TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
NGUYỄN THỊ DUNG
RÈN LUYỆN NĂNG LỰC TẠO LẬP
VĂN BẢN CHO HỌC SINH TRONG
DẠY HỌC BÀI:"THAO TÁC LẬP LUẬN
SO SÁNH "( SGK NGỮ VĂN LỚP 11).
TÓM TẮT KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phƣơng pháp dạy học Ngữ Văn
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
ThS. DƢƠNG THỊ MỸ HẰNG
HÀ NỘI, 2015
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình triển khai thực hiện đề tài: "Rèn luyện năng lực tạo lập văn bản
cho học sinh trong dạy học bài: "Thao tác lập luận so sánh (SGK Ngữ văn 11), em
thường xuyên nhận được sự giúp đỡ tận tình, tạo điều kiện của các thầy cô giáo
trong khoa Ngữ văn, các thầy cô trong tổ Phương pháp dạy học Ngữ văn, đặc biệt là
cô giáo hướng dẫn trực tiếp - Thạc sỹ Dương Thị Mỹ Hằng.
Em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc của mình tới cô giáo
Dương Thị Mỹ Hằng, người đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn em hoàn thành khoá
luận.
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong tổ Phương pháp dạy học Ngữ
văn, khoa Ngữ văn, Trường ĐHSP Hà Nội 2 đã tạo điều kiện thuận lợi cho em trong
quá trình học tập, nghiên cứu.
Hà Nội, ngày 20 tháng 4 năm 2015
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài ........................................................................................... 1
2. Lịch sử vấn đề ............................................................................................... 3
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ................................................................ 6
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu .................................................................... 7
5. Phương pháp nghiên cứu............................................................................... 7
6. Đóng góp của khóa luận ................................................................................ 8
NỘI DUNG ....................................................................................................... 9
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC RÈN LUYỆN NĂNG LỰC
TẠO LẬP VĂN BẢN CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC BÀI:
“THAO TÁC LẬP LUẬN SO SÁNH” (SGK NGỮ VĂN 11) ....................... 9
1.1. Năng lực ..................................................................................................... 9
1.1.1 Khái niệm năng lực .................................................................................. 9
1.1.2 Phân loại năng lực .................................................................................. 10
1.1.3 Cấu trúc năng lực ................................................................................... 14
1.2 Kỹ năng ..................................................................................................... 17
1.2.1 Khái niệm kỹ năng ................................................................................. 17
1.2.2 Quá trình hình thành kỹ năng ................................................................. 18
1.3 Khái niệm về thao tác ................................................................................ 18
1.4 Lập luận ..................................................................................................... 19
1.5 Thao tác lập luận ....................................................................................... 20
1.6 Văn nghị luận ............................................................................................ 20
1.6.1 Khái niệm văn bản nghị luận ................................................................. 20
1.6.2 Các thao tác trong văn nghị luận ............................................................ 22
1.7 Kết luận chương 1 ..................................................................................... 30
CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG VIỆC RÈN LUYỆN NĂNG LỰC TẠO
3.2.2 Bài tập vận dụng..................................................................................... 47
3.2.3 Bài tập sáng tạo ...................................................................................... 48
3.3 Kết luận chương 3 ..................................................................................... 52
KẾT LUẬN .................................................................................................... 54
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1 Mục tiêu của dạy học hiện nay là tạo ra những con người mới, phát triển
toàn diện, năng động, sáng tạo và thích ứng với mọi sự phát triển của khoa học; có
năng lực cần thiết để bước vào cuộc sống. Nghị quyết Trung ương 2 khóa VII ban
chấp hành Trung ương Đảng đã chỉ rõ nhiệm vụ và mục tiêu cơ bản của giáo dục là
xây dựng những con người có ý thức cộng đồng và phát huy tính tích cực của cá
nhân, làm chủ tri thức khoa học và công nghệ hiện đại, có tư duy sáng tạo, kỹ năng
giỏi, có tác phong công nghiệp, có tính tổ chức kỷ luật… Vì vậy, việc học không
đơn thuần là cung cấp kiến thức cơ bản cho học sinh mà qua đó giúp học sinh có
một hướng tiếp cận, phương pháp mới phù hợp với bản thân. Tránh hướng tiếp cận
thụ động, làm theo yêu cầu của GV mà học sinh mất đi năng lực tiếp nhận bài học
một cách khoa học và đúng đắn. Để rèn luyện năng lực tạo lập văn bản cho HS
trong dạy học bài: “ Thao tác lập luận so sánh” trong sách Ngữ Văn lớp 11 theo
hướng tiếp cận năng lực mới là nhằm góp phần thực hiện những mục tiêu giáo dục
đã đề ra.
