài tập làm văn, các thao tác tư duy cơ bản đó dần dần sẽ
được hình thành.
2/ Yêu cầu:
Yêu cầu chủ yếu là luyện tập cho HS nắm được và viết được các bài
văn theo các thể loại. Ngoài ra chương trình còn coi trọng việc tập luyện cho
HS biết sử dụng một số loại văn - công cụ cần thiết trong đời sống hàng
ngày.
Việc rèn luyện kĩ năng được coi là trọng tâm của chương trình tập
làm văn ở cấp II, chú trọng cân đối cả hai khả năng nói và viết, lập ý và diễn
đạt, cân đối bài tập viết, bài tập nói ngắn trong một tiết và tập viết hoàn chỉnh
một văn bản trong hai tiết. Việc rèn luyện kĩ năng phải đạt được kết quả vững
chắc, đồng thời phát huy được khả năng sáng tạo của từng cá nhân, tránh lối
dạy rập khuôn, công thức máy móc nhất nhất theo SGK.
Trang 3
Sáng kiến kinh nghiệm
3/ Quan hệ giữa Tập làm văn với các phân môn Văn học và
Tiếng Việt .
Làm văn là vận dụng kết quả tổng hợp của việc học tập các môn
Văn-Tiếng để sáng tạo ra văn bản. Những bài văn được học trong môn Ngữ
văn cung cấp cho HS vốn sống một cách gián tiếp, nâng cao năng lực cảm thụ
cái đẹp trong cuộc sống cho các em, đồng thời tạo cơ sở cho các em tập xác
định chủ đề của một bài văn – phát hiện ra cách sắp xếp ý phục vụ cho từng
loại văn khác nhau. Các giờ học Văn học còn giúp cho HS biết cách diễn đạt
khi làm văn.
- Môn Tiếng Việt cũng thông qua khâu thực hành của bộ môn mà
đến các yếu tố nghị luận sẽ học ở lớp 9.
a3/ Nội dung và hình thức của văn bản gắn bó chặt chẽ với nhau,
qui định lẫn nhau. Điều ấy được cảm nhận khác nhau giữa người tạo và người
tiếp nhận văn bản. Đối với người tạo văn bản thì nội dung tìm đến một hình
thức phù hợp nhất để biểu đạt. Ngược lại người tiếp nhận văn bản lại phải từ
hình thức cụ thể của văn bản mà tìm đến nội dung được biểu đạt.Vì vậy khi
dạy văn bản phải xuất phát từ nội dung rồi yêu cầu HS biểu đạt. Có nhiều yêu
cầu khác nhau trong việc tạo văn bản, từ trong nhà trường đến thực tế đời
sống, từ thấp đến cao đối với HS như từ trả lời câu hỏi, kiểm tra miệng , đến
viết 15 phút, rồi làm bài tập làm văn từ một đến hai tiết; hoặc viết báo tường,
viết nhật kí, làm kiểm điểm, viết biên bản, làm đơn, làm báo cáo, làm thơ,
viết thư…
Trong khâu dạy lí thuyết tạo văn bản, GV nên dồn sức vào việc
hướng dẫn tỉ mỉ cho HS ở hai khâu: Định hướng cho văn bản và lập đề
cương.Trong hai khâu ấy, yêu cầu quan trọng nhất cần chú ý là phải luôn
bám sát đề.
Trang 5
Sáng kiến kinh nghiệm
Tiêu chuẩn đánh giá đề cương và một văn bản hoàn chỉnh thực ra
là không có sự phân biệt giữa đúng và không đúng, giữa hay và không
hay.Tiêu chuẩn đúng tức là sát đề, giải quyết đúng, đủ các yêu cầu của đề.Đó
vẫn là tiêu chuẩn chung khi GV đánh giá bài làm của HS. Đối với bậc học
THCS tiêu chuẩn hay và không hay chỉ là tiêu chuẩn nâng cao. Nếu quá chú
ý đến tiêu chuẩn hay thì sẽ thất vọng vì rất ít học sinh THCS có thể viết hay
được một văn bản. Tuy nhiên tiêu chuẩn đánh giá hay và không hay cũng vẫn
có tác dụng khuyến khích HS, cho nên GV cần lạc quan vận dụng linh hoạt
tạo đà cho HS cố gắng, cho HS thể hiện.
*DẠY THỰC HÀNH
Sau khi học lí thuyết về văn bản, HS sẽ thực hành tạo lập văn
bản.Ngay từ lớp 1, mỗi bài tập viết một câu hoàn chỉnh, theo tôi đã là một bài
-Bài tập sửa chữa một văn bản bán thành phẩm thành một văn bản
hoàn chỉnh có thể là: viết thêm đầu đề, thay từ sửa câu, tách nhập đoạn, liên
kết đoạn, chuyển vị trí câu…Và sẽ dễ dàng hơn khi cho HS khôi phục lại
nguyên trạng một văn bản đãõ bị phá vỡ vì cắt xén hoặc xáo trộn các câu, các
đoạn trong đó. Theo tôi nên cho HS làm nhiều bài tập khôi phục như thế, thao
tác tái tạo sẽ có định hướng và đáp án rõ ràng, khả thi nhất, thuyết phục nhất.
Đây là một văn bản tôi đã cố ý xáo trộn các đoạn (trong đó mỗi đoạn
được kí hiệu bằng thứ tự các chữ số La Mã )và các câu trong đoạn (từng câu
được kí hiệu bằng thứ tự các chữ số tự nhiên) để HS khôi phục lại , từng bước
rèn HS có ý thức, có thói quen sắp xếp ý hợp lí, diễn đạt ý sáng rõ, mạch lạc .
Văn bản xáo trộn đó, tôi viết vào giấy rô-ki dán lên bảng. Văn bản đó
như sau:
[I]Hai em bé gái phải đi ngang đường tàu mới về được nhà (1). Tưởng
tàu hỏa còn xa , chúng băng ngang qua đường ray (2). Không ngờ tàu hỏa
xuất hiện (3). Tàu hỏa đã đến quá gần(4). Em gái lớn nhảy lùi lại, còn em nhỏ
đánh đổ giỏ nấm, cúi xuống nhặt(5). Em lớn kêu lên:
-Bỏ hết nấm, chạy đi !
Trang 7
Sáng kiến kinh nghiệm
[II]Nhưng em nhỏ không nghe thấy vẫn tiếp tục nhặt nấm(1). Em lớn
gào khóc sướt mướt(2). Người lái tàu không thể dừng lại được và tàu chẹt em
gái nhỏ(3). Hành khách đổ xô đến cửa sổ các toa tàu(4). Khi tàu chạy qua,
người ta thấy em gái nhỏ nằm bất động giữa các thanh ray, mặt úp xuống(5).
[III]Một lúc sau, em gái nhỏ nhổm dậy, đứng lên, nhặt hết nấm cho vào
giỏ và chạy đến chỗ chị.
[IV]Bấy giờ hai em mới trở về nhà, mang theo một giỏ đầy nấm vừa
hái trong rừng.
Sau đó GV yêu cầu HS đọc, suy nghĩ rồi hướng dẫn các em chữa từng
bước như sau:
[III] Một lát sau, em gái nhỏ nhổm dậy, đứng lên, nhặt hết nấm cho vào
giỏ và chạy đến chỗ chị.
Lep Tôn-xtôi
(Truyện cho trẻ em)
Bước 5: So sánh văn bản nguyên bản với văn bản bị xáo trộn
Khi trình bày đáp án văn bản đã sửa chữa(văn bản nguyên bản) trên
bảng ï, GV nên dán văn bản bị xáo trộn song song với nó để HS dễ nhận ra
cái sai , cái đúng; cái hay, cái chưa hay. Kĩ xảo thủ công của một GV khéo
tay có thể biến cái bảng phụ (tờ giấy rô-ki) thành cái màn hình phóng đại của
máy vi tính, trên đó các thao tác sửa chữa, sắp xếp, tách nhập đoạn được thực
hiện rõ ràng, sinh động, hấp dẫn để cuối cùng HS thấy được một văn bản
hoàn chỉnh, hoàn thiện mà chính mình có một phần công sức tạo ra .