1.2 Ngày nay, hòa cùng với sự phát triển của giáo dục và đào tạo trên thế
giới, công cuộc cải cách giáo dục ở nước ta đã được tiến hành thường xuyên phù
hợp và đạt được những tiến bộ đáng kể. Đặc biệt là Nghị Quyết số 29NQ/TW về:
“Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng nhu cầu công nghiệp hóa,
hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội
nhập quốc tế” đã được hội nghị TW8 (khóaXI) thông qua, đặc biệt chú trọng dạy
tiếp cận theo hướng năng lực mới thì cần đòi hỏi học sinh phải có năng lực xử lý
thông tin khéo léo, tránh vận dụng khô cứng, gượng ép. Mặt khác, người GV cần
tìm ra được những phương hướng cụ thể để phát huy được tính tích cực, năng lực
của HS. Đòi hỏi GV phải có năng lực chuyên môn, năng lực phương pháp, năng lực
xã hội, năng lực cá thể. Giáo viên không chỉ là người nắm chắc văn bản, kiến thức,
cần truyền thụ mà cần có khả năng định hướng, dẫn dắt học sinh giải quyết các vấn
đề trong thực tiễn. Đặc biệt, chú ý xây dựng câu hỏi định hướng cho học sinh chuẩn
bị bài, tránh phụ thuộc quá nhiều vào câu hỏi trong sách giáo khoa.
Từ yêu cầu cụ thể đó, SGK Ngữ Văn 11 (tập1) đã giới thiệu những kiến thức
2
cơ bản về thao tác lập luận so sánh. Tuy nhiên, từ việc nghiên cứu và tìm ra phương
hướng học mời là cần thiết, bởi qua đó ta có thể đưa ra những cách trang bị kiến
thức khoa học nhất giúp các em có thể lĩnh hội tốt bài học và vận dụng những kiến
thức vào làm bài tập để hình thành những năng lực nhất định.
Xuất phát từ nhu cầu bản thân, với tư cách sinh viên sư phạm Ngữ văn năm
cuối , chuẩn bị hành trang cho người GV tương lai tôi nhận thấy việc nghiên cứu về
một vấn đề phương pháp giảng dạy là rất cần thiết. Vì vậy, chúng tôi chọn đề tài:
“Rèn luyện năng lực tạo lập văn bản cho học sinh trong dạy học bài: "Thao tác
lập luận so sánh" (SGK Ngữ Văn 11)”. Tôi mong muốn, góp tiếng nói của mình
vào công cuộc giáo dục, nâng cao chất lượng dạy học.
2. Lịch sử vấn đề
Để có cơ sở khoa học cho việc rèn luyện năng lực tạo lập văn bản cho học
sinh trong dạy học bài: “Thao tác lập luận so sánh” (SGK Ngữ Văn 11), chúng tôi
tìm hiểu lịch sử nghiên cứu từ trước đến nay về vấn đề này.
Năng lực là yếu tố cần thiết trong bất kỳ hoạt động nào. Các nghiên cứu gần
đây đều chỉ rõ và nhấn mạnh vai trò của năng lực để thành công trong học tập. Dựa
vào năng lực chung cho đến các năng lực thành phần, nghiên cứu của tác giả
câu hỏi liệu mục đích kiểm tra ngôn ngữ giao tiếp có thực sự khả thi? Kiểm tra ngôn
ngữ giao tiếp nhằm mục đích cung cấp cho người kiểm tra những thông tin về năng
lực của người học trong việc thực hiện những nhiệm vụ cụ thể bằng ngôn ngữ đích.
Tác giả T.Lobanova và Yu. Shunin (2008) cho rằng, năng lực giao tiếp ngôn
ngữ bao gồm các khả năng và kỹ năng giao tiếp. Năng lực giao tiếp ngôn ngữ là cần
thiết để lựa chọn nội dung học tập, hiểu rõ hơn về những kiến thức cần học, về loại
kiến thức, kỹ năng, phẩm chất cần có cho những chuyên gia trẻ trong thế kỷ 21. Năng
lực giao tiếp ngôn ngữ là một hệ thống riêng đầy đủ về những chiến lược giao tiếp
bằng lời hoặc bằng cử chỉ giao văn hóa được quy định bởi khả năng giao tiếp bằng
ngôn ngữ, kiến thức chuyên môn, kỹ năng, kinh nghiệm có được, thái độ và những
đặc điểm riêng biệt của một cá nhân nhằm đạt được mục đích giao tiếp và hiểu nhau
trong các tình huống giao tiếp trực tiếp hoặc gián tiếp.Theo nhóm tác giả, năng lực
ngôn ngữ bao gồm: năng lực từ vựng, ngữ pháp, ngữ nghĩa, âm vị, chính tả.
Ngoài những vấn đề bàn về một phương pháp mới là phát triển dựa vào năng
4
lực thì còn có một số nhà nghiên cứu về cách thức tạo lập văn bản và về “Thao tác
lập luận so sánh” (SGK Ngữ văn 11). Cụ thể như:
Trong cuốn “Làm văn” (NXB Giáo dục, 1989) của các tác giả Đình Cao, Lê
A đã đưa ra một hệ thống khái niệm, đặc điểm của văn học thường gặp. Bên cạnh
đó, nhóm tác giả này còn nghiên cứu về cách thức tạo lập văn bản nói chung và
cách thức tạo lập văn bản nói riêng. Tuy nhiên, ở thời điểm nhóm tác giả nghiên
cứu thì văn nghị luận vẫn ở các kiểu bài: bình luận, phân tích, chứng minh,… Cho
nên, nghiên cứu đến từng thao tác lập luận vẫn còn chưa được làm rõ.
Bàn về so sánh, các tác giả Trần Đình Sử (chủ biên), Phan Trọng Luận,
Nguyễn Minh Thuyết trong cuốn “Làm văn 12” (NXB Giáo dục, 2004) coi so sánh
như một cách luận chứng bên cạnh những cách khác như diễn dịch, quy nạp, tổng phân - hợp, nêu phản đề, phân tích nhân - quả… và đã chia so sánh thành 2 dạng: so
sánh tương đồng và so sánh tương phản. Để chúng minh quan điểm trên các tác giả
- Đánh giá hiệu quả của việc vận dụng các tri thức đó vào dạy học theo
hướng tiếp cận năng lực về tạo lập văn bản.
4. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Xuất phát từ nội dung của đề tài, chúng tôi tập trung nghiên cứu việc rèn
luyện năng lực tạo lập văn bản cho học sinh trong dạy học bài: “Thao tác lập luận
so sánh" (SGK Ngữ Văn lớp 11).
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Trong phạm vi cho phép của đề tài chúng tôi tìm hiểu về những kiến thức
chung về thao tác lập luận so sánh theo hướng tiếp cận để rèn luyện năng lực tạo
lập văn bản cho HS. Và việc vận dụng kết hợp thao tác lập luận này với thao tác lập
luận khác (thao tác lập luận phân tích trong SGK Ngữ văn lớp 11). Trên cơ sở đã
định hướng nghiên cứu chúng tôi tiến hành tìm ra các phương hướng dạy học bài:
“Thao tác lập luận so sánh” trong SGK Ngữ Văn 11 theo hướng năng lực về tạo lập
văn bản.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để thực hiện nhiệm vụ mà đề tài đặt ra, chúng ta sử dụng các phương pháp:
- Phương pháp nghiên cứu lý luận để nghiên cứu tài liệu nhằm thu thập thông
tin dựa trên những cơ sở lý luận, hiểu được thành tựu và kết quả nghiên cứu của
những đề tài liên quan đến vấn đề chúng ta đang tìm hiểủ về rèn luyện năng lực tạo
lập văn bản cho HS trong dạy học bài: “Thao tác lập luận so sánh” (SGK Ngữ Văn
lớp 11).