-Còn viết một văn bản hoàn chỉnh thực ra là một loại bài tập đã rất
quen thuộc với HS. Đó là những bài tập làm văn với các kiểu loại khác nhau
trải dài từ lớp 6 đến lớp 9: từ miêu tả , tự sự, phát biểu cảm nghĩ, thuyết minh,
Trang 9
Sáng kiến kinh nghiệm
hành chính công vụ đến nghị luận. Đối với một văn bản hoàn chỉnh phải tạo
lập thì yêu cầu HS phải thực hiện được hai bước chủ yếu không thể thiếu: Đó
là lập đề cương và viết hoàn chỉnh.
Việc lập đề cương và viết theo đề cương đã lập là một yêu cầu quan
trọng, GV cương quyết phải rèn được cho HS. Thực tế dạy học, tôi thấy HS
thường không lập được đề cương hoặc có lập thì cũng lập cho có rồi khi viết
thì chẳng chú ý gì đến nó, hoàn toàn viết ‘BUÔNG’!Nghĩa là nghĩ đến đâu
viết đến đấy không theo một trình tự, qui tắc nào cả!
Qúa trình tiến hành hai bước này như sau: Có thể yêu cầu HS hoàn
thành đề cương ở lớp rồi về nhà viết văn bản hoàn chỉnh. Nếu cho HS viết
văn bản hoàn chỉnh ở nhà thì có thể yêu cầu HS nộp cả đề cương. Trong
trường hợp này, HS có thể làm ngược lại qui trình: viết văn bản trước rồi dựa
giường xuống và kêu lên: “Viết như thế này thì mình cũng viết được”. Qủa
thực, sau đó, Người đã phỏng theo cách viết trong sáng, giản dị của Tôn-xtôi
để viết một số bài văn, truyện ngắn có nội dung đấu tranh yêu nước và cách
mạng. Kể lại chuyện này, Người hài hước tự nhận xét mình về ngày ấy:
“Như người ta nói : Điếc không sợ súng”. Tuy vậy, rõ ràng là tác phẩm của
đại văn hào Nga đã gây cảm hứng mạnh mẽ, làm cho Bác tự tin và phấn chấn
để viết các bài văn của mình.
Học sinh chúng ta cũng vậy, muốn có cảm hứng để viết văn, cần phải đọc
các bài văn của các nhà văn, rồi tự đối chiếu, tự suy nghĩ xem trong chừng
mực nào mình có thể viết được những điều tương tự như nhà văn đã viết. Ai
cũng đã sống qua thời thơ ấu của mình, ít nhiều cũng có những kỉ niệm vui
buồn đáng kể lại, đáng viết ra. Khi đọc một đoạn hồi kí của Tô Hoài hay một
bài phê bình của Nguyễn Đình Thi, mỗi HS có thể như Bác Hồ lúc còn nhỏ
đối với Lep Tôn-xtôi “Điếc không sợ súng”, có thể hào hứng và tự tin thốt lên
: “Viết như thế này thì mình cũng viết được”. Dĩ nhiên còn lâu ta và HS ta
mới được như nhà văn và cũng có thể chẳng bao giờ được thế, song cái tâm
trạng phấn chấn, hứng khởi như vậy chính là cảm hứng của HS đang được
khơi nguồn, HS sẽ cảm thấy viết văn là viết những điều có sẵn trong chính
Trang 11
Sáng kiến kinh nghiệm
các em từ bao giờ, không phải là lặp lại những điều người khác đã nói, đã
viết, mà giải bày những điều tự mình cảm được, nghĩ được. Lúc bấy giờ cầm
bút viết văn là cả một niềm vui sướng lẫn với một sự phấn đấu để cho dòng
chữ, trang văn được hình thành. Như người điếc, người câm bẩm sinh vì họ
chưa bao giờ nghe cho nên họ không thể nào nói được, cho nên ai chưa hề
đọc văn thì không bao giờ có thể viết văn được. Những bài văn được học
trong lớp học, được học ngoài giờ học là những kích thích, khêu gợi đầu tiên
để từ chỗ thích đọc văn tiến tới chỗ thích viết văn. GV Ngữ văn chúng ta cần
chú ý điều này mà đầu tư , sáng tạo trong quá trình đọc, giảng bình, giới thiệu
những tác phẩm hay, đặc biệt những tác phẩm gần gũi với tâm sinh lý lứa tuổi
+Nếu viết về kỉ niệm thì đó nên là kỉ niệm gì ? Về một ngôi nhà mình đã
sống trong thời thơ ấu mà hiện nay đang ở xa chăng? Hay là một chuyến theo
mẹ ba về thăm nội, thăm ngoại ? Hoặc viết về một tình bạn đặc biệt thời thơ
dại đến bây giờ vẫn còn tưởng nhớ? Hay hình ảnh một thầy, cô giáo cũ đã
cách xa song vẫn còn nhiều tác động đối với tâm hồn mình hôm nay?