7
- Phương pháp tổng hợp được dùng trong việc nghiên cứu rèn luyện năng lực
tạo lập văn bản cho HS nhằm nghiên cứu và thu thập thông tin về tài liệu cần thiết
để tổng hợp, khái quát những kiến thức có liên quan một cách, đúng đắn phù hợp
với vấn đề nghiên cứu.
“Năng lực là tổ hợp các thuộc tính độc đáo của cá nhân, phù hợp với yêu cầu của
một hoạt động nhất định, đảm bảo cho hoạt động đó có hiệu quả cao”[12]
Theo đó, năng lực bao gồm những thuộc tính tâm lý và sinh lý tuơng ứng với
những đòi hỏi của một hoạt động nhất định, trong một bối cảnh, tình huống nhất
định, chứ không phải tất cả những thuộc tính tâm lý, sinh lý của con người. Tuy
nhiên, năng lực không phải là sinh ra đã có, mà được hình thành và phát triển trong
quá trình hoạt động trong một bối cảnh cụ thể.
Ở góc độ giáo dục học: “Năng lực là một hệ thống các cấu trúc tinh thần bên
trong và khả năng huy động các kiến thức, kỹ năg nhận thức, kỹ năng thực hiện
thành công các hoạt động trong một bối cảnh cụ thể”. [22].
Như vậy ở góc độ này, năng lực là sự tích hợp và kết nối nhu cầu bên ngoài
(yêu cầu của bối cảnh, tình huống cụ thể) với các đặc điểm cá nhân (kiến thức, kỹ
năng nhận thức, kỹ năng thực hành và thái độ, cảm xúc, động cơ, giá trị, đạo đức)
để thực hiện thành công các nhiệm vụ thực tiễn. Và nhấn mạnh, các đặc điểm cá
nhân có thể được hình thành và phát triển thông qua quá trình giáo dục, hoạt động
và giao tiếp xã hội.
Năng lực theo “Từ điển Tiếng Việt” năng lực được hiểu theo:
1. Là khả năng hoặc điều kiện chủ quan, tự nhiên sẵn có để thực hiện một
loạt hoạt động nào đó: năng lực tư duy, năng lực tài chính,…
9
2. Phẩm chất sinh lý và trình độ chuyên môn tạo cho con người khả năng
hình thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao: năng lực lãnh đạo, năng
lực chuyên môn, năng lực sư phạm.. [11, 848].
Trong tâm lý học, năng lực là một vấn đề được quan tâm nghiên cứu nó có ý
nghĩa thực tiễn và lý luận to lớn bởi sự phát triển năng lực của mọi thành viên trong
xã hội sẽ đảm bảo cho mọi người tự do lựa chon nghề nghiệp phù hợp với khả năng
của cá nhân, làm cho hoạt động của cá nhân có kết quả cao hơn… và cảm thấy hạnh
thành và phát triển dựa trên bản năng di truyền của con người, quá trình giáo dục và
trải nghiệm cuộc sống; đáp ứng yêu cầu của nhiều loại hình, hoạt động khác nhau.
Các nhà giáo dục ở các nước (OECD) đề suất các tiêu chí xác định các năng
lực cốt lõi như sau:
- Phải cần thiết đối với tất cả mọi thành viên của xã hội.
- Phải tuân theo các giá trị văn hoá và kinh tế, đạo đức, tập quán, quy ước
của xã hội.
- Bối cảnh áp dụng không riêng cho các phong cách sống cá biệt, mà là
những tình huống phổ biến nhất mà người công dân sẽ gặp phải trong cuộc sống.
Năng lực này được hình thành và phát triển do nhiều môn học, liên quan đến
nhiều môn học khác (nhà trường, gia đình, các đoàn thể, xã hội). Vì thế có nước gọi
là năng lực xuyên CT (Cross-curricular competencies). Hội đồng Châu Âu gọi là
năng lực chính (key competence). Cũng cần lưu ý là khái niệm năng lực chính được
nhiều nước trong khối EU sử dụng với các thuật ngữ như sau:[22]
-
Năng lực nền tảng (soclesdecompétences)
-
Năng lực chủ yếu (essentialcompetencies)
-
Kỹ năng chính (keyskills)
-
Kỹ năng cốt lõi (coreskills)
Tự quản lý;
-
Giao tiếp;
-
Hợp tác;
-
Sử dụng công nghệ thông tin;
-
Sử dụng ngôn ngữ;
-
Tính toán.
Năng lực chung hết sức quan trọng, đó chính là kĩ năng tối thiểu mà một con
người có thể sống hòa đồng và phát triển trong một cộng đồng.
Năng lực chung trong bài: "Thao tác lập luận so sánh " bao gồm rất nhiều
năng lực khác nhau, nhưng quan trọng nhất đó là năng lực giao tiếp.
Trong quá trình tạo lập văn bản, người viết cần căn cứ vào mục đích giao
tiếp cụ thể để lựa chọn từ ngữ, dùng từ, đặt câu sao cho phù hợp với mục đích giao
tiếp hướng tới. Đối với mỗi văn bản, người tạo lập cần xác định rõ mình sẽ đạt được
tiếp. Hơn nữa, trình độ hiểu biết, khả năng sử dụng tiếng Việt của người tiếp nhận cũng
ảnh hưởng rất lớn tới chất lượng và hiệu quả của hoạt động giao tiếp.
Tóm lại, hoạt động tạo lập văn bản để giao tiếp bị chi phối bởi rất nhiều yếu
tố, nhân tố giao tiếp khác nhau. Các nhân tố đó không chỉ chi phối tới việc tạo lập
văn bản ở người nói/ người viết mà còn là căn cứ cho việc tiếp nhận văn bản ở
người nghe/ người đọc. Đây chính là tiền đề quan trọng giúp người GV xây dựng
những định hướng trong việc dạy Làm văn. Thông qua việc rèn luyện năng lực tạo
lập văn bản giúp cho HS phát huy năng lực giao tiếp của mình.
Hoạt động giao tiếp của con người được thực hiện nhờ nhiều phương tiện
khác nhau, nhưng quan trọng nhất đó là việc giao tiếp bằng ngôn ngữ - đây là
phương tiện cơ bản, ưu tú nhất. Chính vì vậy, mà việc dạy học để phát huy được
năng lực giao tiếp ở HS qua mỗi bài học có thể đạt hiệu quả cao.
1.1.2.2 Năng lực chuyên biệt
Khái niệm chung
Năng lực chuyên biệt là những năng lực được hình thành và phát triển trên
13
cơ sở các năng lực chung theo hướng chuyên sâu, riêng biệt trong các loại hình hoạt
động, công việc hoặc tình huống, môi trường đặc thù, cần thiết cho những hoạt
động chuyên biệt, đáp ứng yêu cầu cao và sâu hơn cho một môn học / hoạt động
nào đó. Vì thế CT Qúebec gọi là năng lực môn học cụ thể (Subject- specìic
competencíe) để phân biệt năng lực chuyên sâu và năng lực chung.
VD: Năng lực chuyên biệt của môn Toán là tính toán. Năng lực chuyên biệt
của môn Ngữ văn là tạo lập văn bản, lĩnh hội văn bản.
1.1.3 Cấu trúc năng lực
Nhà bác học Edisơn đã từng nói: “Thiên tài là 1% cảm hứng và 99% đổ mồ
hôi”. Thật đúng như vậy muốn hoàn thành bất cứ công việc gì để đạt được kết quả
cao rất cần đến sự nỗ lực phấn đấu của con người. Năng lực nói chung và năng lực
văn bản.
1.1.4.1 Năng lực tiếp nhận VB
NL tiếp nhận VB là khả năng nắm bắt đúng thông tin và giá trị của một VB.
Tức là HS phải trả lời được câu hỏi: VB nói về vấn đề gì? Vấn đề đó có ý nghĩa gì?
Nó được tác giả thể hiện bằng hình thức độc đáo nào? Ngoài ra NL tiếp nhận VB
còn được đánh giá ở khả năng biết cách tiếp nhận tức là biết phân tích, thưởng thức,
đánh giá cái hay, cái đẹp của VB một cách khoa học, hợp lí có sức thuyết phục. Để
hình thành và phát triển NL này, người HS cần phải được trang bị kiến thức, kĩ
năng văn học - văn hóa và phải luyện tập, thực hành.