+ Nếu viết về một tác phẩm văn chương hay nghệ thuật thì đó là tác
phẩm nào? Bài thơ Quê hương của Giang Nam chăng? Hay về truyện ngắn
Chiếc lá cuối cùng của nhà văn Mĩ Ô-Hen-ri, hay truyện ngắn Lão Hạc của
Nam Cao, tiểu thuyết Tắt Đèn của Ngô Tất Tố, hay tác phẩm nào đó của một
nhà văn hiện đại đang được nhiều người ưa thích ? Hay là về một cuốn phim
vừa mới được xem?
Hiện nay học sinh THCS, đặc biệt là HS lớp 9 dù ở thành thị hay thôn
quê ngay cả vùng sâu, vùng xa có em nào mà không một lần xem một quyển
truyện hay xem một cuốn phim? Nếu HS vùng sâu, vùng xa chưa có dịp nào
thì GV văn nhất định phải tạo điều kiện để các em được một lần xem một
cuốn phim và đọc một quyển sách một cách nghiêm túc. Ít nhất là một truyện
ngắn trên một tờ báo hàng ngày, ở thư viện trường hoặc một tờ báo địa
phương nơi mình ở . Hoặc một cuốn phim ngắn có tác dụng giáo dục mà GV
đã ra công tìm kiếm, rồi tổ chức mở video cho các em xem vào một buổi
chiều nào đó.
Trang 13
Sáng kiến kinh nghiệm
Tóm lại, xác định chủ đề hiểu đơn giản nhất là xác định :Viết về cái gì?
Về vấn đề gì?
Xác định viết về cái gì , vấn đề gì xong rồi, lại phải giúp HS tìm cách
viết về cái đó, vấn đề đó như thế nào?
Trước hết phải tìm cách sắp xếp ý tứ, nội dungù. Nếu viết về một kỉ
niệm thì HS phải miêu tả và tự sự về kỉ niệm đó, sau đó nói cảm tưởng, suy
nghĩ của mình. Nếu viết về một tác phẩm thì trước hết phải giới thiệu và tóm
tắt tác phẩm đó, sau đó nói cảm tưởng, ý kiến.Trong cả hai hướng đề tài này,
mình?.
Từ trình tự đó, ta hướng dẫn HS triển khai, từng bước hoàn chỉnh một
văn bản.Và sản phẩm của một đề mở sẽ là một văn bản tư do và sáng tạo. Gọi
như vậy là vì nó được viết ra từ chính cảm xúc và suy nghĩ riêng của mỗi HS
và vì vậy không nhất thiết phải đồng loạt giống nhau về nội dung và hình
thức. Tuy vậy, với tính cách là một bài văn, nó cũng phải bao gồm các câu
văn kết lại thành các đoạn văn (đoạn mở bài, các đoạn tạo thành thân bài,
đoạn kết bài ), tất cả hợp thành một bài văn hoàn chỉnh mang một nội dung
nhất định trong một hình thức nhất định mà một GV Văn phải rèn luyện cho
HS mình làm được. Đó là chuẩn mực phải đạt được của một GV khi dạy HS
tạo lập văn bản ở bậc học THCS.