Về kiến thức, để tiếp nhận tốt một VB, HS cần nắm vững hệ thống kiến thức
cơ bản gồm:
-
Kiến thức về tác phẩm văn học cụ thể;
-
Kiến thức về lí luận văn học (khái niệm công cụ để tìm hiểu văn
học);
-
Kiến thức văn học sử (các giai đoạn, trào lưu, tác gia,…);
-
Kiến thức văn hóa tổng hợp (hiểu biết về tiếng Viêt, kiến thức các
môn khoa học cơ bản, kiến thức đời sống).
Về kĩ năng, HS cần được rèn luyện để đạt được các yêu cầu sau: Phải đọc
kĩ lưỡng. Như vậy, NL tạo lập VB tuy là NL chuyên biệt đặc thù nhưng bao giờ
cũng có mối quan hệ tương hỗ chặt chẽ với NL chung, cốt lõi, như NL giao tiếp, NL
thuyết trình, NL hợp tác, NL phê phán,…
Hai loại năng lực chung và năng lực riêng biệt luôn bổ sung, hỗ trợ cho nhau.
Tóm lại theo quan điểm của người viết, năng lực chính là khả năng con
người có được để thực hiện một công việc nào đó. Năng lực bao gồm hai yếu tố đó
là kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp. Nguời có năng lực sẽ có cơ hội
và hoàn thành tốt mọi công việc.
16
1.2 Kỹ năng
1.2.1 Khái niệm kỹ năng
Theo các định nghĩa của các nhà nghiên cứu,A.G. Côvaliốp trong Tâm lí học
xã hội, NXBGD, 1976: “Kỹ năng là khả năng nắm được tri thức về hành động và
áp dụng hay lựa chọn phương thức để thực hiện hành động có kết quả”. Tác giả
Hoàng Hữu Bội - đề tài cấp bộ, mã số b96-03-07 đã kết luận: “Kỹ năng là một khái
niệm biểu thị năng lực sử dụng hệ thống những tri thức, những dữ liệu, những khái
niệm đã có để phát hiện những thuộc tính của các sự vật để giải quyết thành công
các nhiệm vụ lý luận hay thực tiễn nhất định. Đó là một quá trình thực thi một hệ
thống các hành động và thao tác mà con người có thể sử dụng trong điều kiện mới
đối với họ, là sự chỉnh hợp lý hoạt động của một chỉnh thể cá nhân dựa trên những
tri thức và kinh nghiệm vốn có của họ”.
→ "Kỹ năng" là một năng lực thực tiễn được kết tinh lại và "gửi" vào trong
đối tượng. Kỹ năng chỉ được hình thành khi chủ thể phát hiện ra sự logic vốn có
trong chính nó.
Nguồn gốc của kỹ năng chính là trong đối tượng, trong sự vật. Từ khi con
người phát hiện ra nó (mặc dù trước đó nó vẫn tồn tại khách quan) khi kỹ năng có
thêm một "chỗ ở" thứ 2 là trong đầu óc của con người. Để tiện lưư trữ cho các thế
- Tạo ra cho mình những kỹ năng cơ bản qua quá trình hình “chế biến”
những lý thuyết được cung cấp.
- Rèn luyện để hình thành những kỹ năng riêng cho bản thân qua các
“nguyên liệu” cung cấp.
1.3 Khái niệm về thao tác
Trong cuốn Từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê (chủ biên) thì thao tác được
định nghĩa như sau: "thực hiện những động tác nhất định để làm một việc gì đó
trong sản xuất".
Trong tâm lý học, thao tác được xem như là một hệ thống những hành động
trong tư duy. Thao tác chính là cốt lõi của các cách thức hành động bị quy định và
phụ thuộc chặt chẽ bởi điều kiện, phương tiện cụ thể.
Thao tác là một yếu tố không thể thiếu trong hoạt động của con người. Nó
nảy sinh từ nhu cầu hoạt động của con người. Nhu cầu ấy chi phối tới việc xác định
18