2/Kết luận:
Như con chim non tập bay theo chim mẹ, lúc ban đầu HS dang đôi cánh
tâm hồn và trí tuệ của mình theo sự hướng dẫn và qui định về đề tài, về nội
dung và về hình thức do thầy cô giáo nêu ra, nhưng dần dần HS phải tự mình
cất cánh bay lên theo phương hướng do chính mình lựa chọn. Một GV Văn có
trách nhiệm, có nhiệt huyết, có tâm hồn , có lí tưởng nhân văn chắc chắn sẽ
làm được điều đó, sẽ nâng đỡ, dìu dắt, khơi gợi hướng đi, bồi đắp kĩ năng kĩ
xảo để chim non sẽ bay xa, bay cao hơn cả chim mẹ, bay đến những chân trời
tự do và sáng tạo vô tận.
C/NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC
Trang 15
Sáng kiến kinh nghiệm
Qua hai năm thực hiện ,bản thân tôi đã thấy HS có nhiều tiến bộ .
HS đã tiến bộ rõ nét trong quá trình tạo lập văn bản, trong viết bài hoàn chỉnh.
Và các GV bộ môn khác cũng nhận ra HS đã biết viết câu, lập luận có cơ sở
trong lúc làm bài.
_Đầu năm học 2007-2008 trong 62 HS lớp 8 có: 46 HS- đa số dân tộc
thiểu số- chưa diễn đạt được ý mình bằng ngôn ngữ viết (mức đô thấp nhất
của tạo lập văn bản), do vốn từ quá nghèo nàn và khả năng chấm câu thì rất
thường.
4/ Phải gần gũi, hòa đồng với HS , hiểu HS, sẵn sàng chia sẻ kịp
thời, biết khích lệ khi HS có tiến bộ dù sự tiến bộ chỉ mới manh nha, còn phê
bình thì nên nhẹ nhàng, tế nhị…
III.KẾT THÚC VẤN ĐỀ
Với đà phát triển của xã hội về mọi mặt như hiện nay, với xu thế hội
nhập, với xu hướng nhìn ra thế giới và với “mong ước sánh vai với các
cường quốc năm châu” của các nước nghèo đang dần trở thành hiện thực thì
phương pháp dạy tạo lập văn bản cho học sinh THCS như trên, tuy đơn giản
nhưng mang tính truyền thống(kế thừa nền tảng của cái cũ) là cơ sở khơi
nguồn cảm hứng rất thiết thực và hữu hiệu cho HS. Thực hiện phương pháp
này, GV sẽ từng bước giúp các em thành đạt trong tương lai tuy chưa phải là
phương pháp tối ưu nhưng khả thi , chỉ cần GV thương quí HS, yêu nghề,
thêm một chút đam mê thì sẽ làm được, mọi khó khăn trở ngại sẽ được đẩy
lùi, mở ra con đường khởi đầu chông gai là điều không tránh khỏi nhưng chắc
Trang 17
Sáng kiến kinh nghiệm
chắn cái đích sẽ là thảm đỏ, vòng nguyệt quế của vinh quang. Thực hiện
phương pháp dạy tạo lập văn bản cho học sinh THCS sẽ nâng cao chất lượng
dạy và học không những môn Ngữ văn mà còn nâng cao chất lượng dạy và
học các môn học khác nữa. Như vậy có thể nói ý tưởng xây dựng phương
pháp dạy tạo lập văn bản cho HS của tôi sẽ góp phần đáp ứng tích cực mục
đích cuối cùng của mỗi GV, của Phòng, của Sở, của Bộ, của Ngành. Vậy tại
sao các bạn không sử dụng phương pháp tạo lập văn bản này-dạy thử nghiệm-
cho HS dù chỉ một lần nhỉ?
Mong quí đồng nghiệp nghiên cứu, áp dung, và đóng góp để phương
pháp dạy tạo lập văn bản cho học sinh THCS đã hiệu quả càng hiệu quả hơn,
không chỉ cho riêng tôi, cho HS trường tôi mà có thể được nhân rộng ra, nếu
tư tưởng lớn của các bạn gặp tư tưởng này của tôi.
Tôi xin chân thành cảm ơn!